root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,307
Reaction score
187
Points
9,999
Chương 10 - Bà mẹ
Một sáng tháng năm, trong lúc mặt trời lên cao trên bầu trời xanh, thì bà ẩn cư ở Tour-Roland nghe thấy tiếng bánh xe, tiếng ngựa, tiếng sắt thép ở quảng trường Grève. Bà buộc tóc trùm tai để khỏi phải nghe. Bà ngắm nhìn cái vật mà bà tôn thờ từ mười lăm năm nay, chiếc giày nhỏ này là cả vũ trụ của bà.

Sáng đó, hình như nỗi đau dội lên hơn thường lệ. Từ bên ngoài, người ta nghe bà than thở, tiếng to, đều đều, rất não lòng:

- ôi, con gái của ta! Con gái của ta! Đứa con tội nghiệp của mẹ! Mẹ sẽ không được trông thấy con nữa sao? Thế là hết sao? Với mẹ, sự việc cứ như mới xảy ra hôm qua. Trời ơi! ông đã lấy con tôi đi quá nhanh. Thà ông đừng cho nó cho tôi. Đầu gối tôi sầy ra sau mười lăm năm cầu nguyện. Như thế chưa đủ sao? Hãy trả nó cho tôi một ngày, một giờ, một phút. Lạy Chúa!

Tôi muốn con tôi. A! Mười lăm năm. Bây giờ chắc nó lớn lắm rồi.

Giữa lúc đó, những tiếng trẻ con tươi mát, trong trẻo, vui vẻ, bay qua cửa sổ xà lim. Mỗi khi trông thấy hay nghe thấy trẻ con là người mẹ tội nghiệp vội chạy lẫn vào góc tối nhất của cái nhà mồ của bà. Có thể nói bà rúc đầu vào đá để khỏi phải nghe tiếng chúng. Lần này, trái lại, bà đứng lên, háo hức nghe. Một đứa trẻ vừa nói:

- Hôm nay người ta sắp treo cổ một cô gái Ai Cập.

Bà chạy lại cửa sổ nhỏ. Nhóm trẻ cười cợt đã đi xa. Bà ẩn cư đưa mắt tìm một người đi ngang để hỏi. Bà nhìn tứ phía. Một linh mục đi đến. Thỉnh thoảng ông nhìn về phía giá treo cổ.

Cái nhìn dữ tợn, u uất. Bà nhận ra phó giám mục.

- Trình cha, người ta sắp treo cổ ai đấy?

- Ta không biết.




- Lũ trẻ vừa nói đó là một cô gái Ai Cập.

- Tôi nghĩ là phải.

Tức thì bà già phá lên cười..Phó giám mục nói:

- Bà chị ơi, bà căm thù những người đàn bà Ai Cập lắm sao?

- Vâng, tôi căm thù chúng. Chúng là những kẻ ăn cắp trẻ con, chúng đã đánh cắp bé gái của tôi, đứa con duy nhất của tôi.

Linh mục nhìn bà. Trông bà đến sợ.

Bà nói tiếp:

- Có một đứa tôi đặc biệt căm thù. Tôi nguyền rủa nó. Nó là một đứa con gái bằng tuổi con tôi bây giờ.

- Này bà chị, chính nó là đứa con gái bà sắp được thấy bị chết đấy.

Đầu linh mục cúi gục xuống ngực. ông chậm chạp đi xa.

Bà ẩn cư vặn tay, vui mừng Tuy nhiên, Phoebus không chết. Những người như ông sống dai. Khi ông luật sư của nhà vua nói với Esmeralda: "ạng ấy sắp chết", thì hoặc là vì nhầm lẫn, hoặc vì muốn đùa.

Không phải vì vết thương của Phoebus không nặng.

Linh mục đã mang Phoebus đến nhà một thầy thuốc. Suốt tám ngày ông này đã lo sợ cho tính mạng của y. Thế nhưng sức trẻ đã thắng.

Chuyện thường hay xảy ra: tạo hóa thường thích ngang nhiên cứu mạng người bệnh ngay trước mũi thầy thuốc. Còn đang phải nằm bẹp đó, anh ta đã phải chịu những cuộc thẩm vấn đầu tiên.

Điều đó làm cho anh ta rất phiền. Một buổi sáng, thấy mình đã khá hơn, anh liền để lại những chiếc cựa thúc ngựa bằng vàng của mình để trả công cho thầy thuốc và chuồn luôn. Công lý chẳng quan tâm đến anh. Các quan tòa đã có khá đủ bằng chứng để kết tội Esmeralda, tin rằng Phoebus đã chết và tất cả đều đã được khai rồi.

Phoebus không trốn đâu xa. Hắn tìm lại đơn vị của mình đang đồn trú tại Queue-en-Brie trong Ile-de-France, ngay gần Paris.

Hắn chẳng thích ra mắt trong vụ này. Hắn có cảm giác mơ hồ hắn là một nhân vật lố bịch.

Mặt khác, hắn hy vọng câu chuyện không bị tiết lộ. Queue-en-Brie xưa là nơi lưu trú rất vô vị, một cái làng của những người thợ bịt móng ngựa, những người vắt sữa bò, tay nứt nẻ. Một dãy nhà lụp xụp và những nhà gianh bám hai bên đường.cái. Phoebus nhanh chóng chán ngấy và mò về Paris. Hắn định bụng sẽ đến thăm một cô gái sống gần nhà thờ Đức Bà, một cuộc viếng thăm ong bướm.

Thoạt đầu, gã không để ý đến đám đông đang xúm xít trước cổng nhà thờ. Nhưng rồi tiếng ồn ào làm cho óc tò mò của hắn bị kích thích. Gã hỏi:

- Tiếng ồn ào này là gì thế?

- Tôi không biết. - Ai đó trả lời. - Hình như một mụ phù thủy sắp phải đền tội trước nhà thờ.

Viên đại úy tưởng vụ Esmeralda đã kết thúc nên không xúc động lắm.

Quảng trường trước nhà thờ lúc đó có vẻ gì thảm đạm kỳ lạ. Một đám rất đông kéo đến từ các phố lân cận, đứng chật quảng trường. Sân trước nhà thờ để trống, một hàng rào dày đặc cảnh binh và lính đứng giữ trật tự. Lối vào thì do lính cầm kích mang quân hiệu của giám mục canh gác. Nhưng cửa lớn của nhà thờ thì đóng kín.

Giữa lúc đó, đồng hồ nhà thờ điểm mười hai tiếng. Tiếng xôn xao mãn ý lan trong đám đông.

Tiếng đồng hồ thứ mười hai vừa dứt thì tiếng hoan hô vang dậy trên sân quảng trường, trên các cửa sổ, trên các mái nhà.

- Cô ta kia!

Một chiếc xe bò có kỵ binh vây kín, tiến vào quảng trường. Đội tuần phòng mở một lối đi.

Cạnh xe bò, cưỡi ngựa đi kèm là một số chức sắc của tòa án. Sĩ quan quân cảnh dễ nhận ra nhờ trang phục đen của họ. Jacques Charmolue đi đầu.

Trên chiếc xe định mệnh, người con gái ngồi, tay bị trói quặt ra sau lưng. Cô mặc sơ-mi. Mớ tóc dài lòa xòa trên vai.

- Giê xu! - Một cô gái nói với Phoebus. -Đ úng là cô gái bô-hê-miêng xấu xa có con dê.

Viên đại úy dán mắt vào chiếc xe bò. Gã tái mặt.

Nhưng đoàn người ngựa buồn thảm đã đi qua quảng trường giữa tiếng reo hò. Chiếc xe bò đến sân trước nhà thờ. Nó dừng lại trước cổng giữa. Đoàn hộ tống dãn ra hai bên. Đám đông im lặng. Giữa sự im lặng trang trọng đó, hai cánh cửa lớn quay trên gông ken két. Một điệu hát trầm, vang, đều đều, bay ra từ nhà thờ. Đó là bài thánh ca dành cho người chết. Cái nhìn và ý.nghĩ của Esmeralda dường như mất hút trong nhà thờ. Môi cô mấp máy như đang cầu nguyện.

Khi tên phụ việc cho đao phủ lại gần Esmeralda giúp cô xuống xe bò, hắn nghe thấy cô lẩm bẩm khe khẽ: Phoebus.

Người ta cởi trói tay cho cô, đưa cô xuống xe cùng với con dê đang be be lên vui vẻ vì cảm thấy được tự do. Cô đi chân đất trên quảng trường. Sợi dây trên cổ kéo lê sau lưng.

Tiếng hát trong nhà thờ ngừng. Một chiếc thập tự vàng và một dãy nến lay động trong bóng tối. Lát sau, xuất hiện một đoàn dài linh mục và trợ tế trịnh trọng tiến về phía người chịu tội.

- ồ, lại là hắn. - Cô gái nhìn người đi đầu nói khẽ.

Thật vậy, đó là phó giám mục. ông tiến lên, đầu ngoặt về phía sau, mắt nhìn thẳng, mở trừng trừng, hát kinh giọng khỏe nhưng trông ông xanh xao.

Esmeralda tái xanh không kém, khi cô thấy người ta đặt vào tay cô một cây nến nặng, màu vàng đã thắp.

Một mình Dom Claude lại gần. ông kêu lên bằng một giọng u uất cái công thức đáng sợ kết thúc những buổi lễ buồn thảm kiểu này. Đó là hiệu lệnh quy ước cho tên đồ tể. Dân chúng quỳ xuống.

Phó giám mục quay lưng lại người chịu tội, đầu gục xuống ngực, tay khoanh lại. ông nối tiếp đoàn tùy tòng.

Cô gái bị kết tội đứng lặng chờ người ta quyết định đời cô. Cô gái khốn khổ lúc trèo lên chiếc xe bò định mệnh đưa cô đến chốn cuối cùng, có lẽ đã tiếc đời đến đứt ruột. Cô ngước đôi mắt đỏ sọc lên nhìn trời, nhìn đất, nhìn đám đông, nhìn những ngôi nhà... Thình lình cô thét lên một tiếng ghê rợn. Trong lúc tên phụ việc của đao phủ túm chặt khuỷu tay cô, thì xa kia, ở một góc quảng trường, cô thoáng thấy người ấy, hắn, bạn cô, hắn, vị chúa của cô: Phoebus!

Quan tòa đã nói dối. Đúng là hắn. Cô không thể nhầm được. Hắn đứng kia, sống sờ sờ trong bộ chế phục choáng lộn của hắn, lông mũ trên đầu, kiếm ngang lưng.

Cô gào lên:

- Phoebus! Phoebus! Cứu tôi!

Cô muốn vươn về phía hắn cánh tay run run của mình, nhưng cánh tay bị trói chặt..Một ý nghĩ chợt lóe lên. Cô nhớ là mình bị kết tội là đã giết Phoebus de Châteaupers.

Cho đến lúc này cô đã chịu đựng tất cả, nhưng đòn cuối cùng này quả phũ phàng. Cô ngã xuống mặt đường, bất tỉnh.

Charmolue hô:

- Lôi nó lên xe bò. Kết thúc đi!

Chưa ai để ý thấy, trong phòng tranh trưng bày tranh các vua, có một khán giả kỳ lạ. Hắn đã quan sát tất cả, trơ trơ ra đó. Người ta có thể nhầm y là một máng nước, không một cái gì lọt qua mắt y. Ngay từ lúc đầu, khi không ai chú ý, y đã buộc chặt một sợi chão lớn có thắt nút vào một cây cột của phòng tranh. Một đầu dây chão buông thõng xuống bậc thềm lên xuống bên dưới.

Làm xong, y lặng lẽ đứng nhìn, chợt những tên lính hầu sắp thi hành lệnh của Charmolue thì hắn nhảy qua lan can của phòng tranh, lao đến hai tên đao phủ, hạ gục chúng bằng hai quả đấm nặng trịch, nhấc bổng cô gái Ai Cập một tay như đứa trẻ nhấc con búp bê. Chỉ một cái nhún, y nhảy trở vào nhà thờ, nâng cô gái trên đầu, miệng hô lớn: "Asile!" (nơi trú ẩn bất khả xâm phạm - ND).

Đám đông hô theo:

- Asile, asile!

Hàng ngàn tiếng vỗ tay làm sáng lên con mắt độc nhất của Quasimodo, vui vẻ và kiêu hãnh.

Charmolue sững sờ. Quả vậy, trong phạm vi nhà thờ Đức Bà, nữ phạm nhân thành bất khả xâm phạm. Nhà thờ là nơi trú ẩn. Mọi luật pháp của con người đều mất hiệu lực trước ngưỡng cửa nhà thờ.

Quasimodo dừng lại dưới cổng lớn. Y túm chặt cô gái bằng bàn tay đầy chai, rất thận trọng như sợ cô bị gẫy.

Phía dưới, quần chúng nhảy lên, hào hứng.

Sau mấy phút chiến thắng, Quasimodo vào sâu trong nhà thờ.

- Hoan hô! Hoan hô! Hoan hô! - Dân chúng gào lên. Tiếng hoan hô dậy đất ấy khiến bà già ẩn cư sửng sốt. Bà vẫn đợi chờ, mắt đăm đăm nhìn cái giá treo cổ..
 

root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,307
Reaction score
187
Points
9,999
Chương 11 - Gã dị dạng
Thời trung cổ cho đến thời Lu-i XII, tất cả các thành phố ở nước Pháp, đều có nơi trú ẩn của mình. Nơi đó tuồng như những đảo nhỏ.

Mọi tội nhân đã vào đó là được cứu thoát.

Đặt chân vào nơi trú ẩn, tội nhân trở thành thiêng liêng, nhưng hắn không được ra ngoài. Chỉ một bước chân ra khỏi hầm mộ là hắn lại rơi vào sóng dữ. Bánh xe, giá treo cổ, cột bêu người, canh gác cẩn mật xung quanh nơi trú ẩn, rình rập không ngừng con mồi của nó. Như thế nơi trú ẩn cũng là một nhà tù như các nhà tù khác.

Thông thường nhà thờ nào cũng có một gian nhỏ để đón tiếp những kẻ cầu lụy. Tại nhà thờ Đức Bà nó là một cái hầm bên sườn trái nhà dưới vòm chống. Nơi đó, sau cuộc chạy đua thắng lợi, Quasimodo đã đặt Esmeralda vào đấy.

Trong đó có một chai rượu, bánh mì và vài thứ thực phẩm.

Y đặt cái giỏ xuống đất, nói:

- †n đi.

Đó là suất ăn của y, cái giường của y.

Y trải cái nệm trên nền gạch và nói:

- Ngủ đi.




Cô gái Ai Cập ngước mắt nhìn hắn để cảm ơn nhưng không thốt ra được lời nào. Con quỷ tội nghiệp quả là ghê sợ. Cô cúi đầu, run rẩy sợ hãi.

Y nói:

- Tôi làm cô sợ. Tôi xấu quá, phải không?

Đừng nhìn tôi, chỉ nghe tôi nói thôi. Ban ngày cô ở nguyên đây. Ban đêm cô có thể đi dạo khắp nhà thờ, nhưng không được ra khỏi nhà thờ, ngày hay đêm cũng vậy. Nếu không, cô sẽ đi đứt.

Cô ngẩng đầu lên để trả lời nhưng y đã biến mất. Cô chỉ còn lại một mình, mơ màng về những lời kỳ lạ của con người gần như quỷ ấy. Cô ngắm nhìn xà lim của mình. Đó là một buồng nhỏ có cửa sổ tò vò. Cạnh mái, cô thấy trên cao hàng nghìn ống khói lò sưởi đang tỏa khói. Thật là.một cảnh tượng thật buồn đối với cô gái Ai Cập tội nghiệp, đứa con bị bỏ rơi, bị kết tội tử hình, tạo vật bất hạnh, không Tổ quốc, không gia đình, không tổ ấm.

Khi cô đang nghĩ đến cảnh cô đơn của mình, ý nghĩ day dứt hơn bao giờ hết, thì cô thấy một cái đầu lông lá, râu ria tuồn vào tay cô, đầu gối cô. Đó là con dê Djali tội nghiệp của cô. Nó cũng thoát chết, đang âu yếm liếm chân cô. Cô gái hôn nó.

- ôi! Djali, thế mà ta quên mi! Mi vẫn luôn nghĩ đến ta. Mi không hề bất nghĩa, đúng không Djali?

Như có một bàn tay vô hình cất đi hòn đá nặng bóp nghẹt trái tim cô từ lâu, cô khóc tầm tã. Nước mắt tuôn trào, cô cảm thấy niềm đau cũng vợi theo.

Tối đến, cô thấy trời đêm rất đẹp, ánh trăng rất dịu. Cô dạo quanh phòng tranh, dạo quanh nhà thờ. Cô cảm thấy được một chút thư giãn vì nhìn từ trên cao, mặt đất thật yên tĩnh.

Hôm sau tỉnh dậy, cô thấy mình đêm qua đã ngủ ngon. Cái sự lạ ấy làm cô ngạc nhiên. Từ lâu lắm rồi, cô mất thói quen ngủ nghê. Một tia nắng mặt trời tươi vui lọt qua cửa sổ tò vò rọi vào mặt cô. Cô thấy một cái gì làm cô khiếp sợ:

Khuôn mặt khốn khổ của Quasimodo.

Không định bụng mà cô nhắm mắt lại, nhưng vô ích. Cô tưởng như vẫn nhìn thấy cái mặt dị dạng ấy. Vẫn nhắm mắt, cô nghe thấy tiếng nói rất dịu dàng của một giọng cục cằn:

- Đừng sợ. Tôi là bạn cô. Tôi đến xem cô ngủ. Nhìn cô ngủ, điều đó chẳng có gì là không tốt với cô, phải không? Tôi đứng đây, khi cô nhắm mắt ngủ thì có sao không? Có hại gì cho cô không? Bây giờ tôi đi đây. Tôi đứng phía sau tường. Cô có thể mở mắt ra.

Có cái gì đó hơn là ai oán trong những lời ấy. Đó chính là cái giọng cô từng thốt ra. Cô gái Ai Cập cảm động mở mắt. Phía cửa sổ tò vò y không còn đấy. Cô bước tới cửa sổ, trông thấy gã gù tội nghiệp nép vào góc tường, dáng bộ đau khổ, cam chịu. Cô cố gắng vượt lên cái ghê tởm của mình, nói dịu dàng:

- Lại đây, anh.

Trông thấy môi cô mấp máy, Quasimodo tưởng cô đuổi hắn, y rút lui, chậm chạp, đầu cúi.gằm, không dám ngước lên cô gái cái nhìn tuyệt vọng của y.

Cô kêu lên:

- Lại đây nào.

Nhưng hắn tiếp tục lánh xa. Cô lao ra khỏi xà lim, chạy theo, nắm lấy cánh tay y. Y ngước mắt lên vẻ van vỉ. Thấy cô gái kéo hắn đến gần, mặt hắn rạng lên vui mừng. Cô muốn hắn vào trong xà lim, nhưng hắn cố tình đứng ngoài ngưỡng cửa.

- Không, không. - Hắn nói.

Cô ngồi xuống duyên dáng trên cái nệm, con dê nằm bên chân. Càng lúc, cô nhận ra thêm những dị dạng của Quasimodo. Mắt cô lướt nhìn từ cái đầu gối khoèo đến cái lưng gù, từ cái lưng gù đến con mắt chột. Tuy nhiên có một chút gì buồn bã và dịu dàng tỏa trên những cái đó làm cô bắt đầu quen dần.

Hắn phá vỡ im lặng.

- Cô bảo tôi quay lại à?

Cô gật đầu, nói:

- Phải.

Hắn hiểu cái gật đầu ấy.

- Chao ôi! - Hắn ngập ngừng... - Chả là tôi bị điếc.

- Con người tội nghiệp! - Cô gái kêu lên với lòng thương cảm nhân từ.

Hắn mỉm cười, đau khổ:

- Cô thấy chỉ còn thiếu cái đó phải không?

Vâng, tôi bị điếc. Tôi sinh ra đã như thế. Kinh khủng, phải không?

Trong giọng nói của con người khốn khổ có một cảm thức sâu xa về nỗi bất hạnh của mình khiến cô gái cảm động không thể nói nên lời.

Hắn cười nói tiếp, cái cười còn nát lòng hơn:

- Vâng, tôi bị điếc. Nhưng cô có thể nói chuyện với tôi bằng điệu bộ. Tôi có một ông thầy cũng nói chuyện với tôi bằng cách ấy. Tôi có thể nhanh chóng hiểu ý cô, theo cử động của môi cô, theo cái nhìn của cô.

Cô gái mỉm cười:

- Này, hãy nói xem: vì sao anh cứu tôi?

Hắn chăm chú nhìn cô khi cô nói:

- Tôi hiểu. Cô hỏi vì sao tôi cứu cô. Cô quên một kẻ khốn nạn cô đã cứu trên cột bêu người à? Một giọt nước, một chút lòng thương, đó là những cái tôi trả giá bằng mạng sống của mình. Cô thì quên kẻ khốn nạn đó, còn hắn thì hắn nhớ..Nghe hắn nói cô gái mủi lòng sâu sắc.

Một giọt nước mắt lăn dài trên đôi mắt của gã kéo chuông.

- Xin cô hãy nghe đây. Dưới kia là những tháp rất cao. Một người rơi xuống sẽ chết ngay, trước khi chạm đất. Khi nào cô muốn rơi xuống, cô không cần nói, chỉ một ánh mắt là đủ.

Hắn đứng lên. Cô ra hiệu cho hắn ở lại.

- Không, không. - Hắn nói. - Tôi không được ở lại lâu. Tôi không được thoải mái khi cô nhìn tôi. Nếu thương tôi thì cô không nhìn đi.

Tôi đi đâu đó để có thể nhìn cô mà cô không trông thấy tôi. Như thế tốt hơn.

Hắn rút trong túi ra một cái còi nhỏ bằng kim khí:

- Cô cầm lấy, khi nào cần đến tôi, khi cô muốn tôi đến, khi nào cô không thấy quá ghê tởm khi phải nhìn thấy tôi thì cô thổi cái còi này, tôi sẽ nghe tiếng.

Hắn đặt cái còi xuống nền nhà và lủi mất.

Ngày theo ngày, tâm hồn Esmeralda dần dần bình tĩnh lại. Cô đã bật ra ngoài xã hội, ra ngoài cuộc đời. Cô mơ hồ cảm thấy rằng cô không thể trở lại nữa.

Cô cảm thấy những hình ảnh ghê gớm từ lâu ức chế cô cứ xa dần. Cô chờ đợi. Cô hy vọng.

Phoebus còn sống, sự sống của Phoebus là tất cả.

Nói thêm rằng ngôi nhà thờ rộng lớn đang bao bọc cô từ mọi phía, đang canh giữ cô, đã cứu cô là một liều thuốc an thần đặc biệt.

Đôi khi cô gái Ai Cập nghĩ đến Quasi-modo.

Đó là mối dây liên hệ duy nhất giữa cô với con người, con người sống. Cô gái khốn khổ, cô còn xa cách thế giới hơn cả Quasi-modo.

Cô chẳng hiểu gì về người bạn lạ lùng mà sự tình cờ đã đưa đến cho cô. Điều đó không ngăn Quasimodo thỉnh thoảng lại xuất hiện như trong những ngày đầu. Cô cố không quay đi dù quá ghê tởm mỗi khi hắn mang đến cho cô làn thức ăn hay hũ nước. Một bận hắn đến bất ngờ khi cô đang vuốt ve con Djali.

Hắn đứng yên một lát, nghĩ ngợi trước cái sinh vật dễ thương này. Cuối cùng hắn nói, từ cái đầu nặng nề và dị dạng:

- Nỗi bất hạnh của tôi là tôi quá giống con người. Tôi chỉ muốn mình hoàn toàn là một con vật, như con dê này. Lần khác hắn xuất hiện trước cửa xà lim khi Esmeralda đang hát một bài hát cổ Tây Ban Nha.

Trông thấy bộ mặt xấu xí hiện ra bất ngờ giữa điệu hát, cô gái ngừng bặt với một cử chỉ sợ hãi vô thức. Gã kéo chuông khốn khổ quỳ gối trước ngưỡng cửa, chắp tay nói đau đớn:

- ôi, tôi khẩn cầu cô. Xin cô cứ hát tiếp.

Xin đừng xua đuổi tôi.

Lần khác hắn đến vẻ vụng về, nhút nhát:

- Xin cô nghe tôi. Tôi có điều muốn nói với cô.

Cô làm hiệu: tôi nghe đây. Hắn thở dài, mở miệng như sắp nói rồi nhìn cô lắc đầu và chầm chậm rút lui, để lại cô gái Ai Cập ngạc nhiên.

Một hôm, Esmeralda lần ra tận mép mái nhà, nhìn xuống quảng trường phía dưới, Quasimodo đến đứng sau cô. Hắn đứng sao cố để cô gái khỏi khó chịu vì trông thấy hắn. Chợt cô gái bô-hê-miêng giật mình. Cô quỳ xuống mép mái nhà, sờ tay về phía quảng trường, kêu lên:

- Phoebus! Đến đây! Đến đây! Anh có thể cứu tôi. Phoebus! Phoebus!

Phoebus vào một nhà. Anh ở xa quá. Cô vẫn quỳ, kêu lên với một sự xúc động khác thường:

- Phoebus! Phoebus! Anh ấy không nghe thấy mình!...

Gã điếc nhìn cô. Gã hiểu màn kịch câm kia.

Mắt hắn đầy nước mắt nhưng không một giọt nào chảy ra. Bỗng hắn nhẹ nhàng kéo tay áo cô.

Cô quay lại. Hắn lấy lại bình tĩnh, nói:

- Cô có muốn tôi đi tìm ông ta không?

Cô gái kêu lên, vui mừng:

- ôi! Đi đi! Chạy đi! Nhanh lên! Đưa người đại úy này lại cho tôi. ông ta sẽ cứu tôi.

- Tôi sẽ dẫn ông ấy lại cho cô. - Hắn nói, giọng yếu ớt.

Rồi hắn quay đầu, chạy vội xuống cầu thang, ngạt thở vì khóc nức nở.

Phoebus đã vào một nhà. Quasimodo phải đợi lâu.

Cuối cùng cửa mở ra. Phoebus đi ra, cuộn mình trong chiếc áo choàng đêm. Gã kéo chuông để anh ta vượt một góc phố rồi chạy theo, nhanh nhẹn như một con khỉ, gọi:

- ‰, đại úy!

Đại úy dừng lại. Hắn nói:

- Anh chàng này muốn gì?.Quasimodo lại gần hắn:

- Đại úy, mời ông theo tôi. Có một người muốn nói chuyện với ông.

- Đây là một con chim xù lông, hình như mình đã trông thấy ở đâu đó. - Phoebus lầu bầu.

- Đại úy, mời ông theo tôi. Đi đi, thưa ngài...

Cô gái Ai Cập mà ngài đã biết...

Cái tên ấy gây ấn tượng mạnh đến Phoebus.

Ngày hành hình, hắn đã bước khỏi cửa sổ một lát, trước khi Quasimodo cứu cô gái. Không ai nói cho hắn biết cô gái Ai Cập còn sống và hắn cũng tránh nhắc đến cô gái này, cô gái đã để lại cho hắn một kỷ niệm nặng nề.

- Cô gái Ai Cập! - Hắn kêu lên sợ hãi. - ở đâu? Mi hiện lên từ thế giới bên kia à?

Hắn đặt tay lên chuôi gươm.

- Nhanh! Nhanh lên! Lối này.

Phoebus đánh một cú rất mạnh vào ngực gã điên và rảo bước đi. Chẳng bao lâu, hắn mất hút.

Quasimodo trở về nhà thờ, thắp đèn rồi lên tháp của hắn. Cô gái bô-hê-miêng vẫn ở nguyên chỗ cũ.

Từ xa cô đã thấy hắn, cô chạy lại:

- Một mình à? - Cô kêu lên, đau đớn.

- Tôi không tìm thấy ông ấy. - Quasimodo trả lời lạnh lùng.

- Phải đợi ông ta suốt đêm chứ! - Cô nói nóng nảy.

Gã thấy cử chỉ giận dữ của cô, hiểu ý trách mắng.

- Lần khác, tôi sẽ rình kỹ hơn. - Gã cúi đầu nói.

- Cút đi!

Gã lui ra xa. Cô không bằng lòng gã.

Từ ngày đó, cô gái Ai Cập không trông thấy hắn đâu. Gã không đến xà lim của cô nữa. Nhiều lắm, đôi khi cô thấy thấp thoáng trên đỉnh tháp bộ mặt buồn rầu của người kéo chuông, đăm đăm nhìn cô. Nhưng cứ hễ cô vừa thấy gã là gã biến mất.

Cô không thấy hắn nữa nhưng vẫn cảm thấy thần hộ vệ nhân lành của cô quanh mình. Thức ăn của cô được thay đổi do một bàn tay vô hình, trong lúc cô ngủ. Một buổi sáng, cô thấy trên cửa sổ một lồng chim. Trên xà lim của cô có một pho tượng làm cho cô sợ. Một lần cô đã nói thế trước mặt Quasimodo. Một sáng khác, cô không thấy pho tượng đâu nữa. (Tất cả những.việc này đều xảy ra ban đêm). Ai đã đập vỡ pho tượng? Người nào trèo lên tận đấy hẳn phải liều mạng sống của mình.

Đôi lần, về ban đêm, cô nghe tiếng ai hát dưới những tấm lá chắn gió của gác chuông, như để ru cô ngủ, tiếng hát buồn và lạ lùng. Đó là những câu thơ không vần. Chỉ có một người điếc mới có thể làm như vậy.

Một buổi sáng, thức dậy, cô thấy trên cửa sổ hai bình hoa nở tưng bừng. Suốt ngày cô ngồi vuốt ve con Djali và bóp vụn bánh mì cho chim én.

Rồi cô hoàn toàn không trông, không nghe thấy Quasimodo nữa. Gã kéo chuông tội nghiệp dường như biến khỏi nhà thờ - Một đêm, mất ngủ, cô nghe tiếng thở dài bên cạnh xà lim của mình.

Sợ hãi cô vùng dậy. Dưới ánh trăng cô trông thấy một đống không ra hình thù nằm ngay cửa phòng cô. Đó là Quasimodo, ngủ trên đá, như để canh gác cho cô.
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
71,918
Reaction score
474
Points
278
Chương 12 - Gringoire có những ý tưởng tốt
Từ khi Pierre Gringoire thấy vụ việc đã xoay ra như thế nào, nhất định sẽ có dây thừng treo cổ, và
những khó chịu khác cho những nhân vật chính của vở kịch này, thì anh cố ý xen vào.
Một ngày, khi dừng bước gần Saint-Germain-l’Auxerrois, anh cảm thấy có một bàn tay nặng chịch
đặt trên vai mình. Anh quay lại. Đó là người bạn cũ, người thầy cũ, ông phó giám mục.
Anh sửng sốt. Từ lâu rồi, anh không gặp ông.
Dom Claude im lặng một lát rồi bình thản nói:
  • Sức khỏe anh thế nào, thầy Pierre?
  • Sức khỏe của tôi ư? ồ, ồ, nói chung là tốt.
  • Gringoire trả lời.
  • Anh không có điều gì lo ngại ư? - Phó giám mục nhìn thẳng vào anh, nói tiếp.
  • Thưa không.
  • Anh không muốn gì à?.- Không ạ.
  • Anh không nuối tiếc gì cả?
  • Không nuối tiếc, không ham muốn.
Im lặng một lát, linh mục tiếp lời:
  • Tuy nhiên, anh khá nghèo túng?
  • Nghèo túng thì đúng nhưng khổ sở thì không.
Giữa lúc đó có tiếng vó ngựa phía đầu phố.
Có một đơn vị cung thủ, thuộc quân phòng vệ nhà vua diễu qua, giáo dựng đứng, một viên sĩ quan
dẫn đầu. Đoàn người ngựa sáng loáng, vang rền trên đường phố.
  • Ngài nhìn viên sĩ quan có vẻ chăm chú thế?
  • Gringoire hỏi phó giám mục.
  • Tôi nghĩ rằng đã nhận ra ông ta.
  • Ngài gọi ông ấy là gì?
  • ông ta là Phoebus de Châteaupers thì phải.
  • Claude nói.
Rồi bất chợt ông nói thêm:
  • Pierre Gringoire, anh đã làm gì cô vũ nữ Ai Cập đó?
  • Cô Esmeralda? Ngài thay đổi chủ đề câu chuyện đột ngột quá.
  • Cô ấy có phải là vợ anh không?
  • Vâng. Chúng tôi là vợ chồng được bốn năm... Trời ơi! Con dê nhỏ mới xinh làm sao!
  • Phải chăng cô gái bô-hê-miêng này đã cứu mạng anh?
  • Thưa, chính phải.
  • Này! Cô ấy ra sao rồi? Anh đã làm gì cô ấy?
  • Tôi không nói ngài rõ đâu. Tôi nghĩ họ đã treo cổ cô ấy.
  • Anh nghĩ thế à?
  • Tôi không dám chắc lắm. Khi tôi thấy họ muốn treo cổ người thì tôi rút lui.
  • Đó là tất cả những gì anh biết?
  • Khoan đã. Người ta nói cô ta đang ẩn náu trong nhà thờ Đức Bà. ở đó, cô ấy được an toàn.
Tôi rất mừng. Tôi không thể tìm ra con dê đã chạy trốn cùng cô. Tôi chỉ biết có thế.
- Tôi sẽ cho anh biết thêm. - Dom Claude nói. - Đáng lẽ cô ấy đang ẩn náu trong nhà thờ Đức Bà.
Nhưng trong ba ngày nữa pháp luật sẽ bắt lại cô ta và cô ấy sẽ bị treo cổ.
- Đáng giận thật! - Gringoire nói. - Kẻ nào đã tố giác cô ấy? Người ta không để cho cô ấy.yên được
sao? Một cô gái tội nghiệp náu mình dưới vòm nhà thờ Đức Bà, bên cạnh những tổ én thì có hại gì?
Phó giám mục lại im lặng.
  • Tóm lại, cô ấy đã cứu mạng anh?
  • Tại chỗ những bạn tôi, những người ăn mày, chỉ suýt nữa thì tôi đã bị treo cổ.
  • Anh không muốn làm gì để giúp cô ấy à?
  • Tôi không mong gì hơn, Dom Claude ạ.
Nhưng tôi sợ tai vạ vì cái vụ xấu xa này.
  • Thì đã hề gì?
  • A! Đã hề gì à? Ngài tốt quá, thưa thầy.
  • Làm thế nào cứu được cô? - Claude nói, mơ màng.
Gringoire vỗ trán:
- Thưa thầy, thầy hãy nghe tôi. Tôi có óc tưởng tượng. Tôi sẽ tìm ra cách xoay xở. Nếu chúng ta xin
nhà vua ân xá thì sao nhỉ?
  • Xin vua Louis XV ân xá ấy à?
  • Tại sao không?
  • Anh Pierre này, tôi đã nghĩ đến việc ấy rồi.
Chỉ có một cách cứu nàng.
  • Cách nào ạ? Tôi, tôi không nghĩ được cách nào hơn cả.
  • Nghe đây Pierre. Anh có nhớ là anh nợ cô ấy mạng sống của mình không? Tôi sẽ nói thẳng ý nghĩ
của mình. Nhà thờ bị canh gác suốt ngày đêm. Người ta chỉ cho đi ra, những người người ta thấy đi
vào thôi. Anh có thể đi vào. Anh vào đấy. Tôi sẽ dẫn anh đến chỗ cô ấy ẩn náu. Anh đổi quần áo cho
cô ấy. Cô ấy sẽ mặc áo của anh.
Anh sẽ mặc váy của cô ấy.
  • Đến đây thì tốt rồi. - Gringoire nhận xét.
  • Còn sau thì sao?
  • Sau à? Cô ấy sẽ mặc quần áo của anh đi ra. Anh sẽ ở lại, mặc y phục của cô ấy. Có thể họ sẽ tóm
anh, nhưng cô ấy sẽ được cứu thoát.
Gringoire gãi tai, vẻ nghiêm trang.
- Này! Đây là một ý kiến mà mình tôi không tài nào nghĩ ra.
Trước đề nghị bất ngờ của Dom Claude, mặt nhà thơ tối sầm lại.
  • Này Gringoire! Anh nghĩ sao về cách ấy?
  • Thưa thầy, họ sẽ treo cổ tôi, chứ họ không bắt tôi đâu..- Cô ấy đã cứu mạng anh. Đó là một món nợ
anh phải trả.
  • Còn rất nhiều món nợ tôi không trả.
  • Pierre, nhất thiết phải trả.
Nhà thơ rụng rời, trả lời:
- Thầy Dom Claude, thầy nhất định nghĩ như thế ư? Thầy nhầm rồi. Tôi không hiểu vì lẽ gì tôi lại để
bị treo cổ thay người khác. Nhưng tôi sẽ nghĩ kỹ về vấn đề này. ý kiến của thầy ngộ thật.
Anh trầm ngâm một lát rồi nói tiếp:
- Cuối cùng, biết đâu đấy, có thể họ không treo cổ tôi khi họ tóm được tôi trong cái xó kia, mặc váy,
khăn đội đầu một cách lố bịch, khó coi. Họ sẽ phá ra cười.
- Nhất trí không? - Dom Claude hỏi.
Gringoire có vẻ lưỡng lự.
Phó giám mục giơ tay cho anh bắt.
  • Vậy là cứ thế nhé. Mai anh đến chứ?
  • A, không. - Anh nói bằng giọng của người chợt tỉnh. - Bị treo cổ. Vô lý quá. Tôi không muốn.
  • Thế thì tạm biệt anh.
Phó giám mục nói thêm, giọng sin sít:
- Tôi sẽ tìm anh.
Gringoire nghĩ: mình không muốn con người này tìm mình. Rồi anh chạy theo Dom Claude.
- Này, là những người bạn với nhau, đừng giận nhau nhé. Ngài quan tâm đến cô gái ấy, tôi muốn nói
đến vợ tôi. Tốt lắm. Ngài đã tưởng tượng ra một mẹo đưa cô ấy ra khỏi nhà thờ.
Nhưng tôi không khoái kế hoạch ấy tẹo nào...
Nếu tôi có một kế khác, một kế hoạch nhanh gọn để cứu cô ấy mà không hại gì đến cái cổ của tôi.
Không có dây thòng lọng nào. Ngài nghĩ sao? Như thế có được không? Có nhất thiết tôi cứ phải bị
treo cổ thì ngài mới bằng lòng ư?
  • Cách của anh thế nào?
  • Vâng. - Gringoire nhủ thầm, sờ ngón tay trỏ vào mũi ra vẻ suy nghĩ. - Thế này này. Cánh ăn mày là
lũ can trường, cộng đồng Ai Cập quý mến cô ta. Chỉ cần một lời hiệu triệu là họ sẽ nổi dậy, không gì
dễ hơn. Trở tay một cái. Nhân lúc lộn xộn, người ta sẽ dễ dàng lôi cô ấy ra. Từ chiều mai... Họ sẽ
không muốn gì hơn.
Gringoire tươi roi rói:.- Đến đây, tôi có điều muốn nói nhỏ với ngài.
  • Anh đã tìm ra cách cứu cô ấy rồi à? -Claude hỏi.
  • Thế này.
Gringoire nói rất nhỏ vào tai phó giám mục, vừa nói anh vừa lo ngại nhìn từ đầu phố đến cuối phố,
tuy chẳng có ma nào.
Anh nói xong, Dom Claude cầm tay anh nói lạnh lùng:
  • Tốt. Mai nhé.
  • Ngày mai. - Gringoire lập lại.
Phó giám mục đi một đằng. Gringoire đi một nẻo.
Gringoire lẩm bẩm:
- Đây là một việc đáng tự hào, thưa ông Pierre Gringoire. Bất chấp! Không phải khi người ta là con
người hèn mọn thì người ta không làm được những việc lớn.
Trở về tu viện, phó giám mục thấy em mình, Jehan đang đợi trước cửa cái ổ của ông ở cối xay gió. Để
đỡ buồn, trong lúc chờ đợi, hắn lấy than vẽ lên tường, bóng của ông anh, mũi rất to.
Jehan rụt rè hỏi:
- Thưa anh, tôi đến thăm anh.
Phó giám mục không thèm nhìn hắn.
  • Rồi sao nữa?
  • Thưa anh, anh rất tốt với em. Anh vẫn cho em những lời khuyên bổ ích nên em luôn tìm đến anh.
  • Sao nữa?
  • Thưa anh, anh thấy đây là một kẻ có tội, một tên trọng phạm, một kẻ khốn nạn. Anh thân mến, em
đã bị trừng phạt xứng đáng. Chúa công bằng lạ lùng. Khi còn tiền, em đã sống ham vui.
  • Rồi sao?
  • Chao ôi! Anh rất thân mến, bây giờ em muốn sống có quy củ. Em đến với anh, rất hối hận. Em là
người sám hối. Em xin thú tội. Em đấm ngực thật mạnh. Anh rất có lý khi anh muốn rằng, một ngày
nào đó, em sẽ trở thành một cử nhân. Lúc này, hơn lúc nào hết, em thấy mình có cái thiên hướng huy
hoàng ấy. Nhưng em không còn mực. Em phải mua lại. Em cũng.không còn bút. Em phải mua lại.
Em rất cần tiền. Thưa anh, em đến anh để...
  • Hết chưa?
  • Hết rồi. Một ít tiền thôi ạ.
  • Tôi không có.
Gã giáo đồ nói một cách nghiêm trang và quả quyết:
- Thưa anh, em rất phiền lòng phải nói với anh rằng người ta đã đề nghị với em nhiều việc bổ ích.
Anh không cho em ư? Chẳng cần. Em sẽ đi ăn mày.
Phó giám mục nói lạnh lùng:
- Chú cứ đi với quỷ đi. Đây là tiền tôi cho chú.
Linh mục ném cho Jehan một túi tiền khiến trán hắn sưng lên. Jehan lỉnh đi, vừa giận, vừa hài lòng
như một con chó khi người ta ném cho những khúc xương có tủy
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
71,918
Reaction score
474
Points
278
Chương 13 - Niềm vui muôn năm
Độc giả chắc chưa quên triều đình của những kỳ quặc.
Một tối, sau lệnh tắt lửa, các cảnh binh của đội tuần phòng, nếu dám đi vào nơi ghê gớm
này, sẽ thấy nhiều tiếng ồn ào hơn thường lệ.
Người ta nốc rượu nhiều hơn, vặc nhau nhiều hơn. Nhiều nhóm người nói chuyện thậm
thụt như đang có âm mưu lớn.
Dù lộn xộn, đưa mắt người ta cũng có thể phân biệt được ba nhóm chính xung quanh ba
nhân vật.
Một người, ăn mặc kỳ lạ là Mathias Hungali Spicali, quận công Ai Cập và xứ Bohème.
Một đám ồn ào khác vây quanh ông bạn cũ của chúng ta: Clopin Trouillefou, dáng bộ rất
nghiêm trang, nói khẽ, đang xử lý vụ tranh cướp một cái thùng đầy vũ khí, mở toang
trước hắn:.rìu, kiếm, áo giáp sắt, mũi lao. Mỗi người lấy một mớ. Trẻ con cũng tự vũ
trang. Cả những tên què cụt cũng khoác áo giáp và cầm vũ khí.
Chúng bò qua chân những người uống rượu như những con cua lớn.
Nhóm thứ ba, ầm ĩ nhất, nhộn nhất, đông đảo nhất, ở giữa là một thanh niên lố bịch
khoác áo giáp nặng.
Hắn gào:
- Hoan hô! Hoan hô! Hôm nay là lần dụng võ đầu tiên của tôi. †n mày! Tôi là ăn mày! Các
bạn ơi, tên tôi là Jehan Frollo. Tôi là phong lưu mã thượng. Hỡi những người anh em,
chúng ta sẽ làm một cuộc ra quân tuyệt đẹp. Niềm vui muôn năm! Chúng ta là những
chàng dũng cảm.
Vây hãm nhà thờ, phá cửa, lôi cô gái ra, cứu cô ấy ra khỏi bàn tay các quan tòa. Chúng ta
sẽ làm những việc ấy nhanh hơn thời gian một thị trưởng chén một thìa súp. Sự nghiệp
của chúng ta là chính nghĩa, chúng ta sẽ cướp sạch nhà thờ Đức Bà. Thế là xong tất.
Chúng ta sẽ treo cổ Quasimodo. Các bạn biết Quasimodo chứ?
Các bạn đã trông thấy hắn bở hơi tai với chiếc chuông lớn vào ngày lễ Hạ trần chứ?
Đám đông cười rộ lên hoan hô.
- Cô gái Esmeralda tội nghiệp là chị em của chúng ta. Phải cứu cô ấy ra khỏi nhà thờ. -
Một người bô-hê-miêng nói.
  • Cô ấy còn ở trong nhà thờ Đức Bà không?
  • Một người khác nói.
  • Còn. Chính xác là như thế!
  • Nào, các bạn ơi! Đi giải thoát cô ta! -Người ta la lên từ tứ phía.
Clopin Trouillefou đã phân phát xong vũ khí. Hắn ra ngoài tiệm uống một lát, sau khi đã
gào lên như sấm: "Nửa đêm".
Nghe tiếng hô ấy, tất cả đám ăn mày, nam, nữ, trẻ con, nhào ra khỏi tiệm. Tiếng reo hò,
tiếng vũ khí, tiếng sắt thép va nhau ầm ĩ.
Cái sân của những kỳ quặc tối om, không một ánh lửa. Song nó không vắng vẻ. Một đám
đông đàn ông, đàn bà nói khe khẽ. Tiếng rì rào như đàn ong. Trong bóng tối lập lòe đủ
thứ vũ khí, Clopin trèo lên một hòn đá. Hắn hô:
- Vào hàng!
Rậm rịch trong bóng tối, đám đông vô tận xếp thành hàng. Mấy phút sau, Clopin lại cất
cao giọng:.- Đi qua Paris im lặng. Khẩu lệnh là: Ngọn lửa nhỏ trong cuộc chơi rong. Đến
nhà thờ Đức Bà mới được đốt đuốc. Tiến lên!
Mười phút sau, các kỵ binh của đội tuần tra bỏ trốn, thất kinh trước dòng người dài, đen,
im phắc, đổ về phía cầu Pont-au-Change qua các phố quanh co cắt tứ tung khu phường
lớn Qua-tier des Halles.
Cũng đêm ấy Quasimodo không ngủ. Hắn vừa đi tuần lần cuối quanh nhà thờ. Hắn
không để ý thấy phó giám mục đi qua, gần hắn, nhìn hắn cài then, khóa cửa lớn, với hàm
ý nào đó.
Dom Claude có vẻ đăm chiêu hơn thường lệ.
Ông luôn luôn hành hạ Quasimodo, nhưng mặc cho ông đối xử thô bạo, đôi khi đánh đập
nữa, không gì có thể lay chuyển được sự phục tùng, sự nhẫn nại, sự chịu đựng tận tụy của
gã kéo chuông trung thành. Gã chịu đựng tất cả những lời chửi bới, dọa dẫm, đòn roi từ
phía phó giám mục, không một lời ta thán, oán trách, than phiền. Cùng lắm là gã lo lắng
nhìn theo Dom Claude lên cầu thang tháp.
Đêm đó, sau khi đã đưa mắt nhìn những quả chuông tội nghiệp bị bỏ rơi, gã leo lên đỉnh
tháp phía Bắc, đặt đèn xuống, nhìn thành phố Paris.
Thời đó, có thể nói Paris không được thắp sáng.
Nó như là một đống lộn xộn những mảng tối sẫm bị ngắt đoạn từng chỗ bởi khúc quanh
trắng nhờ của dòng sông Seine.
Nhìn chân trời bồng bềnh sương mù và bóng tối bằng con mắt độc nhất, gã kéo chuông
cảm thấy một mối lo ngại khó tả. Từ nhiều ngày nay, gã cảnh giác đề phòng. Gã thấy
nhiều người, mặt mũi dữ dằn, rình mò quanh nhà thờ, cứ nhìn lên chỗ trú ẩn của cô gái
trẻ. Gã nghĩ có một âm mưu gì đó chống lại cô gái tội nghiệp. Hắn hình dung đến sự hằn
học của dân chúng đối với cô cũng như đối với gã. Rất có thể sẽ có điều gì đó xảy ra. Bởi
vậy hắn lên gác chuông canh gác cẩn mật như một con chó trung thành.
Thình lình khi nhìn sục sạo thành phố bằng con mắt sắc của mình, hắn thoáng thấy hình
như có cái gì là lạ phía cảng sông. Hắn tăng cường chú ý. Có một đám cử động có vẻ như
tiến về thành phố. Khi Quasimodo đã hết cách phỏng đoán thì hắn thấy đám cử động kia
hiện ra gần hắn hơn. Cuối cùng, mặc dầu đêm tối rất dày, hắn thấy đoàn người đổ về
trước nhà thờ Đức Bà, chỉ một loáng đã tỏa ra khắp quảng trường..Lập tức nỗi sợ hãi trở
lại, ý nghĩ về một cuộc âm mưu chống cô gái Ai Cập lại hiện ra trong tâm trí. Hắn mơ hồ
cảm thấy một tình thế bạo lực đang đến gần, tăng dần. Có cần đánh thức cô gái Ai Cập
dậy không, cho cô trốn chạy?
Bằng lối nào? Phố xá bị vây kín. Nhà thờ thì giáp lưng vào sông, không có tàu, không có
lối thoát. Chỉ có một giải pháp: bị giết trước cửa nhà thờ, chống cự cho đến khi có cứu
viện. Nếu phải đến nước ấy cũng không quấy giấc ngủ của Esmeralda. Cô gái tội nghiệp
sẽ thức dậy trước khi chết cũng không muộn. Sau khi đã quyết định như thế, Quasimodo
quan sát "kẻ thù" bình tĩnh hơn.
Đám đông mỗi lúc một đông hơn. Duy họ rất ít làm ầm ĩ. Các cửa sổ nhà trong phố và tại
quảng trường vẫn đóng kín.
Bất chợt, một luồng sáng bật lên. Trong chốc lát bảy tám ngọn đuốc bùng lên trên đầu
người. Quasimodo thấy rõ một đoàn người đáng sợ gồm đàn ông, đàn bà rách rưới, vũ
trang bằng hái, bằng giáo, dao quắm, mũi mâu - hàng nghìn mũi lấp lánh. Đó đây những
cái chĩa đen bằng chạc cây tạo nên những cặp sừng có mặt người ghê sợ.
Gã nhớ mơ hồ đám dân đen này, nhận ra những bộ mặt, vài tháng trước đây đã tung hô
gã là giáo hoàng của những thằng Điên. Quasimodo lượm cái đèn, xuống mái bằng giữa
những ngọn tháp, để nhìn gần hơn và suy tính cách bảo vệ.
Đến cổng nhà thờ, Trouillefou dàn quân. Dù không chờ đợi một cuộc chống cự nào, hắn
vẫn muốn phải thận trọng, giữ trật tự để có thể đương đầu với một cuộc tấn công bất ngờ
của đội tuần phòng.
Trong các thành phố thời Trung cổ, một cuộc tấn công như thế này không phải là hiếm, vì
cái mà chúng ta gọi là cảnh binh thời đó không có.
Những bố trí đầu tiên đã xong, chúng ta phải nói vì vinh dự của đạo quân hành khất, mọi
mệnh lệnh của Clopin đều được thi hành trong im lặng, với một sự chính xác đáng phục.
Clopin, tên cầm đầu xứng đáng, trèo lên lan can trước nhà thờ, cất cao giọng khàn khàn
và ngỗ ngược, tay vung cây đuốc:
- Người chị em của chúng ta bị kết án sai lầm là dùng ma thuật, đang ẩn nấp trong
nhà.thờ. Người ta phải dành cho chị chốn nương náu và sự an toàn, song nghị viện muốn
bắt lại chị và ngày mai tại quảng trường Grève, sẽ treo cổ chị, nếu Thượng đế và những
người hành khất án binh bất động. Chúng ta muốn cứu cô gái vô tội.
Chẳng may Quasimodo lại không nghe được những lời phát biểu bằng một giọng dõng
dạc, u uất và hoang dã ấy. Một gã ăn mày đưa cho Clopin một lá cờ. Hắn trịnh trọng cắm
cờ giữa hai nền đường.
Xong việc, hắn ngoái lại, đưa mắt nhìn đạo quân của hắn, đông đảo, hung hãn, mắt lóe
lên gần như những mũi giáo. Ngừng lại một lát, hắn hô:
- Tiến lên, các con! Vào việc đi!
Ba mươi người khỏe mạnh ra khỏi hàng, vai mang búa, kìm và những thanh sắt. Họ tiến
vào cửa chính nhà thờ, bước lên bậc thềm và ngồi xổm trước vòm cửa. Một đám đông ăn
mày khác theo sau để giúp hoặc chỉ để nhìn họ. Mười một bậc thềm của cửa nhà thờ ngổn
ngang những người.
Nhưng cái cửa vẫn đứng vững.
  • Ma quỷ! Nó rắn chắc và cứng đầu xiết bao!
  • Một người kêu lên.
  • Can đảm lên các bạn! - Clopin nói. - Tôi lấy đầu ra đánh cuộc lấy một chiếc giày vải rằng
các bạn sẽ mở được cửa trước khi một tên gác nhà thờ nào thức dậy. Kìa! Tôi nghĩ ổ khóa
đã long ra.
Một tiếng rầm khủng khiếp cắt ngang lời Clopin. Hắn nhìn lại. Một thanh dầm lớn vừa
rơi từ trên trời xuống, đè bẹp một tá ăn mày trên bậc thềm. Nó nảy tiếp xuống sân, tiếng
như tiếng đại bác, đánh gẫy chân những tên ăn mày đang dạt ra, hoảng loạn. Trong chớp
mắt, sân nhà thờ đã sạch bóng người. Bản thân Clopin cũng lui ra, cách nhà thờ một
quãng đáng kể.
- Tôi vừa thoát nạn. - Jehan kêu toáng. - Tôi cảm thấy tiếng gió bên tai.
Không thể nói hết được sự kinh ngạc pha sợ hãi mà thanh dầm đã gieo vào đầu lũ đạo tặc.
Chúng đứng lặng mấy phút, mắt ngước lên trời.
  • Đó là hơi hướng của ma thuật. - Một tên nói.
  • Đó là mặt trăng ném thanh củi này xuống chúng ta đấy. - Một tên khác nói..Nhưng
chẳng đứa nào cắt nghĩa được phiến gỗ từ đâu rơi xuống.
Sau phút bàng hoàng ban đầu, Clopin tìm được cách giải thích, nghe ra cũng xuôi tai
đồng bọn.
  • Phải chăng là bọn phụ tá linh mục chống cự lại? Phá sạch đi! Phá sạch đi! Phá sạch!
  • Phá sạch! - Lũ cuồng khấu, điên giận gào thét. Chúng bắn nỏ như mưa vào mặt tiền nhà
thờ.
Dân lành ở cạnh nhà thờ thức giấc. Các cửa sổ mở ra. Những mũ nồi đêm, những bàn tay
cầm nến hiện ra bên các cửa sổ.
Clopin hô:
- Bắn vào cửa sổ!
Lập tức các cửa sổ đóng sập lại. Các thị dân tội nghiệp vừa sợ hãi nhìn cảnh tượng, quay
vội vào với vợ, toát mồ hôi. Họ tự bảo:
không biết có cuộc khiêu vũ quay cuồng của ma quỷ trên sân nhà thờ hay cuộc tấn công
của bọn Bourguignon như năm 64.
- Phá sạch! - Lũ ăn mày lại rống lên, nhưng chúng không dám đến gần. Chúng chỉ nhìn
nhà thờ, nhìn súc gỗ. Súc gỗ không động đậy. Tòa nhà thờ vẫn giữ vẻ bình thản và hoang
vắng. Có một cái gì làm lạnh xương sống lũ ăn mày.
Trouillefou hô lớn:
- Vào việc đi. Phá cửa!
Không một ai nhúc nhích.
  • Bọn họ sợ một thanh dầm, Clopin ạ. - Một lão già nói.
  • Thủ lĩnh à, không phải chúng tôi sợ cái dầm mà là cái cửa chằng chịt những thanh sắt
làm phiền chúng tôi. Kìm chẳng ăn thua gì.
  • Vậy phải làm gì để phá tung nó ra?
  • Chúng tôi cần một súc gỗ phá cửa.
Trouillefou chạy đến thanh dầm, đặt chân lên:
- Đây là một cái. Bọn phụ tá linh mục đã gửi cho chúng ta đấy.
Hắn chào nhà thờ một cách ngộ nghĩnh.
- Cám ơn nhé, các phụ tá linh mục.
Hành động yêng hùng ấy lại có tác dụng tốt.
Lũ ăn mày lấy lại can đảm. Hai trăm cánh tay lực lưỡng nâng thanh dầm lên như một
chiếc lông. Chúng giận dữ ném vào cái cửa lớn mà chúng đã thử lay chuyển. Trong ánh
đuốc lờ mờ của những tên ăn mày rọi xuống sân, phiến gỗ dài được chúng vừa chạy vừa
lao vào cửa nhà thờ tưởng chừng như một con quái vật có nghìn chân, tấn công vào khối
đá khổng lồ.
Bị thanh dầm tông vào, cái cửa nửa bằng sắt kêu vang như một cái trống cực lớn. Toàn bộ
nhà thờ rung chuyển. Đúng lúc đó một trận mưa những hòn đá lớn từ trên cao trút xuống
bọn tấn công. Chúng càng đánh vào cửa điên cuồng hơn mặc cho những hòn đá đập vỡ sọ
nhiều đứa, bên phải và bên trái.
Người chết, kẻ bị thương đổ máu, thoi thóp dưới chân bọn tấn công. Giận sôi lên, chúng
càng tấn công không ngừng. Thanh dầm tông vào cửa đều đều. Độc giả có lẽ cũng đoán
được rằng cuộc kháng cự bất ngờ ấy là do Quasimodo.
Sự tình cờ đã phục vụ gã điếc dũng cảm.
Khi xuống đến mái bằng giữa các tháp, đầu óc lộn xộn, gã chạy dọc theo hành lang, đi đi,
lại lại như người điên. Từ trên cao gã trông thấy lũ ăn mày đông đặc, đâm bổ vào nhà thờ.
Gã nảy ra ý kiến trèo lên gác chuông rung chuông báo động. Nhưng chưa kịp kéo chuông
thì cái cửa cơ hồ sắp bị phá toang. Làm thế nào bây giờ?
Gã chợt nhớ ra ban ngày thợ đã đến sửa tường, sửa xà và mái nhà. Một ý nghĩ lóe lên.
Tường thì bằng đá, mái bằng chì, xà bằng gỗ.
Quasimodo chạy đến chiếc tháp. Trong phòng đầy vật liệu. Có hàng đống đá xây, hàng
đống cuộn chì, hàng bó mè, những chiếc xà cửa lở, hàng đống gạch vụn. Một kho vũ khí
hoàn chỉnh.
Thời gian gấp gáp. Phía dưới, những chiếc kìm, chiếc búa hối hả. ý thức về sự hiểm nguy
nhân lên gấp mười sức lực của gã. Gã nâng một chiếc xà nặng nhất, dài nhất, lùa qua cửa
sổ tò vò, lao xuống vực sâu. Từ trên cao sáu mươi bộ chiếc xà to tướng, va vào tường, làm
gẫy, vỡ các tượng, quay tròn mấy vòng như cánh cối xay gió, vút vào không trung rồi rơi
xuống đất.
Quasimodo trông thấy bọn ăn mày tán loạn, khi phiến gỗ rơi xuống. Lợi dụng lúc chúng
hoảng loạn, gã xếp đống gạch vụn, đá xây, cả túi đồ nghề của thợ xây trên thành lan can
chỗ gã vừa lao thanh dầm.
Bởi thế khi lũ ăn mày đang phá cửa thì một trận mưa đá xây trút xuống. Tuồng như là
ngôi nhà thờ tự vỡ trên đầu chúng..Quasimodo lúc đó cũng sợ. Gã cúi xuống, đứng lên,
cúi xuống lại đứng lên với một sự hối hả không thể ngờ. Cái đầu to dị dạng của hắn thò
qua lan can. Một hòn đá rơi xuống, một hòn nữa, lại một hòn nữa. Nhưng bọn ăn mày
không nản chí.
Đã hơn hai mươi lần cái cửa dày rung lên dưới sức nặng của thanh phá cửa bằng gỗ sồi,
được sức hàng trăm con người nhân lên. Những tấm gỗ cửa kêu răng rắc. Những hình
chạm trổ bay tứ tung. Cái cửa nảy lên trên khung cửa mỗi lần va chạm mạnh.
Trận mưa đá không đủ để đẩy lùi những kẻ tấn công.
Giữa phút hiểm nghèo ấy, Quasimodo nhận thấy phía dưới lan can có hai ống máng bằng
đá, xuôi dài xuống tận cửa lớn. Gã chạy đi tìm củi trong cái ổ tồi tàn của gã, xếp những bó
dui, mè và những cuộn chì trên bó củi - những vũ khí gã chưa sử dụng đến - đặt gọn giữa
hai lỗ ống máng và châm lửa đốt.
Trong khi ấy, đá không rơi xuống nữa. Bọn ăn mày cũng không nhìn lên cao nữa mà xúm
xít quanh chiếc cửa lớn đã dúm dó nhưng vẫn còn đứng đó. Chúng run rẩy đợi một cú va
đập lớn, cú va đập sẽ phá tung cửa.
Thình lình, giữa lúc chúng túm tụm lại để đánh cú cuối cùng, đứa nào đứa nấy nín thở,
căng bắp thịt dồn vào cú đánh quyết định thì một sự việc khủng khiếp, còn khủng khiếp
hơn thanh dầm, nổ ra. Những đứa chết không còn kêu nữa, những đứa còn sống lơ láo
nhìn. Hai dòng chì lỏng tuôn xuống từ trên nóc nhà thờ, còn đặc quánh hơn cả tiếng hò la.
Những tên sắp chết, nửa người bị cháy xém, giãy giụa, rống lên vì đau đớn. Xung quanh
hai dòng chì chính ấy còn vô vàn những giọt mưa chì khủng khiếp bay tứ tung trên đầu
bọn tấn công.
Tiếng kêu la xé ruột. Chúng chạy tán loạn, kẻ can trường nhất cũng như kẻ nhút nhát
nhất.
Lần thứ hai, sân nhà thờ lại vắng người.
Mọi con mắt đều hướng lên phía trên nhà thờ. Cái chúng trông thấy thật kỳ lạ. Trên đỉnh
tháp cao nhất, một ngọn lửa lớn bốc cao giữa hai gác chuông. Những tia lửa cuộn xoáy.
Một ngọn lửa lớn lộn xộn, giận dữ, gió cuốn lên từng mảng trong màn khói mù mịt. Phía
dưới ngọn lửa ấy, hai máng nước như hai miệng quỷ phun ra không ngừng trận mưa
bỏng dẫy..Một sự câm lặng kinh hoàng giữa đám ăn mày. Chỉ nghe tiếng kêu báo động
của những phụ tá linh mục bị nhốt trong tu viện.
Những tên ăn mày đầu sỏ rút vào dưới một cái cổng họp bàn. - Không thể vào được. -
Chúng nghiến răng nói.
  • Chúng mày có trông thấy con quỷ kia đi qua, đi lại trước ngọn lửa không? - Một tên nói.
  • Đúng là thằng kéo chuông, thằng Quasimodo.
  • Clopin nói. Hắn giậm chân. - Không có cách gì phá cửa à? Chúng ta phải cuốn cờ như
một lũ đầy tớ à? Chúng ta bỏ mặc người chị em chúng ta bị treo cổ ngày mai sao? Giáo đồ
Jehan đâu?
  • Thưa thủ lĩnh Clopin, hắn kia! - Một tên cướp nhìn ra phố.
  • Pluto thật đáng khen. Hắn kéo gì đằng sau thế nhỉ?
Đúng là Jehan. Hắn chạy bán sống bán chết trong điều kiện bộ y phục nặng chịch của hắn
cho phép. Hắn kéo lê một chiếc thang dài trên đường, thở phì phò, như một con sên bám
vào cọng cỏ, dài hơn nó đến hai mươi lần.
- Thắng lợi rồi! - Tên giáo đồ kêu lên. -Đ ây là cái thang của bọn phu bốc dỡ ở bến SaintLandry.
Clopin lại gần hắn:
  • Con ta, ngươi làm gì với cái thang này?
  • Nó trong tay tôi rồi. Tôi biết nó ở đâu.
Trong nhà kho của tên phó phán quan của nhà thờ.
- Phải. Nhưng ngươi muốn làm gì? - Clopin hỏi.
Jehan nhìn hắn, láu lỉnh và nhâng nháo. Y bật ngón tay. Lúc ấy trông y thật oai vệ.
- Tôi muốn gì à? ông có trông thấy hàng tượng như một lũ đần kia không? Kia kìa, trên ba
cái cửa ấy.
  • Có, vậy thì sao?
  • Đó là phòng tranh các vua.
  • Cái đó thì có ích gì cho ta?
  • Hãy đợi đấy. Đầu phòng tranh có một cái cửa chỉ cài then. Với cái thang này, tôi sẽ leo
lên đấy. Tôi sẽ vào được trong nhà thờ.
  • Con ta, để ta lên trước.
  • Không đâu, anh bạn. Cái thang này là của tôi. ông sẽ lên thứ hai.
Jehan chạy trên quảng trường, kéo theo cái thang, kêu toáng lên:
- Giúp ta, các chàng trai..Chỉ một loáng cái thang được dựng lên, tựa vào lan can.
Lũ ăn mày xúm xít dưới chân thang định leo lên. Nhưng Jehan giữ vững quyền của mình,
đặt chân lên bậc thang trước tiên. Đường lên khá dài, Jehan leo chậm chạp, một tay nắm
bậc thang, tay kia cầm nỏ. Bọn ăn mày theo sau. Trông hàng lưng mặc áo giáp trườn trong
bóng tối, tưởng như một con rắn vẩy thép, xông vào nhà thờ.
Cuối cùng tên giáo đồ đã leo tới phòng tranh.
Hắn nhanh nhẹn trèo vào, cho là mình làm chủ nhà thờ, hắn reo lên vui mừng. Chợt hắn
sững lại như hóa đá. Hắn thoáng thấy Quasimodo sau một pho tượng, nấp trong bóng tối,
mắt nảy lửa.
Trước khi tên vây hãm thứ hai đặt chân vào hành lang, gã gù ghê gớm nhảy đến đầu
thang, không nói không rằng, bàn tay cực khỏe, nắm đầu hai tên vừa leo lên, nâng bổng
lên, đẩy cái thang xa tường. Cái thang đu đưa một lát, giữa tiếng kêu gào khiếp sợ.
Quasimodo, với một sức mạnh phi phàm, ném cái dây đầy ăn mày rơi xuống quảng
trường. Cái thang bị đẩy ra sau, lắc lư như do dự, rồi bất thình lình rơi thẳng đứng xuống
nền đường cùng với lũ kẻ cướp.
Tiếng kêu giận dữ và đau đớn tiếp theo tiếng reo chiến thắng.
Quasimodo, trơ trơ, tì khuỷu tay vào lan can, đứng nhìn.
Jehan Frollo ở vào một tình thế căng thẳng.
Trong lúc Quasimodo đùa nhả với cái thang thì Jehan chạy đến một cửa ngầm, hắn tưởng
là mở. Nhưng gã điếc khi vào phòng tranh đã đóng lại. Jehan đành nấp sau một pho
tượng bằng đá.
Lúc đầu Quasimodo không đề phòng nhưng khi quay đầu lại gã giật bắn người. Gã trông
thoáng thấy tên giáo đồ Jehan chuẩn bị một đòn dữ dội, nhưng gã điếc đứng yên lặng.
Jehan nói:
- ồ, ồ, có gì mà ngươi nhìn ta dữ thế? - Vừa nói tên giáo đồ ranh ma vừa chuẩn bị cây cung
của hắn. - Quasimodo! Ta sắp đổi tên cho ngươi.
Người ta sẽ gọi ngươi là thằng mù.
Mũi tên lao đi, rít gió và cắm phập vào cánh tay trái của gã mù. Quasimodo xem như một
vết xước. Gã nhổ mũi tên, bình thản tì đầu gối bẻ đôi mũi tên rồi vứt xuống đất. Jehan
không đủ.thì giờ để bắn phát thứ hai, Quasimodo thở phì phò, chồm lên tên giáo đồ như
con cào cào.
Trong bóng tối mờ mờ chập chờn ánh đuốc, người ta trông thấy một vật kinh khủng.
Quasimodo nắm hai tay Jehan đang giãy giụa điên cuồng vì cảm thấy nguy rồi. Tay phải
gã điếc chầm chậm xé rời từng mảnh một cách thê thảm trang bị của hắn: kiếm, dao găm,
mũ, áo giáp, băng tay...
Khi tên giáo đồ đã bị hoàn toàn tước vũ khí, bị lột trần, bấy bớt trong bàn tay ghê gớm
kia, hắn không nói gì mà cười lên sặc sụa một cách táo tợn và cất tiếng hát một bài hát phổ
biến khi đó với sự dũng cảm vô tâm của đứa trẻ mười sáu. Nhưng hắn không kịp hát hết.
Bằng một bàn tay, Quasimodo nắm cẳng hắn, quay tròn trên vực thẳm như quay một cái
súng cao su.
Tiếng hộp sọ va vào tường vỡ ra và một vật gì rơi xuống nhưng được một phần ba đường
thì dừng lại, vướng vào gờ của tòa kiến trúc. Đó là một thân người mắc lủng lẳng ở đó.
Một tiếng thét kinh hãi cất lên trong đám ăn mày.
Clopin hô:
  • Trả thù!
  • Phá sạch! - Đám đông đáp lại.
  • Xung phong! Xung phong!
Tiếng rú thét dị thường. Cái chết của tên giáo đồ đã làm bùng lên một sự hăng hái cuồng
nộ trong đám quần chúng.
Điên cuồng, họ tìm được những cái thang, châm thêm đuốc. Sau ít phút, Quasimodo
hoảng hốt thấy đàn kiến đáng sợ này tràn lên tứ phía, tấn công vào nhà thờ. Ai không có
thang thì leo lên bằng dây thắt nút. Ai không có dây thì trèo lên nhờ gờ của các pho
tượng. Sự giận dữ làm cho những bộ mặt man rợ này đỏ gắt. Những vầng trán xám xịt
của chúng nhễ nhại mồ hôi.
Tất cả những cau có, những xấu xí này bủa vây Quasimodo.
Quảng trường bập bùng hàng nghìn bó đuốc như sao. Cảnh tượng hỗn độn này, trước khi
bị vùi trong bóng tối, bỗng bừng lên như cháy trong ánh lửa. Sân nhà thờ rực lên, rọi ánh
sáng lên trời. Đống lửa trên sân thượng vẫn cháy, chiếu ánh sáng ra xa, chiếu vào thành
phố. Bóng của những tòa tháp khổng lồ phóng to lên, trùm lên mái nhà của Paris. Trong
ánh sáng chúng tạo.thành những khoảng tối. Paris dường như bị chấn động. Tiếng mõ xa
xa rền rĩ. Bọn ăn mày vừa hú lên, thở hắt ra, chửi bới, vừa leo lên. Quasi-modo bất lực
trước quá đông kẻ thù, lo sợ cho cô gái Ai Cập khi thấy những bộ mặt giận dữ của chúng
mỗi lúc một đến gần chỗ ẩn của cô.
Gã cầu mong có một điều kỳ bí từ trời cao xảy ra.
Gã vặn tay, thất vọng.
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
71,918
Reaction score
474
Points
278
Chương 14 - Châteaupers cứu nguy
Gã điếc bị vây hãm tứ phía, nếu không mất hết can đảm thì cũng mất hết hy vọng có thể
cứu được cô gái Ai Cập. Gã chạy như mất trí trong phòng tranh. Nhà thờ Đức Bà sắp bị
bọn ăn mày chiếm. Bất thình lình tiếng vó ngựa dồn dập vang lên từ các phố lân cận. Một
dãy dài đuốc, một toán kỵ binh đông đặc với giáo và yên cương, những tiếng kêu giận dữ
đổ vào quảng trường như một cơn lốc.
- Pháp quốc! Pháp quốc! Chém chết những con lợn biển! Châteaupers đến cứu nguy!
Lũ ăn mày hoảng sợ, quay đầu chạy.
Quasimodo, vì không nghe tiếng chỉ thấy những lưỡi gươm trần, những bó đuốc, những
mũi giáo. Dẫn đầu đoàn kỵ binh, gã nhận ra đại úy Phoebus. Bọn ăn mày thì hoảng loạn,
kinh hoàng, đứa khá nhất cũng rối bời..Đó là quân đội nhà vua đến.
Lũ ăn mày chống cự một cách tuyệt vọng.
Cuộc hỗn chiến giáp lá cà thật đáng sợ. Kỵ binh của nhà vua, ở giữa là Phoebus de
Châteaupers, chiến đấu dũng cảm, không một chút lơi tay. Bọn ăn mày, vũ trang kém, sùi
bọt mép, cắn. Đàn ông, đàn bà, trẻ con lao vào lưng ngựa, cổ ngựa, bám riết lấy. Toán
khác lấy đuốc đập vào mặt các cung thủ.
Một người có một cái liềm to bản, sáng loáng, phạt chân ngựa. Trông hắn thật đáng sợ.
Mỗi một đòn, hắn lại tạo ra xung quanh một vòng tròn lớn những chân tay bị chặt đứt.
Hắn tiến lên chậm rãi, bình tĩnh, đầu lắc lư, hơi thở điều hòa, như một người thợ gặt tấn
công vào một đồng lúa. Đó là Clopin Trouillefou. Hắn đã mệt.
Cuối cùng bọn ăn mày phải chịu thua.
Chúng mở đường máu qua hàng ngũ của những người lính tấn công. Chúng trốn chạy tứ
phía, để lại trên sân nhà thờ hàng đống xác chết.
Quasimodo chiến đấu ngoan cường; khi thấy cảnh chạy trốn kia thì hắn quỳ gối giơ hai
tay lên trời, say sưa vì vui sướng. Gã chạy bay như con chim đến gian xàlim mà hắn đã
chiến đấu dũng cảm để không cho ai đến gần.
Lúc lũ ăn mày đánh chiếm nhà thờ thì Esmeralda đang ngủ. Tiếng ầm ầm mỗi lúc một to
và tiếng kêu lo sợ của con dê đã đánh thức cô. Cô nhỏm dậy, nghe ngóng. ánh lửa và
tiếng ồn ào làm cho cô sợ hãi. Cô chạy ra khỏi buồng kín của mình.
Quang cảnh của quảng trường, sự lộn xộn trong cuộc tấn công ban đêm, cái đám người
ghê sợ kia, tất cả khiến cô nghĩ tới một cuộc chiến tranh bí mật. Cô chạy trốn, kinh hoàng,
chúi vào xà lim của mình.
Dần dần, nỗi sợ ban đầu tan dần. Cô quỳ gối, đầu gục trên thành giường, tay chắp trên
đầu, lo lắng, run sợ, khóc nức nở. Cô cầu xin Chúa: Con cầu xin Đức Mẹ, che chở.
Cô quỳ khấn như thế rất lâu.
Giữa cơn lo lắng ấy, cô nghe tiếng ai đi bên mình. Hai người vào buồng cô, một người
xách đèn, cô kêu lên yếu ớt.
  • Đừng sợ. Tôi đây. - Tiếng nói đó cô không lạ gì.
  • Ai đấy?.- Pierre Gringoire, chồng em.
Cái tên ấy làm cô yên tâm. Cô ngước mắt lên và nhận ra người ấy. Nhưng bên cạnh anh ta
là một bộ mặt chùm kín vải đen.
- A! - Gringoire trách. - Djali còn nhận ra anh trước em.
Quả vậy, không chờ Gringoire xưng tên, khi Gringoire vừa vào, con dê nhỏ đã âu yếm
giụi vào đầu gối anh, hôn lấy hôn để.
- Ai đi với anh đấy? - Cô gái Ai Cập khẽ hỏi.
Người mặc đồ đen, sắp lại gần Gringoire.
Anh nói:
- Đúng thế. Anh quên đi mất. Chúng ta vội quá mà. Em yêu, tính mạng em và Djali đang
bị đe dọa. Người ta định bắt lại em, chúng ta đến để cứu em. Hãy theo chúng ta.
  • Thật thế sao? - Cô gái kêu lên, hoảng hốt.
  • Rất đúng thế! Đi đi, nhanh lên em!
Cô gái lắp bắp:
  • Em rất muốn, nhưng tại sao bạn anh chẳng nói gì thế?
  • Đừng quan tâm đến anh ta.
Gringoire nắm tay cô. Người bạn lượm cái đèn, đi phía trước. Nỗi sợ hãi làm cho cô gái
choáng váng. Cô để cho hai người dẫn đi. Con dê chạy theo. Nó nhảy cẫng lên, vui mừng
vì được gặp lại Gringoire. Nó trượt chân, loạng choạng nhiều lần. Họ nhanh chóng xuống
cầu thang tháp, đi qua nhà thờ đầy bóng tối và hoang vắng, ra ngoài. Người cầm đèn đi
thẳng đến bờ sông. Một chiếc thuyền con được giấu kín. Người kia ra hiệu cho Gringoire
và cô gái xuống thuyền.
Con dê cũng đi theo. Người kia xuống sau cùng.
Đoạn anh cắt dây buộc thuyền, đẩy xa bờ bằng một cây sào dài, cầm hai mái chèo, ra sức
chèo ra giữa sông.
Việc đầu tiên là Gringoire đặt con dê trên đầu gối. Anh ngồi phía sau thuyền. Người lạ
mặt gây cho cô gái một nỗi sợ khó giải thích, nên cô đến ngồi bên nhà thơ.
Khi triết gia của chúng ta thấy chiếc thuyền lắc lư, anh vỗ tay và hôn con dê giữa cặp
sừng.
- ôi, thế là cả bốn chúng ta thoát nạn!
Chiếc thuyền bơi chầm chậm đến bờ phải.
Cô gái nhìn người lạ mặt với một nỗi sợ ngấm.ngầm. Chỉ thấy bóng hắn lờ mờ phía trước
trong bóng tối, như một bóng ma.
Con thuyền sắp tới bờ bên kia thì Gringoire nhận xét:
- ồ, ồ, tiếng ồn ào càng rộ lên ở mạn trên.
Thật vậy, tiếng huyên náo tăng lên quanh nhà thờ. Họ lắng nghe và thấy khá rõ tiếng reo
chiến thắng. Thình lình hàng trăm bó đuốc làm lóe lên những mũ sắt chiến binh đang tỏa
ra trên nhà thờ, khắp các tầng, trên các tháp, các phòng tranh, dưới các vòm. Những bó
đuốc kia hình như tìm cái gì. Chẳng bao lâu, tiếng hò reo bay rõ ràng đến tai những kẻ
chạy trốn:
- Đứa con gái Ai Cập! Con phù thủy! Giết chết con Ai Cập!
Cô gái khốn khổ gục đầu vào bàn tay. Người lạ mặt ra sức chèo vào bờ như điên dại. Triết
gia của chúng ta nghĩ ngợi. Anh ôm chặt con dê vào lòng. Anh nghĩ: con dê sẽ bị treo cổ
nếu nó bị bắt lại và như thế thì thật tệ hại.
Tiếng va đập mạnh báo cho họ thuyền đã cập bờ.
Tiếng huyên náo thê thảm đầy thành phố.
Người lạ mặt đứng lên, lại gần cô gái, muốn nắm tay cô đỡ xuống thuyền. Cô đẩy hắn ra,
níu lấy tay Gringoire đang bận bịu vì con dê, nên gần như đẩy cô ra. Tức thì cô tự mình
nhảy ra khỏi thuyền. Cô bối rối đến mức chẳng còn biết mình làm gì nữa.
Cô đứng sững sờ một lúc, nhìn dòng nước.
Khi định thần lại, cô thấy mình đang ở một mình trên bến, cạnh người lạ mặt. Lợi dụng
lúc đổ bộ, Gringoire đã lủi mất cùng con dê.
Cô gái Ai Cập tội nghiệp rùng mình thấy mình trơ ra cùng với con người này. Cô muốn
kêu lên, gọi Gringoire, nhưng không một lời nào thoát ra từ miệng cô. Cô cảm thấy bàn
tay người lạ mặt đặt trên tay cô. Răng cô đánh cầm cập.
Người lạ mặt không nói một lời. ông ta nắm tay cô bước rảo về phía quảng trường Grève.
Lò xo trong người cô bỗng chùng hẳn. Cô để mặc cho mình bị kéo đi. Cô nhìn bốn phía,
không một người qua lại. Bến tàu hoàn toàn vắng vẻ.
Người lạ mặt vẫn lôi cô đi, im lặng như thế, nhanh như thế. Cô không nhận ra đã đi qua
những đâu. Qua một cửa sổ sáng đèn, bất thần cô cứng người, kêu to:
- Cứu tôi với!.Người mặc áo đen chẳng nói một lời. Anh ta túm chặt cô, bước rảo hơn. Cô
không chống cự nữa, theo hắn, rã rời.
Thỉnh thoảng cô hỏi:
- ông là ai?... ông là ai?...
Hắn không trả lời.
Họ đi dọc bến tàu đến một chỗ khá rộng, mờ mờ ánh trăng. Đó là Grève, giữa quảng
trường có một cây thập tự đen dựng đứng. Đó là giá treo cổ. Cô nhận ra tất cả và biết
mình đang ở đâu.
Người lạ mặt quay về phía cô, bỏ mũ trùm đầu ra.
- ồ... - Cô lắp bắp, sợ tưởng hóa đá... - Tôi biết ngay lại là hắn.
Đó là linh mục. ông như một con ma. Đó là tác dụng của ánh trăng. Dưới ánh trăng mọi
thứ trông đều như bóng ma.
Hắn nói:
  • Nghe đây những điều tôi sắp nói với cô. -Cô rùng mình khi nghe tiếng nói sầu thảm ấy...
  • Đây là Grève, điểm cuối cùng. Có một lệnh của nghị viện bắt cô trở lại đoạn đầu đài. Tôi
vừa cứu cô khỏi bàn tay họ. Nhưng họ đang đuổi theo cô. Trông kìa!
Hắn chỉ tay về phía thành phố. Tiếng ồn ào lại gần. Binh lính chạy trên cảng sông đối
diện.
- Cô thấy chúng đuổi theo cô chứ? Tôi có thể cứu cô hoàn toàn. Tôi đã chuẩn bị tất cả.
Tất cả là tùy ý cô thôi.
Hắn chạy và kéo cô chạy theo. Hắn đến thẳng giá treo cổ, chỉ tay. Hắn nói lạnh lùng:
- Chọn đi giữa hai đằng.
Cô giằng ra khỏi tay hắn, ngã xuống chân giá treo cổ. Cô quay đầu nhìn linh mục qua vai:
- Cái đó làm cho tôi đỡ khiếp hãi hơn ông.
Hắn thét lên dữ dội như một tên khốn nạn bị áp sắt nung đỏ vào người. Hắn nghiến răng
nói:
- Vậy thì chết đi!
Hắn lay mạnh cô, đi nhanh đến tháp Tour-Roland, lôi cô xềnh xệch trên lề đường. Tới nơi,
hắn gọi to:
- Gudule! Gudule! Đứa con gái Ai Cập đây!
Trả thù đi!
Bất thình lình cô gái thấy bị nắm chặt khuỷu tay. Một cánh tay xương xẩu thò ra ngoài lỗ
cửa sổ tò vò, nắm lấy cô như một gọng kìm..
- Giữ chắc nhé. - Linh mục nói. - Đây là đứa con gái Ai Cập đã trốn thoát. Đừng thả ra.
Tôi đi tìm cảnh binh đây. Mụ sẽ thấy nó bị treo cổ.
Cô gái nhận ra mụ ẩn sĩ.
Hổn hển vì khiếp hãi, cô cố giằng ra. Cô dúm người lại, nghe thấy mụ ẩn sĩ nói khẽ:
- A! A! A! Mày sắp bị treo cổ.
Cô quay nhìn cửa sổ con, cay đắng nói:
- Tôi đã làm gì bà?
Mụ ẩn sĩ kêu lên:
- Mày đã làm gì tao à? A! Mày đã làm gì tao à, con Ai Cập? Vậy thì nghe đây. Tao có một
đứa con, mày thấy không? Tao có một đứa con. Một đứa con! Một đứa con gái nhỏ xinh
xẻo. Agnès của tao bị lạc. Mày thấy không, đứa con gái Ai Cập? Người ta đã đánh cắp con
tao.
Mày đã làm gì tao đấy.
Cô gái trả lời như một con cừu non:
  • Chao ôi! Khi ấy có lẽ tôi chưa sinh ra.
  • ồ, có chứ! Mày phải được sinh ra rồi. Nó có thể bằng tuổi mày. Mười lăm năm rồi, tao ở
đây. Mười lăm năm tao đau khổ. Mười lăm năm tao cầu nguyện. Mười lăm năm tao đập
đầu vào bốn bức tường. Chính bọn Ai Cập đã đánh cắp con tao.
- Bà ơi! Bà ơi! - Cô gái tội nghiệp chắp tay, kêu lên. - Họ đến kia kìa. Tôi chẳng làm gì bà.
Bà muốn trông thấy tôi chết dưới mắt bà sao?
Buông ra cho tôi chạy trốn. Tôi không muốn chết như thế.
- Trả con gái Agnès cho ta. - Gudule nói tiếp. - Mày không biết nó ở đâu à? Vậy thì chết đi!
Bọn Ai Cập đã ăn cắp con tao. Tao sẽ cho mày thấy cái này. Đây là chiếc giày của nó, tất cả
những gì tao còn lại. Mày có thấy một chiếc giống cái này không? Nếu mày biết, nói cho
tao hay.
Cánh tay kia của mụ thò qua cửa sổ nhỏ, giơ cho cô gái xem chiếc giày nhỏ.
- Cho tôi xem chiếc giày ấy. Trời ơi! Trời ơi! - Cô gái Ai Cập run rẩy.
Cùng lúc bàn tay tự do của cô mở chiếc túi nhỏ đeo trên cổ. Mụ già lầu bầu:
- A! Mày lục tìm đạo bùa của quỷ à?
Bất thình lình mụ ngừng bặt, run rẩy toàn thân và kêu lên từ tận cùng ruột gan của mụ:
- Con ta!.Esmeralda vừa rút từ trong túi nhỏ ra một chiếc giày con, giống hệt chiếc giày
kia.
Chỉ trong một ánh chớp mụ già đối chiếu hai chiếc giày và áp vào song cửa sổ bộ mặt
rạng ngời niềm vui thiên thần của mụ. Mụ kêu lên:
- Con ta! Con ta!
Esmeralda: Mẹ ơi!
Bức tường và song sắt ngăn cách hai mẹ con.
- ôi, bức tường! Tay con! Tay con đâu!
Cô gái luồn cánh tay qua lỗ cửa sổ. Bà già vồ lấy cánh tay, áp môi vào.
Bất thần bà đứng dậy, hai tay lay song cửa.
Chúng không lay chuyển. Bà chạy lại góc phòng tìm một phiến đá lát, tông mạnh vào
chấn song, làm cho một chiếc bị gẫy. Bằng hai tay bà bẻ hẳn vào kéo rộng hai đoạn sắt gỉ
ra.
Lối đã mở, bà kéo con gái vào trong buồng.
Bà nhẹ nhàng đặt cô xuống đất.
- Con ta! Con ta! Thế là ta lại có con. Chúa lòng lành đã trả nó cho ta.
Cô gái lặp lại với một sự dịu dàng vô cùng:
  • Mẹ của con!
  • Con gái ơi! Con thấy không, mẹ con ta sẽ sung sướng. - Câu nói bị ngắt quãng bởi những
cái hôn sôi nổi.
Giữa lúc đó tiếng lanh canh của vũ khí vang lên. Cô gái lo sợ nhảy choàng vào vòng tay
mẹ.
- Cứu con! Cứu con! Mẹ ơi. Chúng đấy!
Bà ẩn cư tái người.
- ôi! Ta quên mất là chúng đang đuổi bắt con. Mẹ sẽ nói chuyện với chúng. Con hãy nấp
vào góc kia. Chúng không trông thấy con đâu.
Mẹ sẽ bảo là con chạy trốn rồi.
Bà vừa nói xong thì tiếng ầm ầm người, ngựa, đao, kiếm đã vây quanh xà lim. Bà đứng
lên, áp mình vào lỗ cửa sổ để bịt lại.
- Này bà già, - viên chỉ huy nói, - chúng ta đang tìm một con phù thủy. Người ta bảo nó
đang ở đây.
- ông nói đến một cô gái trẻ? Cô ấy vừa cắn tôi một miếng và tôi đã phải buông cô ấy ra.
Đại úy nhăn mặt thất vọng.
Một cung thủ bỗng nói:
- Thưa đại úy, ngài thử hỏi bà già xem tại sao song cửa sổ lại hỏng như thế?.- Nó vẫn như
thế. - Bà già lắp bắp.
Tên cung thủ lại nói:
  • Chà, hôm qua chúng còn tạo thành một cây thập tự đen.
  • Chuyện thật mập mờ, ám muội! - Đại úy nói.
Bà già kêu lên:
- Thưa ngài, một chiếc xe bò đã đâm gãy song cửa.
Cô gái tội nghiệp từ nãy vẫn ngồi yên trong góc phòng, nín thở, không dám động đậy. Cô
không bỏ sót một chi tiết nào của cảnh tượng.
Mối lo sợ của mẹ đều dội vào cô. Giữa lúc đó, cô nghe tiếng ai đó nói với viên sĩ quan
quân cảnh:
- Mẹ kiếp, thưa ông sĩ quan, công việc của tôi, một chiến binh, không phải là treo cổ bọn
phù thủy. Tôi xin để ông làm một mình. Tốt nhất là tôi trở lại đơn vị của tôi.
Tiếng nói ấy là của Phoebus de Châteaupers.
Anh ta ở đây, bạn cô, người che chở cho cô, Phoebus của cô.
Cô đứng lên. Bà mẹ chưa kịp ngăn thì cô đã lao đến lỗ cửa sổ, kêu lên:
- Phoebus! Cứu em!
Phoebus không còn đấy. Hắn vừa phi ngựa đi đến góc phố Coutellerie.
Bà ẩn cư nhảy xổ vào cô gái, gầm lên. Bà lôi mạnh cô ra sau, nhưng trễ quá rồi!
Đại úy reo lên:
- ‰, ê! Hai con chuột trong một bẫy chuột!
Bà ẩn cư chưa kịp nói lời nào. Bà xô mạnh cô gái tội nghiệp dở sống, dở chết vào góc
phòng, chạy ra đứng chắn lỗ cửa sổ. Trong dáng điệu ấy, bà dũng cảm đưa mắt nhìn tất
cả lũ lính.
Bà lắc đầu nói:
  • Không có ai! Không có ai!
  • Có chứ! Bà biết thế. - Tên đao phủ vừa đến nói. - Để cho tôi treo cổ con phù thủy. Tôi
không muốn điều xấu cho bà.
Đại úy nói nghiêm khắc:
- Bà già! Bận gì mà bà dám ngăn trở việc con phù thủy bị treo cổ?
Bà già khốn nạn cười điên dại:
  • Nó là con tôi.
  • Tôi rất phiền lòng, nhưng đó là ý chỉ của đức vua..- Đức vua của ông thì bận gì đến tôi?
Tôi đã nói nó là con gái tôi.
- Phá bức tường ra.
Nghe tiếng cuốc chim và chông đâm vào pháo đài, bà già thét lên kinh hoàng. Bà chạy
quanh buồng với một tốc độ đáng sợ. Bà không nói gì nữa. Mắt bà bừng lửa. Thình lình
bà lấy một viên đá lát ném vào chúng. Tay bà run quá nên viên đá không trúng ai cả. Bà
nghiến răng.
Bà lại ngồi gần con gái, lấy thân che chở cho nó, con mắt trừng trừng, bà nghe đứa con gái
tội nghiệp bất động, lẩm bẩm:
- Phoebus! Phoebus!
Bất chợt bà ẩn cư thấy đá tường long ra. Bà nghe tiếng viên đại úy cổ vũ những kẻ đang
làm việc.
Thấy lối vào đã mở, bà già nằm ngang, lấy thân mình bịt lối. Bà đập đầu xuống nền, kêu
lên:
  • Cứu tôi với! Nổi lửa! Nổi lửa!
  • Bây giờ, bắt lấy đứa con gái! - Viên chỉ huy hạ lệnh, không lay chuyển.
Bà mẹ nhìn lũ lính một cách rất đáng sợ, làm cho chúng muốn lùi lại, không dám tiến lên.
Không tên nào nhích một bước.
Bà ẩn cư quỳ gối, vén tóc khỏi mặt rồi buông xuôi cánh tay gầy guộc, xương xẩu.
Những giọt nước mắt to trào ra, từng giọt, từ mắt bà.
Bà cất tiếng nói van lơn, rất dịu dàng, vẻ phục tùng, rất đau xót khiến bọn lính mủi lòng,
cũng lau nước mắt.
- Thưa các ngài! Thưa các ngài binh sĩ! Cho tôi nói một lời. Các ông thấy đấy, đây là đứa
con gái thân yêu tôi tưởng đã mất. Đó là cả một câu chuyện. Con tôi đã làm gì các ông?
Không gì cả. Tôi cũng thế. Nếu các ông biết rằng tôi chỉ có nó. Tôi già rồi. Đó là một ân
phước mà Đức Mẹ đồng trinh đã ban cho tôi. Tất cả các ông đều là những người tốt. Các
ông không biết hiện nay nó là thế nào... Các ông thật là tốt, các ông binh sĩ. Tôi yêu tất cả
các ông. Các ông không bắt con gái yêu của tôi chứ? Không thể được... Con tôi...
Tên đao phủ và các cảnh binh vào trong buồng. Bà mẹ không có cử chỉ kháng cự nào. Bà
lê đến con gái, ôm choàng lấy cô.
Cô kêu lên:
- Mẹ ơi! Mẹ của con. Họ đến đấy. Hãy bảo vệ con!.- Phải, tình yêu của mẹ, ta sẽ bảo vệ
con. -Bà mẹ trả lời, giọng thều thào, ôm chặt con gái vào lòng, hôn tới tấp. Hai mẹ con
cùng ở dưới đất, mẹ đè lên con, tạo ra một cảnh tượng rất thương tâm. Tên đao phủ cũng
rớt nước mắt.
Hắn muốn giằng cô gái ra khỏi tay bà. Hắn muốn kéo bà mẹ ra.
Hai tay bà bám lấy thắt lưng con gái, níu rất chặt. Khó lòng mà tách bà ra. Phải mấy tên
lính mới bắt được Esmeralda đang ngất xỉu.
Tên đao phủ lôi cô gái và bà mẹ ra khỏi buồng.
Một giờ sau, công lý đã được thi hành.
Bà ẩn cư không sống sót nổi sau tai họa này.
Cả Dom Claude cũng chết thê thảm. Bị Quasimodo ném từ nóc cao nhà thờ Đức Bà
xuống, hắn tan xác trên sân nhà thờ.
Phoebus de Châteaupers lấy vợ.
Quasimodo biến khỏi nhà thờ Đức Bà, sau cái chết của cô gái Ai Cập và của phó giám
mục.
Không ai trông thấy gã nữa. Cũng không ai biết gã ra sao.
Trong đêm Esmeralda bị hành hình, theo thông lệ, người ta hạ xác cô xuống, đem đến
hầm Montfaucon, nơi người ta ném xác tất cả những kẻ khốn khổ bị hành hình tại các giá
treo cổ của Paris.
Hai năm sau, người ta thấy ở Montfaucon hai bộ xương quấn lấy nhau một cách lạ lùng.
Một trong hai bộ xương là của một người đàn bà. Còn một mảnh vải áo xưa kia màu
trắng.
Quanh cổ bộ xương có một sợi dây chuyền với một túi lụa nhỏ bị mở ra. Những vật ấy rất
ít giá trị nên chắc tên đao phủ chẳng thèm lấy.
Bộ xương kia ôm chặt bộ xương nọ, là của một người đàn ông. Xương sống bị vẹo, đầu tụt
xuống dưới xương quai xanh, một chân ngắn, một chân dài. Không một khúc xương cổ
nào bị gẫy.
Chắc chắn là người này không bị treo cổ. Người này đã tự đến đây và chết ở đó. Khi
người ta muốn tách nó ra khỏi bộ xương kia thì bộ xương tan thành bụi..
 

Bình luận facebook

Top Bottom