Full RỪNG NAUY

root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
5,106
Reaction score
125
Points
9,999
Chương 5
Cám ơn cậu vì bức thư, Naoko viết. Gia đình nàng đã chuyển nó đến đây, nàng nói. Chẳng những nàng không phiền, mà trái lại bức thư đã làm nàng rất hạnh phúc, và quả thực lúc ấy nàng cũng đang định viết cho tôi.

Đọc đến đấy thôi, tôi ra mở cửa sổ, cởi áo ngoài và ngồi lên giường. Tôi có thể nghe thấy tiếng chim gù từ một chuồng câu gần đó. Gió nhẹ làm lay động màn cửa.

Cầm bảy trang giấy viết của Naoko, tôi thả mình vào một dòng cảm xúc vô tận. Dường như màu sắc của thế giới thực tại quanh tôi đã bắt đầu phải nhạt đi chỉ vì tôi đã đọc mấy dòng chữ ấy của nàng. Tôi nhắm mắt rất lâu, cố tập hợp lại những ý nghĩ của mình. Cuối cùng, sau một hơi thở thật sâu, tôi đọc tiếp.

Mình đến đây đã được bốn tháng rồi, nàng viết tiếp. Mình đã nghĩ rất nhiều về cậu trong thời gian ấy. Càng nghĩ càng thấy mình đã bất công với cậu. Nhẽ ra mình đã phải đối xử với cậu tốt hơn và công bằng hơn.

Nhưng nhìn nhận như thế cũng không phải bình thường nhất đâu. Bọn con gái bình thường trạc tuổi mình về cơ bản là không để ý gì xem chuyện mọi việc có "công bằng" hay không. Câu hỏi chính của chúng không phải là có công bằng không mà là có đẹp và làm chúng hạnh phúc hay không. "Công bằng" là từ ngữ của đàn ông, rốt cuộc là vậy, nhưng mình vẫn cứ cảm thấy nó đúng là cái từ mình phải dùng vào lúc này. Và bởi vì những câu hỏi về cái đẹp và hạnh phúc đang trở thành những vấn đề khó khăn và rắc rối quá với mình, có lẽ thế, nên mình thấy mình đang bám vào nhũng tiêu chuẩn khác vậy - như là có công bằng hay không, hoặc có trung thực và chân xác hay không.

Dù sao đi nữa, mình tin rằng mình đã bất công với cậu và thế nên chắc là mình đã bắt cậu phải loanh quanh lẩn quẩn và làm tổn thương cậu rất nhiều. Tuy nhiên, trong khi làm thế, mình cũng phải loanh quanh lẩn quẩn và tự làm tổn thương mình không kém. Mình nói điều này không phải đề chống chế hoặc tự bào chữa, mà vì đó là sự thật. Nếu mình đã để lại một vết thương trong ngưởi cậu, thì đó không phải chỉ là vết thương của cậu mà cũng là của mình luôn.

Vậy cậu hãy làm ơn cố gắng đừng ghét mình. Mình là một con người khiếm khuyết - khiếm khuyết hơn cậu biết rất nhiều. Đó cũng chính là lí do tại sao mình không muốn cậu ghét mình. Bởi vì nếu cậu làm thế, mình sẽ thực sự tan ra. Mình không thể làm được như cậu. Mình không thể lẻn vào trong vỏ bọc của chính mình và chờ cho mọi thứ qua đi. Mình không có bằng chứng thực tế nào là cậu như vậy, nhưng đôi khi cậu làm cho mình có ấn tượng ấy. Mình thường tị với cậu chuyện ấy, và có lẽ chính vì thế mà mình đã bắt cậu loanh quanh lẩn quẩn mãi.

Có thể cách nhìn nhận này hơi chi li tách bạch quá, cậu có thấy thế không? Cách điều trị của họ ở đây thì nhất định là không chi li tách bạch rồi, nhưng khi cậu phải điều trị nhiều tháng liền như mình ở đây, thì dù muốn dù không, cậu sẽ thành ra chi li tách bạch thôi. "Cái này là do cái kia gây ra, và cái kia có nghĩa là cái này và bởi vậy mà cái này với cái nọ." Kiểu như thế. Mình chịu không biết cách phân tích ấy sẽ đơn giản hoá hay phức tạp hoá mọi chuyện.

Dù sao, mình tự thấy đã sắp bình phục hơn trước đây rất nhiều, và ở đây ai cũng bảo mình là đúng như thế. Đây là lần đầu tiên trong một thời gian dài mình có thể ngồi và bình tĩnh viết một lá thư. Cái mình viết cho cậu hồi tháng Bảy là cái mình phải nặn mãi mới ra, mặc dù, nói thật nhé, mình không nhớ đã viết gì trong đó - có kinh khủng không? Nhưng lần này thì mình rất bình tĩnh, rất bình tĩnh. Không khí trong lành, một thế giới cách biệt với bên ngoài, một lịch sinh hoạt hàng ngày, những bài tập thường xuyên: đó là những cái mình cần, có vẻ thế. Được viết một bức thư cho ai đó như thế này thật tuyệt quá! Được cảm thấy cỏ thể truyền đạt những ý nghĩ của mình cho một người, ngồi vào bàn, cầm lấy bút, và viết những ý nghĩ ấy thành những con chữ như thế này, quả thực là kì diệu. Tất nhiên, một khi đã viết chúng ra, mình lại thấy mình chỉ diễn đạt được một phần nhỏ cái mình muốn nói, nhưng cũng không sao. Chỉ cần có thể cảm thấy muốn viết cho ai đó là mình đã hạnh phúc rồi.

Và mình đang viết cho cậu đây. Bây giờ là bay rưỡi tối, mình đã ăn cơm, và vừa mới tắm xong. Nơi đây yên tĩnh lắm, và trời bên ngoài tối như mực. Mình không thấy một ánh đèn nào ngoài cửa sổ. Thường mình vẫn thấy bầu trời sao rất rõ, nhưng hôm nay thì không, vì nhiều mây. Ở đây ai cũng biết rất nhiều về các ngôi sao, và mọi người thường bảo mình "Đó là sao Xử-nữ" hoặc "Đó là sao Nhân-mã". Có lẽ muốn hay không thì họ cũng học được những cái đó vì ở đây chẳng có việc gì để làm khi mặt trời đã lặn. Cũng vì thế mà họ cũng biết rất nhiều về chim hoa côn trùng. Nói chuyện với họ, mình thấy mình thật ngu xuẩn trong những chuyện ấy, cũng là cái hay.

Có khoảng bảy mươi người sống ở đây. Ngoài ra, số cán bộ, bác sĩ, hộ lý, văn phòng, vân vân… chỉ độ hơn hai mươi người. Địa điểm thì thật là rộng rãi, nên số người ấy chẳng lớn chút nào. Còn lâu mới vậy, mà đúng ra thì ở đây còn hơi vắng quá là đằng khác.

Thiên nhiên thật rộng rãi và ai cũng sống thật lặng lẽ lặng lẽ đến mức đôi khi ta cảm thấy đây là một thế giới bình thường trong thực tại, mà thực ra nó không phải vậy. Được như vậy là vì ở đây ai cũng sống với những điều kiện nhất định đã thoả thuận ban đầu.

Mình chơi bóng quần và bóng rổ. Các đội bóng rổ bao gồm cả cán hộ và (mình ghét từ này quá nhưng không tránh được nó) bệnh nhân. Khi đang mải mê trong trận đấu thì mình cũng chẳng còn biết ai là bệnh nhân ai là cán bộ. Chuyện ấy cũng hơi lạ. Mình biết điều này nghe sẽ lạ lắm, nhưng khi mình nhìn mọi người xung quanh mình trong một trận bóng, tất cả bọn họ đều có vẻ tàn tật méo mó như nhau.

Một hôm mình nói với ông bác sĩ phụ trách ca của mình điều đó và ông ta bảo rằng theo một nghĩa nào đó thì cảm giác ấy của mình là đúng, rằng bọn mình đến ở đây không phải để sửa chữa sự méo mó của mình mà là để làm quen với nó, rằng một trong nhưng vấn đề của bọn mình là khả năng biết được và chấp nhận nhũng méo mó của chính mình. Cũng như mỗi người đều có những đặc điểm riêng trong cách đi đứng, ai cũng có những cái riêng trong cách nghĩ, cách cảm và cách nhìn sự vật, và cho dù ta có muốn sửa chữa chúng, chuyện đó không thể nhanh được, và nếu ta cố ép buộc thì thế nào cũng có những cải lạ lùng khác xảy ra. Ông ta đã giải thích rất giản dị như vậy, tất nhiên rồi, và đó cũng chỉ một phần nhỏ các vấn đề của bọn mình, nhưng có lẽ mình hiểu ông ta muốn nói gì. Rất có thể là bọn mình không bao giờ có khả năng thích ứng hoàn toàn với những méo mó của chính mình. Không thể tự mình cất giấu nỗi đau đớn khổ sở do những méo mó này gây ra, bọn mình đến đây để trốn tránh chúng. Khi nào còn ở đây, bọn mình có thể tiếp tục sống mà không làm người khác tổn thương hoặc bị họ làm tổn thương bởi lẽ tất cả đều biết là mình méo mó như nhau cả.

Đó là cái phân biệt bọn mình với thế giới bên ngoài, nơi hầu hết mọi người sống mà không biết đến những méo mó của họ, còn ở cái thế giới nhỏ bé này của bọn mình thì bản thân những méo mó này lại là một điều kiện tiên quyết. Giống như người Indian cài lông chim lên đầu để mọi người biết họ thuộc bộ lạc nào, bọn mình công khai đeo những méo mó của chính mình ra bên ngoài. Và bọn mình sống lặng lẽ để không làm tổn thương nhau.

Ngoài việc chơi thể thao, tất cả đều tham gia trồng rau: cà chua, cà tím, dưa chuột, dưa hấu, dâu, hành lá, bắp cải, củ cải đỏ, và nhiều thứ khác nữa. Bọn mình trồng gần như đủ thứ. Có cả nhà kính nữa. Mọi người ở đây biết rất nhiều về việc trồng rau, và họ bỏ rất nhiều công sức vào việc này. Họ đọc sách, mời chuyên gia đến, và nói chuyện từ sáng đến đêm về việc sẽ dùng phân bón gì và tình trạng đất ra sao, những chuyện như vậy. Bây giờ thì mình cũng rất thích việc trồng rau rồi. Nhìn những cây rau quả khác nhau cứ lớn lên từng ngày thật là tuyệt. Cậu đã bao giờ trồng dưa hấu chưa? Chúng cứ lớn phổng lên, hệt như những con thú nhỏ vậy.

Chúng mình ăn rau quả tươi hái hàng ngày. Tất nhiên là họ có nấu các món thịt cá, nhưng khi đã sống ở đây thì cậu sẽ thấy không muốn ăn những cái đó nữa vì rau quả quá tươi ngon. Thỉnh thoảng bọn mình cũng ra ngoài hái nấm và cây dại. Bọn mình có những chuyen gia về việc này (thử nghĩ coi, nơi này đầy rây những chuyên gia) có thể hướng dẫn hái cây gì và đừng hái cây gì. Kết quả là mình đã lên đến hơn ba kilô kể từ ngày vào đây. Mình nặng thế là gần như hoàn hảo rồi, nhờ tập tành và ăn uống tốt đều đặn.

Khi không trồng trọt thì bọn mình đọc sách, nghe nhạc, hoặc đan lát. Không có TV và radio, nhưng bọn mình có một thư viện sách và đĩa nhạc rất tốt. Sưu tập đĩa có đủ thứ, từ những giao hưởng của Mahler cho đến nhạc Beatles, và mình luôn mượn đĩa về nghe ở phòng mình.

Vấn đề thực sự của chỗ này là một khi đã ở đây rồi thì ta không muốn rời nó nữa - hoặc là sợ phải rời khỏi nó. Còn ở đây ngày nào thì mình còn thấy bình tĩnh và an bình ngày đó. Những méo mó của bọn mình có vẻ thành tự nhiên. Bọn mình tưởng là đã bình phục. Nhưng không ai có thể chắc liệu thế giới bên ngoài có chấp nhận bọn mình như thế hay không.

Ông bác sĩ của mình nói đã đến lúc mình nên tiếp xúc với "người ngoài" - tức là những người bình thường ở thế giới bên ngoài. Khi ông ấy nói thế, mình chỉ nhìn thấy mỗi gương mặt của cậu. Nói thật, mình không muốn gặp bố mẹ. Họ quá lo lắng cho mình, và gặp họ là mình khó chịu. Hơn nữa, có nhiều chuyện mình phải giải thích cho cậu. Mình không chắc có thể giải thích chúng rõ ràng được hay không, nhưng chúng là những chuyện quan trọng mà mình không thể né tránh mãi được.

Cho dù vậy, thì cậu cũng không nên cảm thấy mình là gánh nặng của cậu nhé. Đó là điều mình không muốn nhất: là gánh nặng của ai đó. Mình cảm thấy được những tình cảm tốt của cậu dành cho mình.

Và chúng làm mình rất hạnh phúc. Tất cả những gì mình muốn làm trong lá thư này là truyền đạt niềm hạnh phúc ấy đến cậu. Những tình cảm tốt ấy của cậu có lẽ chính là cái mình cần trong thời điểm này của cuộc đời hay tha thứ cho mình nếu có điều gì mình viết ở đây làm cậu phật lòng. Như mình đã nói, mình là một con người khiếm khuyết hơn cậu biết rất nhiều.

Có đôi khi mình tự hỏi: NẾU cậu và mình đã gặp nhau trong những hoàn cảnh tuyệt đối bình thường, và NẾU chúng mình thích nhau, chuyện gì đã có thể xảy ra. Nếu mình là người bình thường và cậu cũng bình thường (mà tất nhiên là cậu như vậy rồi) và đã không có Kizuki, chuyện gì đã có thể xảy ra? Tất nhiên, chứ "NẾU" này quá lớn. Mình chỉ cố hết sức để ít ra cũng công bằng và thành thực. Lúc này mình chỉ có thể làm được vậy. Mình hy vọng truyền đạt được đến cậu vài phần nhỏ nhoi của tình cảm mình bằng cách này. Khác với bệnh viện thường, ở đây cho vào thăm tự do. Chỉ việc gọi trước một ngày, còn thì cậu có thể đến bất kì giờ nào. Cậu có thể ăn với mình, và có chỗ cho cậu ở lại. Khi nào tiện cậu hay đến thăm mình nhé.

Mình chờ đấy. Có cái bản đồ kèm theo đây. Xin lỗi đã viết dài thế này.

Tôi đọc một mạch hết lá thư của Naoko, rồi đọc lại nữa.

Sau đó tôi xuống nhà, mua một hộp côca ở máy tự động, và vừa uống vừa đọc lá thư một lần nữa. Tôi cho cả bảy tờ giấy viết vào lại phong bì và đặt nó lên bàn. Tên và địa chỉ của tôi viết trên chiếc phong bì màu hồng với những con chữ nhỏ và hoàn hảo, có vẻ quá chính xác từ tay một cô gái như vậy. Tôi ngồi bên bàn, nghiên cứu cái phong bì. Địa chỉ người gửi ở mặt sau đề là Nhà nghỉ Ami. Một cái tên kì quặc. Tôi nghĩ về nó mất mấy phút, rồi kết luận rằng "ami" chắc là từ "bạn" trong tiếng Pháp.

Sau khi cất bức thư vào ngăn kéo bàn, tôi thay quần áo và ra ngoài. Tôi sợ nếu cứ ở gần bức thư, tôi có thể sẽ đọc nó mười, hai mươi, hoặc bao nhiêu lần nữa ai mà biết được.

Tôi đi trên những con phố Tokyo ngày Chủ nhật mà không biết đi đâu, hệt như tôi vẫn đi với Naoko. Tôi lang thang từ phố này qua phố khác, nhớ lại bức thư của nàng từng dòng một và cố ngẫm nghĩ đến từng câu. Khi mặt trờỉ đã lặn, tôi trở về học xá và gọi đường dài đến Nhà nghỉ Ami. Một người đàn bà trực điện thoại nhấc máy và hỏi tôi có việc gì. Tôi hỏi liệu tôi có thể đến thăm Naoko vào chiều ngày hôm sau được không. Tôi xưng tên và bà dặn tôi hay gọi lại sau nửa giờ.

Cũng người đàn bà ấy trả lời khi tôi gọi lại sau bữa tối.

Tất nhiên là tôi có thể đến thăm Naoko, bà ta nói.

Tôi cám ơn, cúp máy, rồi cho mấy thứ áo quần thay đổi và vài đồ vệ sinh cá nhân vào balô. Rồi tôi nhặt cuốn Núi Thiêng lên, vừa đọc vừa nhấm nháp rượu mùi và chờ đến lúc buồn ngủ. Thế mà, mãi đến một giờ sáng tôi mới ngủ được.
 

root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
5,106
Reaction score
125
Points
9,999
Chương 6
Thức dậy lúc bảy giờ sáng thứ Hai, tôi lập tức rửa mặt, cạo râu, không ăn sáng mà đi thẳng đến văn phòng chủ nhiệm học xá và nói tôi sẽ đi chơi núi hai ngày. Ông ta đã quen với các chuyến đi ngắn như thế của tôi nên không ngạc nhiên gì cả. Tôi lên một chuyến tàu điện đông nghẹt đến ga Tokyo, mua vé tốc hành trên tàu siêu tốc đi Kyoto, và nhảy ngay lên chuyến đầu tiên trong ngày. Tôi chỉ điểm tâm bằng bánh kẹp với cà-phê, rồi ngủ thiếp đi khoảng một tiếng đồng hồ.

Tôi đến Kyoto vài phút trước mười một giờ. Theo chỉ dẫn của Naoko, tôi lấy xe buýt thành phố đến một trạm xe nhỏ phục vụ những khu ngoại ô phía bắc.

Chuyến xe buýt tiếp theo đến diểm đích của tôi mãi đến mười một giờ ba mươi lăm mới chạy, và đi đến đó sẽ mất khoảng một tiếng. Tôi mua vé và sang một hiệu sách bên kia đường mua một tấm bản đồ. Trở lại nơi đợi xe, tôi nghiên cứu bản đồ xem có thấy Nhà nghỉ Ami nằm chính xác chỗ nào không. Hoá ra nó ở sâu trong núi hơn tôi tưởng. Xe buýt sẽ phải chạy qua nhiều đồi núi về phía bắc, rồi khi hết đường sẽ vòng lại để trở về thành phố. Trạm xuống của tôi sẽ là trạm áp chót của tuyến này.

Theo lời Naoko, ở gần trạm ấy có một lối đi bộ, và nếu theo lối đó đi chừng hai mươi phút tôi sẽ đến Nhà nghỉ Ami. Sâu mãi trong núi như vậy nên chỗ ấy yên tĩnh đến thế là phải.

Chuyến xe khởi hành chỉ có chừng hai mươi khách, chạy men theo con sông Kamo qua mạn bắc Kyoto.

Những con phố đông đúc dần nhường chỗ cho cảnh nhà cửa thưa thớt hơn, rồi đến đồng ruộng và đất trống. Những mái nhà đá đen và sườn vách nilông của những nhà ươm cây lấp loá trong nắng đầu thu. Khi xe tiến vào khe núi, tài xế bắt đầu vặn lái bên này bên kia để bám theo những đoạn lượn và khúc quanh của con đường và tôi bắt đầu thấy chóng mặt, vị cà-phê từ sáng lại ứ lên tận cổ.

Đến khi đường đã đỡ quanh co và tôi bắt đầu thấy dễ chịu trở lại thì bất chợt chúng tôi lao vào một rừng tuyết tùng lạnh giá. Khu rừng chắc đã lâu đời lắm vì cây nào cũng cao vút rậm rạp, che hết cả nắng và bao phủ mọi vật trong những mảng bóng râm âm u. Gió lọt qua cửa sổ xe để mở lạnh toát và mang theo khí ẩm khiến da thịt nổi đanh đột ngột. Con đường núi bám theo bờ sông, hun hút mãi trong rừng và dài đến nỗi ta bắt đầu tưởng như cả thế giới này đã mãi mãi bị chôn vùi dưới tán tuyết tùng; nhưng đúng lúc ấy thì hết rừng, và chúng tôi chạy ra một lung sông rộng lớn có những ngọn núi bao quanh.

Nông trại xanh tươi rộng rãi trải ra khắp bốn phía, và con sông ven đường chói chang và trong trẻo. Một sợi khói trắng bốc lên từ đàng xa. Nhiều nhà phơi quần áo ngoài nắng, và tiếng chó tru tréo ầm ĩ. Nhà trại nào cũng có củi chất đống lên đến tận hồi nhà ở phía trước, và thường có một con mèo nằm cuộn tròn ở đâu đó trên đống củi. Hai bên đường toàn những nhà như thế một đoạn dài, nhưng tôi không nhìn thấy một người nào hết.

Cảnh vật cứ nhắc đi nhắc lại như thế. Vào rừng tùng, ra đến làng, rồi lại vào rừng. Xe dừng lại ở một vài làng cho người xuống, nhưng không có khách nào lên xe.

Bốn mươi phút sau khi rời thành phố thì đến một con đèo cao tầm nhìn rất rộng rãi. Tài xế dừng xe và tuyên bố chúng tôi sẽ phải đợi ở đó chừng năm sáu phút, mọi người có thể xuống xe nếu muốn. Chỉ còn có bốn khách trên xe, kể cả tôi. Tất cả đều xuống xe duỗi chân duỗi tay hoặc hút thuốc và ngắm nhìn toàn cảnh Kyoto ở mãi dưới xa. Bác tài lẩn sang một bên đi giải. Một ông rám nắng chừng non ngũ tuần mang theo một hộp bìa lớn buộc dây cẩn thận hỏi có phải tôi lên đây để đi bộ trên núi không. Tôi bảo phải, cho đỡ chuyện.

Cuối cùng thì một chiếc xe buýt khác từ bên kia đèo leo lên đến chỗ chúng tôi và đỗ lại bên cạnh. Ông tài nhảy ra khỏi xe, trao đổi ngắn gọn với bác tài của chúng tôi, rồi hai người ai về xe người nấy. Bốn chúng tôi về chỗ của mình, và hai chiếc xe ai đi đường nấy, ngược hướng nhau.

Tôi vẫn chưa hiểu tại sao xe chúng tôi phải đợi như vậy, nhưng chỉ đi một đoạn ngắn xuống bên này đèo thì con đường bỗng hẹp hẳn lại. Hai xe buýt lớn sẽ không thể tránh nhau trên đoạn đường ấy, và thực tế là ngay cả xe con thường đi ngược chiều cũng phải khéo lắm mới lọt được, thường là một xe phải lùi lại và nép hẳn vào một quãng trồi của một khúc quanh. Những ngôi làng ven đường lúc này nhỏ hơn nhiều, và những khoảnh đất bằng để canh tác còn hẹp hơn nữa. Núi dốc hơn, vách núi như ép gần vào cửa sổ xe hơn. Nhưng hình như người ta vẫn nuôi nhiều chó như những làng khác, và khi xe chạy qua làng, chúng tha hồ thi nhau tru tréo.

Nơi tôi xuống xe không có gì hết - không nhà, không ruộng, chỉ có một cái biển đánh dấu trạm đỗ xe - một con suối nhỏ, và bắt đầu của lối mòn. Tôi đeo ba lô lên vai và bắt đầu đi theo lối mòn ấy. Con suối chảy dọc theo mép trái của lối mòn, và một khu rừng trơ trụi chạy bên mép phải. Đi theo lối mòn thoai thoải dốc ấy được độ mười lăm phút thì tới một con đường rẽ vào rừng ở phía bên phải, chỉ đủ rộng cho một chiếc xe nhó. Bên đường có một tấm biển đề: NHÀ NGHỈ AMI. KHU VỰC RIÊNG. CẤM VI PHẠM

Vết bánh xe hằn sắc nét chạy trên mặt đường xuyên qua rừng. Thi thoảng lại có tiếng chim vỗ cánh âm vang trong vòm cây. Âm thanh rõ rệt lạ thường, như được khuyếch đại để át những giọng nói khác của rừng.

Một lần, từ rất xa, tôi nghe tiếng gì đó có vẻ là một phát súng, nhưng rất nhỏ và nghẹt, như thể lọt qua nhiều lần màng lọc.

Qua quãng rừng ấy tôi tới một bức tường đá. Nó không cao hơn tôi, trốc tường không có rào giậu gì, nếu muốn tôi có thể trèo qua dễ dàng. Cánh cửa sắt đen sì trông cũng chắc chắn, nhưng lại mở toang, và không có ai trong nhà thường trực. Một tấm biển nữa giống cái trước dựng ngay cạnh cổng: NHÀ NGHỈ AMI. KHU VỰC RIÊNG. CẤM VI PHẠM. Có thể thấy người gác cổng đã vừa mới đi đâu đó: một chiếc gạt tàn đựng ba đầu mẩu thuốc, một cốc trà mới uống phân nữa, một cái đài bán dẫn trên giá, và chiếc đồng hồ treo tường gõ nhịp thời gian với một âm thanh khô khốc. Tôi chờ một lát cho người đó quay lại, nhưng khi thấy có vẻ không được, tôi bấm mấy nhát vào một thứ trông giống cái nút chuông. Khu vực ngay sau cổng vào là sân đậu xe. Trong đó có một chiếc xe buýt nhỏ, một cái Land Cruiser hai cầu, và một chiếc Volvo xanh nước biển sẫm. Sân có thể đậu được đến ba mươi xe, nhưng lúc ấy chỉ thấy có ba chiếc đó.

Hai ba phút trôi qua, rồi một người gác cổng mặc đồng phục xanh thuỷ quân xuất hiện ở con đường rừng trên một chiếc xe đạp sơn màu vàng. Một người cao lớn trạc ngoại lục tuần có mái tóc chải hất ngược ra sau. Ông ta dựa chiếc xe đạp vàng vào tường trạm gác và nói, "Rất xin lỗi đã để anh phải chờ," mặc dù giọng ông chẳng như vậy chút nào. Trên vành chắn bùn của chiếc xe có sơn con số 32. Khi tôi xưng tên, ông ta nhấc điện thoại và nhắc lại tên tôi hai lần với ai đó ở đầu dây bên kia, nói "Vâng, dạ, tôi biết rồi ạ" với người đó, rồi gác máy.

"Anh làm ơn vào khu nhà chính và hỏi gặp Bác sĩ Ishida nhé," ông bảo tôi. "Cứ theo đường này qua đám cây kia đến chỗ bùng binh. Sau đó đến chỗ rẽ thứ hai thì rẽ trái. Chỗ rẽ thứ hai kể từ bùng binh, anh nhớ nhé. Anh sẽ thấy một ngôi nhà cổ. Rẽ phải ở đó và đi qua một rặng cây nữa thì đến một toà nhà bê-tông. Đó là khu nhà chính. Dễ đi lắm, anh cứ nhìn biển hướng dẫn là được."

Tôi rẽ trái ở chỗ rẽ thứ hai từ bùng binh như đã dặn, và khi con đường ấy kết thúc thì đến một toà nhà cổ rất thú vị, rõ ràng đã tửng là nhà vườn của ai đó ngày xưa. Nó có một khu vườn xén tỉa rất chu đáo với nhưng tảng đá hình thù đẹp đẽ và một cây đèn lồng cũng bằng đá. Chắc phải là một nhà địa chủ giầu có lắm ngày trước. Rẽ phải qua rặng cây, tôi thấy một toà nhà bê-tông ba tầng. Nó được dựng trên một khu đất khoét vào vách núi, nên ba tầng lầu chẳng có vẻ gì là cao to oai vệ cả. Đó là một kiến trúc giản dị và gây ấn tượng mạnh về sự sạch sẽ.

Lối vào ở trên tầng hai. Tôi lên cầu thang, vào qua một cửa kính lớn và thấy một người đàn bà còn trẻ mặc bộ áo váy đỏ ngồi ở bàn tiếp tân. Tôi xưng tên và nói tôi được hướng dẫn vào đây để gặp bác sĩ Ishida. Bà ta mỉm cười và chỉ cho tôi một chiếc ghế sô-pha màu nâu, miệng nói rất nhỏ nhẹ mời tôi ngồi đợi bác sĩ. Rồi bà quay điện thoại. Tôi bỏ ba-lô xuống, ngồi thụt vào tấm nệm rất dày của chiếc ghế, và quan sát xung quanh. Đó là một sảnh đợi dễ chịu và sạch sẽ, có nhưng chậu cây trang trí, những bức tranh trừu tượng có gu, và sàn nhà bóng loáng. Khi đợi, tôi cứ nhìn mãi bóng phản chiếu của chính đôi giày mình ở dưới sàn.

Một lúc sau, bà tiếp tân nói với tôi, "Bác sĩ sắp đến rồi đấy ạ". Tôi gật đầu. Yên tĩnh kinh khủng. Không có bất kì loại tiếng động nào. Như thể tất cả đều đang ngủ trưa. Người, súc vật, côn trùng, cây cỏ đều đang ngủ say, tôi nghĩ bụng, một buổi chiều yên tĩnh đến thế là cùng.

Nhưng một lúc sau, tôi nghe tiếng đế giày cao-su bước nhẹ nhàng, và một chị đã đứng tuổi có mái tóc lởm chởm như gai xuất hiện. Chị đi như lướt qua khu sảnh rộng, ngồi xuống cạnh tôi, bắt chéo chân và cầm lấy tay tôi Đáng nhẽ bắt tay thì chị lại lật đi lật lại xem xét bàn tay tôi.

Câu đầu tiên chị nói với tôi là: "Cậu chưa chơi một nhạc cụ nào ít nhất mấy năm nay rồi, đúng không nào?"

"Đúng vậy," tôi đáp, rất ngạc nhiên. "Chị nói đúng."

"Nhìn tay cậu thì biết," chị mỉm cười.

Có cái gì đó gần như bí hiểm về người đàn bà này. Mặt chị rất nhiều nếp nhăn. Đó là điều nổi bật đầu tiên, nhưng chúng lại không làm cho chị trông già đi tí nào. Không những thế, chúng lại còn làm nổi lên một vẻ trẻ trung ở chị mà tuổi tác không có tác dụng gì hết. Những nếp nhăn ấy ở rất đúng chỗ của chúng, như thể chúng đã có đó từ khi chị mới đẻ. Khi chị cười, chúng cũng cười theo; và khi chị nhăn nhó, chúng cũng nhăn nhó theo. Còn khi chịu không cười mà cũng chẳng nhăn thì chúng nằm rải rác khắp gương mặt chị với một vẻ ấm áp nghịch ngợm rất lạ lùng. Đây là một người đàn bà đã gần bốn mươi tuổi có cái vẻ không những là một người tốt mà cái tốt ấy của chị còn thu hút được cả tôi. Vừa gặp là tôi thích chị liền.

Cắt xén một cách hoang dại, tóc chị dựng đứng thành từng mảng và vành ngoài thì gẫy gập rủ xuống trán, nhưng kiểu tóc đó lại hoàn toàn hợp với chị. Chị mặc sơ-mi lao động xanh da trời bên ngoài áo phông trắng, quần vải bông màu kem, và giày tennis. Cao và mảnh khảnh, chị hầu như không có ngực. Cặp môi thường xuyên nhếch sang một bên như hơi cong lên giễu cợt, và những nếp nhăn ở khóe mắt động đậy như hơi rung rinh. Chị giống một nữ thợ mộc lành nghề, tốt bụng nhưng có vẻ hơi chán đời.

Rụt cằm lại và cong môi lên, chị để ra hẳn một lúc để ngó tôi từ đầu đến chân. Tôi tưởng như chị sắp rút thước dây ra và đo đắn tôi khắp nơi ngay bấy giờ.

"Cậu có chơi nhạc cụ nào không?" chị hỏi.

"Rất tiếc là không," tôi đáp.

"Chán nhỉ," chị nói. "Có thì vui quá."

"Chắc thế," tôi nói. Nhưng sao lại toàn chuyện đàn địch như vậy nhỉ?

Chị lấy một bao Seven Stars từ túi áo ngực ra, đặt một điếu lên miệng, châm bằng bật lửa, rồi bắt đầu rít với vẻ khoái trá rõ rệt.

"Tôi có nhớ là phải nói qua về chỗ này cho cậu… Watanabe, có phải không ạ? - trước khi cậu gặp Naoko. Cho nên tôi đã thu xếp để hai chúng ta chuyện trò với nhau một tí như thế này. Nhà nghỉ Ami cũng hơi bất thường một chút, và cậu có thể thấy lúng túng nếu không biết đôi chút về hoàn cảnh của nó. Tôi nói thế có phải không ạ? Có phải cậu chưa biết gì về cơ sở này, phải không ạ"

"Hầu như không biết gì."

"Vậy thì, đầu tiên là…" chị bắt đầu, nhưng rồi lại búng tay một cái. "Xem đã nào, cậu đã ăn trưa chưa nào? Chắc cậu đói bụng rồi."

"Quả có thế, chị nói đúng."

"Vậy hãy đi với tôi. Ta có thể vừa ăn vừa nói chuyện trong nhà ăn. Giờ ăn qua rồi, nhưng nếu đi ngay may ra họ vẫn có thể làm cái gì đó cho mình."

Chị dẫn đường, rảo bước theo một hành lang và một đợt cầu thang xuống nhà ăn ở tầng một. Một gian phòng rộng, có lẽ đủ chỗ cho hai trăm người, nhưng chỉ có nửa phòng được sử dụng, nửa kia ngăn ra, như một khách sạn nghỉ mát chưa vào mùa. Thực đơn hôm đó có món khoai tây hầm với mì sợi, rau trộn, nước cam và bánh mì. Rau cỏ quả có tươi ngon như Naoko đã nói trong thư, và tôi chén sạch trơn đĩa của mình.

"Rõ là cậu ăn thật ngon miệng!" người bạn nữ của tôi nói.

"Ngon tuyệt," tôi nói. "Với lại, từ sáng đến giờ tôi hầu như chưa có gì vào bụng."

"Nếu vậy thì mời cậu ăn hộ phần tôi luôn đi. Tôi no rồi. Đây này, cậu ăn đi."

"Vâng, nếu chị thực sự không muốn ăn nữa."

"Bụng tôi bé. Chẳng chứa được là mấy. Tôi phải bù bằng thuốc lá." Chị đốt một điếu Seven Stars nữa. "À mà cậu có thể gọi tôi là Reiko. Ai cũng gọi tôi như vậy cả."

Reiko có vẻ rất khoái nhìn tôi ăn món khoai tây hầm mà chị hầu như chưa đụng tới, và nhồm nhoàm cả phần bánh mì của chị nữa.

"Chị là bác sĩ của Naoko à?" tôi hỏi.

"Tôi á? Bác sĩ của Naoko ư? Chị nhăn hết cả mặt lại. "Sao cậu lại nghĩ tôi là bác sĩ?"

"Họ dặn tôi tìm gặp bác sĩ Ishida mà."

"À tôi hiểu rồi. Không phải đâu, tôi dạy nhạc ở đây. Cũng là một cách đìều trị đối với một số bệnh nhân, nên để đùa họ cứ gọi tôi là "Bác sĩ âm nhạc" và đôi khi là "Bác sĩ Ishida". Nhưng tôi chỉ là một bệnh nhân thôi. Tôi ở đây được bảy năm rồi. Tôi làm giáo viên dạy nhạc và giúp việc văn phòng, nên bây giờ cũng chẳng biết mình là bệnh nhân hay là cán bộ nữa. Naoko không kể gì về tôi cho cậu nghe à?"

Tôi lắc đầu.

"Lạ nhỉ," Reiko nói. "Tôi ở cùng phòng với Naoko. Tôi thích sống với cô ấy. Chúng tôi nói với nhau đủ chuyện. Kể cả về cậu."

"Về tôi thế nào ạ?"

"Thế nào ư? Nhưng trước hết tôi phải giới thiệu chỗ này với cậu đã," Reiko nói, tảng lờ câu hỏi của tôi. "Điều đầu tiên cậu cần biết là đây không phải là một bệnh viện thông thường. Nó chữa trị thì ít mà giúp hồi phục là chính. Chúng tôi cũng có mấy bác sĩ tất nhiên rồi, và họ có những giờ làm việc với bệnh nhân, nhưng chỉ là để kiểm tra tình trạng của bệnh nhân, đo nhiệt độ và những thứ đại loại thế, chứ không điều trị như trong một bệnh viện thông thường. Ở đây cửa sổ không có chấn song, và cửa luôn để ngỏ. Mọi người ra vào tự nguyện. Trước hết là cậu phải thích hợp với kiểu hồi phục ấy thì mới được nhận vào đây. Nếu có người cần phải được điều trị đặc biệt thì sẽ được gửi đến bệnh viện chuyên khoa về lĩnh vực ấy. Đến đây vẫn ôkê chứ."

"Tôi nghĩ vậy," tôi nói. "Nhưng "hồi phục" ở đây bao gồm những gì? Chị có thể ví dụ cụ thể được không?"

Reiko thở ra một đám khói rồi uống nốt chỗ nước cam còn lại của chị. "Cứ sống ở đây là hồi phục rồi," chị nói. "Một lịch sinh hoạt đều đặn, tập tành, cách biệt với thế giới bên ngoài, không khí trong lành, yên tĩnh. Nông trại của chúng tôi giúp chúng tôi gần như tự cũng tự cấp được; không có TV và radio. Chúng tôi giống như một trong những công xã mà chắc cậu đã nghe đến nhiều rồi. Tất nhiên, một cái khác với công xã là phải tốn một mớ tiền tướng mới vào được đây."

"Một mớ tướng ư?"

"Thật ra cũng không đắt đến mức vô lối, nhưng không rẻ chút nào. Cứ nhìn cơ sở thiết bị ở đây mà xem. Chúng tôi có rất nhiều đất, một số ít bệnh nhân, một đội ngũ cán bộ lớn, và như trường hợp của tôi thì tôi đã ở đây rất lâu rồi. Đúng là tôi có được nhiều ưu đãi vì bản thân cũng đã gần như là cán bộ, nhưng ngay cả thế thì cũng vẫn cứ là… Thôi nào, cậu làm một tách cà-phê chứ."

Tôi nói được thế thì tốt. Chị dụi thuốc rồi ra quầy rót hai cốc cà-phê từ một cái ấm và mang cả lại chỗ chúng tôi đang ngồi. Chị cho đường vào cốc của mình, khuấy lên, nhăn mặt, rồi nhấp một ngụm.

"Cậu biết không," chị nói, "viện điều dưỡng này không phải là cơ sở doanh nghiệp kiếm lãi, cho nên nó có thể tiếp tục tính tiền không đến nỗi đắt lắm so với thông thường. Đất là được hiến. Họ lập công ty vì mục đích ấy. Toàn bộ chỗ này là nhà nghỉ hè của ông chủ đất cũ hai mươi năm trước đây. Tôi chắc là cậu thấy ngôi nhà cổ rồi phải không?"

Tôi bảo đã.

"Trước đây chỉ có mỗi ngôi nhà ấy. Họ tổ chức điều trị nhóm ở đó. Mọi chuyện đã bắt đầu như vậy. Con trai ông chủ hiến đất có khuynh hướng tâm thần và một Chuyên gia đề nghị điều trị nhóm cho anh ta. Lý thuyết của vị bác sĩ ấy là nếu ta có thể đưa một nhóm bệnh nhân về sống ở đồng quê, giúp nhau lao động và có một bác sĩ để theo dõi và kiểm tra, ta có thể chữa được một số bệnh. Họ đã thử, và hoạt động ấy phát triển, được tổ chức thành doanh nghiệp, và họ mở rộng đất canh tác, và năm năm trước đây mới xây thêm khu nhà chính."

"Có nghĩa là cách điều trị ấy có kết quả tốt."

"Cũng không phải tốt cho tất cả mọi trường hợp. Nhiều người không đỡ được chút nào. Nhưng cũng có nhiều người không thể có kết quả ở các nơi khác lại hoàn toàn bình phục ở đây. Cái hay nhất ở đây là cách mọi người giúp đỡ lẫn nhau. Ai cũng biết mình có khiếm khuyết ở mặt nào đó, nên đều có ý thức giúp đỡ nhau. Những nơi khác không theo phương pháp này, thật đáng tiếc. Bác sĩ là bác sĩ và bệnh nhân là bệnh nhân: bệnh nhân tìm đến bác sĩ để được giúp đỡ và bác sĩ ban phát sự giúp đỡ ấy cho bệnh nhân. Nhưng ở đây, chúng tôi ai cũng giúp nhau hết. Người nào cũng là gương soi của người khác, và các bác sĩ là một phần của chúng tôi. Họ quan sát chúng tôi ở bên cạnh và lẳng lặng bước vào giúp chúng tôi nếu thấy chúng tôi cần cái gì đó, nhưng có nhiều khi chúng tôi lại là người giúp đỡ họ. Nhiều khi chúng tôi giỏi hơn họ cái gì đó. Ví dụ, tôi đang dạy một bác sĩ chơi đàn dương cầm, và một bệnh nhân khác đang dạy một hộ lý tiếng Pháp. Kiểu thế. Bệnh nhân như chúng tôi thường được trời phú cho những khả năng đặc biệt. Nên mọi người ở đây đều bình đẳng - bệnh nhân, cán bộ, và cậu nữa. Còn ở đây thì cậu còn là một thành viên như chúng tôi, nên tôi giúp cậu và cậu giúp tôi."

Reiko mỉm cười, nhẹ nhàng động đậy tất cả các nếp nhăn trên mặt.

"Cậu giúp Naoko và Naoko giúp cậu."

"Vậy tôi sẽ phải làm gì? Cho một ví dụ đi."

"Đầu tiên cậu phải quyết định là cậu muốn giúp, và cậu cần được người khác giúp. Sau đó cậu phải hoàn toàn chân thực. Cậu sẽ không nói dối, không lấp liếm, không che giấu bất kì điều gì có thể làm cậu lúng túng. Chỉ có vậy thôi"

"Tôi sẽ cố," tôi nói. "Nhưng cho tôi biết được không, Reiko, tại sao chị lại ở đây những bảy năm trời? Nói chuyện với chị như thế này, tôi không thể tin là chị có trục trặc gì."

"Khi trời sáng thì không," chị nói với một vẻ mặt u ám. "Nhưng hễ đêm đến là tôi bắt đầu dãi rớt và lăn lộn dưới sàn nhà."

"Thật vậy ư?"

"Đừng có ngốc thế, tôi chỉ nói đùa thôi," chị nói, lắc đầu với một vẻ kinh tởm. "Tôi hoàn toàn lành mạnh ít nhất là hiện nay. Tôi ở lại đây vì tôi thích giúp người khác lành mạnh, dạy nhạc, trồng rau. Tôi thích chỗ này lắm. Tất cả đều là bạn bè không ít thì nhiều. So ra, thì tôi có gì ở thế giới bên ngoài nào? Tôi đã ba tám, sắp bốn mươi. Tôi không như Naoko. Chẳng có ai đợi tôi ra ở ngoài đó, chẳng có gia đình nào đón tôi trở lại. Tôi không có công trình gì để nói đến, và hầu như không có bạn. Đã sáu bảy năm, tôi không còn biết chuyện gì đang ở ngoài kia nữa. A, thi thoảng tôi cũng đọc một tờ báo trong thư viện, nhưng tôi chưa bao giờ đặt chân ra ngoài khu vực này trong suốt thời gian ấy. Tôi sẽ không biết mình sẽ làm gì nếu tôi đi khỏi đây."

"Nhưng có khi một thế giới mới sẽ lại mở ra với chị thì sao?" tôi nói. "Cũng đáng thử chứ, phải không ạ"

"Hừmm, cũng có thể cậu nói đúng," chị nói, không ngừng xoay cái bật lửa trong tay. "Nhưng tôi cũng có một loạt các vấn đề của riêng mình. Rồi sẽ có lúc tôi nói hết cho cậu nghe, nếu cậu thích."

Tôi gật đầu đáp lại. "Còn Naoko," tôi nói, "cô ấy có khá hơn chút nào không?"

"À chúng tôi nghĩ là có. Lúc đầu cô ấy có hơi hoang mang và đã có lúc chúng tôi thấy ngại, nhưng bây giờ thì cô ấy đã bình tĩnh hơn nhiều, đến độ đã có thể tự biểu cảm bằng lời nói. Chắc chắn là cô ấy đang đi đúng hướng. Nhưng nhẽ ra cô ấy phải được điều trị sớm hơn nhiều. Những triệu chứng của cô ấy đã rõ rệt ngay từ lúc bạn trai Kizuki của cô ấy tự vẫn. Nhẽ ra gia đình cô ấy phải thấy mới phải, và bản thân cô ấy nhẽ ra cũng phải thấy là có chuyện không ổn rồi. Tất nhiên, chuyện gia đình cô ấy cũng chẳng ổn, hoặc là…"

"Gia đình không ổn ư?" tôi vội hỏi.

"Cậu không biết à?" Reiko có vẻ còn ngạc nhiên hơn tôi.

Tôi lắc đầu.

"Tôi nên để Naoko tự kể cho cậu thì hơn. Cô ấy đã sẵn sàng cởi mở đôi điều với cậu đấy." Reiko khuấy cà-phê một lần nữa rồi lại nhấp một ngụm. "Có một cái nữa cậu cần biết," chị nói. "Theo nội quy ở đây, cậu và Naoko sẽ không được phép ở một mình với nhau. Khách đến thăm không được ở một mình với bệnh nhân. Lúc nào cũng phải có một quan sát viên, mà trong trường hợp của các cậu thì là tôi đấy. Xin lỗi nhé, nhưng cậu sẽ phải chịu đựng tôi thôi, ôkê?"

"Ôkê," tôi mỉm cười.

"Tuy nhiên," chị nói, "hai đứa các cậu có thể nói với nhau bất cứ chuyện gì. Cứ quên hẳn tôi đi. Mà tôi cũng đã biết hầu hết mọi chuyện về cậu và Naoko rồi."

"Hết mọi chuyện ư?"

"Gần như thế. Cậu biết là chúng tôi có những buổi điều trị nhóm mà. Nên chúng tôi biết rất nhiều về nhau. Thêm nữa là Naoko với tôi nói với nhau tất cả mọi chuyện. Chúng tôi không có nhiều bí mật ở đây đâu."

Tôi nhìn Reiko và uống cà-phê của mình.

"Nói thật với chị," tôi nói, "Tôi vẫn hoang mang lắm. Tôi vẫn không biết việc tôi làm với Naoko ở Tokyo là đúng hay là sai. Tôi vẫn suy nghĩ về nó suốt thời gian qua, nhưng vẫn không biết ra sao."

"Tôi cũng không biết," Reiko nói. "Và cả Naoko nữa. Đó là cái mà hai đứa các cậu phải tự quyết định. Cậu hiểu ý tôi nói không? Có chuyện gì đi nữa thì hai đứa các cậu cũng vẫn có thể quay nó về hướng đúng đắn - nếu các cậu có thể có được một thông cảm nào đó. Có lẽ, một khi các cậu đã giải quyết được chuyện đó, các cậu mới có thể quay lại và nghĩ xem chuyện xảy ra là đúng hay là sai. Cậu nghĩ sao?"

Tôi gật đầu.

"Tôi nghĩ ba đứa chúng ta có thể giúp nhau được - cậu và Naoko và tôi - nếu chúng ta thực tình muốn thế, và nếu chúng ta thực sự trung thực. Có ba người như thế có lẽ sẽ cực kỳ hiệu quả đấy. Cậu có thể ở lại đây bao lâu?"

"Tôi muốn trở lại Tokyo vào chiều tối ngày kia. Tôi phải đi làm, và phải dự kiểm tra tiếng Đức vào thứ Năm."

"Tốt," chị nói. "Vậy cậu có thể ở với chúng tôi. Như vậy cậu không phải trả tiền gì cả và có thể chuyện trò tha hồ không phải lo đến thời gian."

"Với chúng tôi?" tôi hỏi lại.

"Naoko với tôi, tất nhiên rồi," Reiko nói. "Chúng tôi có một phòng ngủ riêng, còn phòng khách thì có một cái sô pha kéo ra thành giường. Cậu sẽ ngủ ngon được. Đừng lo."

"Họ có cho phép thế không? tôi hỏi. "Khách đàn ông có được ngủ lại trong phòng phụ nữ không?"

"Tôi không nghĩ cậu sẽ vào hiếp chúng tôi lúc nữa đêm chứ."

"Chị đừng ngốc thế."

"Vậy là chẳng có vấn đề gì rồi. Ở với chúng tôi và chúng ta có thể chuyện trò thoả đáng. Đó là cái hay nhất. Rồi chúng ta mới có thể thực sự hiểu nhau. Còn tôi thì có thể chơi ghi-ta cho cậu nghe. Tôi chơi khá hay đấy cậu ạ."

"Chị chắc là tôi sẽ không làm phiền gì chứ."

Reiko đặt điếu Seven Stars thứ ba lên môi và châm lửa sau khi đã nhếch mép mấy lần.

"Naoko với tôi đã bàn chuyện này rồi. Hai chúng tôi đều cùng nhau có lời mời cậu ở với chúng tôi. Chẳng nhẽ cậu không thể lịch sự chấp nhận hay sao?"

"Có chứ ạ, và rất hân hạnh."

Reiko nhăn sâu các nếp nhăn bên khóe mắt và nhìn tôi một lúc. "Cậu có lối nói chuyện kì nhỉ," chị nói. "Chẳng nhẽ cậu định bắt chước anh chàng trong Bọn trẻ đồng xanh?"

"Đâu có!" tôi mỉm cười nói.

Reiko cũng mỉm cười theo, miệng vẫn ngậm điếu thuốc.

"Nhưng cậu là một người tốt lành đấy. Nhìn cậu, tôi có thể nói vậy. Tôi có thể phân biệt những chuyện này sau bảy năm quan sát những người ra vào nơi đây: có những người có thể cởi mở cõi lòng mình và có những người không thể làm được việc đó. Cậu thuộc loại đầu. Hoặc nói cho chính xác thì cậu có thể làm vậy nếu cậu muốn.

"Chuyện gì sẽ xảy ra khi người ta cởi mở cõi lòng mình?"

Reiko khoá hai bàn tay và đặt chúng lên bàn, điếu thuốc trễ trên môi. Chị đang thích thú lắm thì phải.

"Người ta sẽ tốt lành hơn," chị nói. Tàn thuốc rơi xuống bàn, nhưng chị có vẻ không để ý.

Reiko và tôi rời khu nhà chính, vượt qua một trái đồi, rồi đi qua một bể bơi, mấy sân bóng quần, và một sân bóng rổ. Hai người đàn ông - một người trung niên gày gò và một thanh niên béo phục phịch - đang chơi bóng quần. Cả hai đều sử dụng vợt thành thạo, nhưng tôi có cảm tưởng như họ đang chơi cái gì đó không phải bóng quần. Có vẻ như cả hai đều có chung một mối quan tâm đặc biệt đến cách nảy qua nảy lại của trái bóng và đang cùng nghiên cứu lĩnh vực đó. Họ đánh trái bóng qua lại với một thái độ tập trung rất lạ. Cả hai đều đẫm mồ hôi.

Anh thanh niên ở bên phía sân gần chúng tôi bỗng để ý thấy Reiko và chạy ra. Hai người trao đổi vài lời, miệng mỉm cười. Gần sân bóng, một người đàn ông có gương mặt không biểu lộ tí gì đang điều khiển một cái máy cắt cỏ lớn.

Đi tiếp chúng tôi đến một đám rừng trong đó có khoảng mười lăm hoặc hai mươi ngôi nhà nhỏ ngay ngắn đứng cách quang nhau khá xa. Ở trước cửa hầu hết các ngôi nhà ấy đều thấy có một chiếc xe đạp sơn vàng như của ông thường trực.

"Đây là khu nhà của gia đình cán bộ," Reiko nói. "Chúng tôi có đủ thứ, hầu như không phải vào thành phố," chị nói khi chúng tôi sánh bước. "Về thực phẩm thì như tôi đã nói, chúng tôi hầu như tự cấp được hết. Trứng thì chúng tôi nuôi gà đẻ. Chúng tôi có sách, đĩa hát, trang thiết bị thể dục, có cửa hàng bách hoá nhỏ riêng của chúng tôi, và tuần nào cũng có thợ cắt tóc và trang điểm đến phục vụ. Thậm chí cuối tuần nào cũng có chiếu phim. Cần thứ gì đặc biệt thì đề nghị cán bộ mua hộ trong thành phố. Quần áo thì đặt mua qua catalogue. Sống ở đây không có vấn đề gì hết."

"Nhưng không ai được phép vào thành phố phải không?"

"Đúng thế, cái đó thì chúng tôi không được phép. Tất nhiên nếu có chuyện gì đặc biệt, như phải đến nha sĩ chẳng hạn, thì lại là chuyện khác, nhưng quy định chung là chúng tôi không được vào phố. Ai cũng hoàn toàn được tự do ra khỏi nơi này, nhưng đã ra là không được trở lại nữa. Coi như cắt cầu. Không thể vào phố mấy ngày rồi lại mong quay lại đâu. Cũng là hợp lý thôi. Nếu cứ vậy, thì rồi ai cũng đi đi về về suốt."

Qua khỏi đám rừng chúng tôi đến một sườn đồi thoai thoải. Ở những quãng cách không đều nhau dọc sườn đồi ấy là một dãy những ngôi nhà gỗ hai tầng có cái gì đó là lạ. Rất khó nói cái gì làm cho chúng có vẻ là lạ như thế, nhưng đó là cảm giác đầu tiên của tôi khi mới nhìn thấy chúng. Phản ứng ấy của tôi rất giống với cảm giác khi ta thấy cái gì đó không có thực mà lại được vẽ ra một cách rất thú vị. Tôi bỗng nghĩ ra rằng có thể đó là cái cảm giác khi ta thấy một bộ phim hoạt hoạ của Wall Disney vẽ dựa trên một bức tranh của Munch. Tất cả những ngôi nhà ấy đều có hình dáng và màu sắc hệt như nhau, gần như một khối vuông, trái phải hoàn toàn đối xứng nhau, với cửa ra vào lớn và rất nhiều cửa sổ. Con đường chạy vòng vèo qua khu nhà ấy như một lộ trình giả tạo để luyện tập trong một trường dạy lái xe. Trước cửa nhà nào cũng có một dãy bụi hoa xén tỉa cẩn thận.

Không đâu có bóng người, và các cửa sổ đều buông rèm kín mít.

"Đây gọi là Khu C. Phụ nữ sống ở đây. Chúng tôi đấy! có mười nhà, mỗi nhà có bốn đơn nguyên, mỗi đơn nguyên hai người. Vị chi là tám mươi người tất cả, nhưng hiện thời chúng tôi chỉ có ba mươi hai người."

"Yên tĩnh quá, phải không ạ"

"Ấy là vì lúc này không có ai ở nhà," Reiko nói. "Tôi thì được phép tự do đi lung tung thế này, nhưng mọi người khác đều đang bận làm các việc theo lịch riêng của họ. Có người lúc này đang tập thể dục, có người đang làm vườn, có người đang dự nhóm điều trị, có người đang đi hái thuốc. Mỗi người tự lên lịch cho chính mình. Để xem bây giờ Naoko đang làm gì nào? Có lẽ cô ấy đang sơn hoặc lăn giấy dán tường ở đâu đó. Tôi không nhớ. Một số việc như vậy chỉ kết thúc vào lúc năm giờ."

Reiko vào ngôi nhà có đánh dấu "C-7", lên cầu thang ở cuối hành lang, rồi mở cánh cửa bên phải vẫn để không khoá. Chị dẫn tôi vào căn hộ đó, một đơn nguyên bốn phòng thú vị mặc dù hơi đơn điệu: phòng khách, phòng ngủ, bếp và nhà tắm. Không có đồ đạc gì thừa hoặc trang trí gì không cần thiết, mà vẫn không có vẻ khắc khổ. Chẳng có gì đặc biệt, nhưng ở trong căn hộ ấy cũng kiểu như ở bên cạnh Reiko: ta có thể thư giãn và để mọi căng thẳng rời bỏ thân xác mình. Phòng khách có một cái sô-pha, một cái bàn, và một cái ghế xích đu. Trong bếp có một cái bàn nữa. Bàn nào cũng có một cái gạt tàn to tướng. Phòng ngủ có hai giường, hai bàn viết và một khoang tủ quần áo. Giữa hai đầu giường là một cái bàn đêm có cây đèn và một cuốn sách bìa mềm đọc dở úp trên đó. Bếp có một cái nồi điện nhỏ cân xứng với một cái tủ lạnh nhỏ, và được bố trí thiết bị để có thể nấu nướng đơn giản.

"Không có bồn tắm, chỉ có hương sen, nhưng cũng được đấy chứ, cậu thấy thế nào? Tắm bồn và giặt giũ thì vào nhà tắm chung."

"Quá tốt rồi. Phòng học xá của tôi chỉ có một cái trần và một cửa sổ"

"A, nhưng cậu chưa thấy mùa đông ở đây," Reiko nói, chạm tay vào lưng tôi để hướng tôi vào cái sô-pha rồi ngồi xuống cạnh tôi. "Dài và khắc nghiệt. Chẳng có gì ngoài tuyết và tuyết và tuyết, nhìn đâu cũng chỉ có thế. Ẩm thấp và lạnh thấu xương. Suốt mùa đông chúng tôi chỉ xúc tuyết. Hầu hết là chỉ ở trong nhà cho ấm, nghe nhạc, tán chuyện hoặc đan lát. Nếu không rộng rãi thế này thì chết ngạt. Cậu sẽ hiểu nếu cậu đến đây vào mùa đông."

Reiko thở dài thườn thượt như đang mường tượng cảnh mùa đông, rồi úp cả hai bàn tay lên hai đầu gối.

"Đây sẽ là giường của cậu," chị nói, vô vỗ cái sô-pha. "Chúng tôi ngủ trong phòng kia, còn cậu sẽ ngủ ở đây. Thế được chứ, cậu nghĩ sao?"

"Nhất định là được rồi."

"Vậy là xong nhé," Reiko nói. "Chúng tôi sẽ về khoảng năm giờ. Naoko và tôi đều có việc phải làm cho đến lúc đó. Cậu chịu khó ở đây một mình được không?"

"Được chứ ạ. Tôi sẽ làm bài tiếng Đức của mình."

Khi Reiko đã đi rồi, tôi nằm dài trên sô-pha và nhắm mắt lại. Tôi nằm đó, đắm mình vào cái im lặng, rồi bỗng nhớ lại thời Kizuki và tôi đi chơi bằng môtô với nhau. Thì ra đó cũng là vào mùa thu. Mùa thu, mấy năm rồi nhỉ. Phải rồi, bốn năm. Tôi nhớ lại mùi chiếc áo da của Kizuki và tiếng động cơ đinh tai của chiếc Yamaha 125 phân khối màu đỏ. Chúng tôi phóng đến một nơi mãi tít dưới bở biển rồi trở lại ngay tối hôm đó, mệt nhoài. Chẳng có gì đặc biệt trong chuyến đi ấy, nhưng tôi nhớ nó rất rõ. Gió thu quật rát hai bên tai, và vừa ngẩng nhìn trời vừa bám chặt lấy cái áo da của Kizuki, tôi nhớ như mình có thể bị gió thổi bay lên vũ trụ.

Tôi nằm đó rất lâu, mặc cho tâm trí lang thang từ kí ức này sang kí ức khác. Không hiểu sao, khi nằm trong gian phòng ấy tôi bỗng nhớ lại những kỉ niệm xa xôi mà trước đấy tôi rất ít khi hoặc chưa bao giờ nhớ đến. Nhiều kỉ niệm thật vui, nhưng nhiều cái buồn man mác.

Như thế này bao lâu rồi nhỉ? Tôi đắm đuối trong dòng thác hồi tưởng (quả thực là một dòng thác, như một ngọn suối vọt ra từ khe đá) đến nỗi không biết là Naoko đã lẳng lặng mở cửa và bước vào nhà. Tôi mở mắt, và nàng đã ở đó rồi. Tôi ngẩng đầu và nhìn vào đôi mắt nàng một lúc lâu. Nàng đang ngồi lên tay ghế sô-pha nhìn tôi. Lúc đầu tôi nghĩ nàng chỉ là một hình ảnh hiện ra từ những kí ức của tôi. Nhưng đó là Naoko bằng xương bằng thịt.

"Hơi hơi rồi," nàng nói, lại đưa tay lên dải buộc đầu. "Nhưng hết giờ rồi. Mình phải đi đã."

Tôi gật đầu.

"Toru này," nàng bắt đầu, "Mình thực lòng cảm ơn cậu đã đến thăm. Mình hạnh phúc lắm. Nhưng nếu ở đây mà cậu thấy nặng nề, cậu cứ việc bảo mình ngay nhé. Đây là một nơi đặc biệt, và nó có một chế độ đặc biệt, và có những người không thể hoà nhập được. Vậy nếu cậu thấy thế thì hãy làm ơn cho mình biết thực lòng nhé. Mình sẽ không sao đâu. Ở đây chúng mình chân thực với nhau. Chúng mình nói với nhau mọi thứ với tháị độ hoàn toàn chân thực."

"Mình sẽ cho cậu biết," tôi nói. "Mình sẽ chân thực."

Naoko ngồi xuống và dựa vào tôi trên sô-pha. Khi tôi quàng tay quanh người nàng, nàng dựa đầu lên vai tôi và dụi mặt vào cổ tôi. Nàng giữ tư thế ấy một lúc, như thể đang đo nhiệt độ cho tôi. Ôm nàng trong tay, tôi thấy ngực mình ấm áp. Một lúc sau, nàng lẳng lặng đứng dậy rồi đi ra cửa, cũng im lìm như lúc nàng vào nhà.

Naoko đi rồi, tôi ngủ thiếp đi trên sô-pha. Tôi không định thế, nhưng cứ thiếp đi vào một giấc ngủ sâu chưa từng có đã rất lâu rồi, và tràn đầy một cảm thửc về sự có mặt của Naoko. Trong bếp là những bát đĩa Naoko vẫn dùng, trong nhà tắm là chiếc bàn chải đánh răng Naoko vẫn dùng, và trong phòng ngủ là chiếc giường Naoko vẫn ngủ. Ngủ say trong căn hộ của nàng, tôi vắt kiệt cảm giác mệt nhọc ra khỏi từng tế bào của thân xác mình, từng giọt một. Tôi mơ thấy một con bướm đang bay lượn như múa trong ánh sáng mờ ảo.

Khi tỉnh lại, kim đồng hồ trên tay tôi chỉ bốn giờ ba mươì lăm phút. Ánh sáng đã khác, gió đã ngừng thổi, hình dạng nhưng đám mây cũng đã đổi khác. Tôi ra mồ hôi trong khi ngủ, nên lấy một chiếc khăn nhỏ trong ba-lô ra lau mặt và thay một chiếc áo chẽn mới. Vào trong bếp, tôi uống nước rồi đứng đó nhìn qua cửa sổ phía trên bồn rửa. Tôi đang nhìn thẳng sang một cửa sổ của toà nhà đối diện, bên trong thấy treo nhiều hình cắt giấy: một con chim, một đám mây, một con bò, một con mèo, tất cả được cắt rất khéo và được nối với nhau. Cũng như trước, không có bóng dáng một người nào ở quanh đó, và không có bất cứ một thứ tiếng động gì. Tôi cảm thấy như đang đứng một mình giữa một nơi hoang phế được chăm sóc rất cẩn thận.

Sau năm giờ thì mọi người bắt đầu lục tục quay về Khu C. Nhìn qua cửa sổ bếp, tôi thấy ba người đàn bà đi ngang qua ở bên dưới. Tất cả đều đội mũ nên tôi không thể đoán tuổi họ, nhưng nghe giọng nói thì họ có vẻ không còn trẻ nữa. Ngay sau khi họ khuất dạng sau góc nhà, lại thấy bốn người nữa xuất hiện ở cùng hướng đó và cũng biến mất sau góc nhà đó. Mọi vật đắm chìm trong một tâm trạng chiều tà. Qua cửa sổ phòng khách tôi có thể thấy rừng và một rặng đồi. Một dải nắng nhạt lửng lơ trên rặng đồi ấy. Naoko và Reiko về nhà cùng với nhau lúc năm rưỡi.

Naoko và tôi chào nhau đúng mực như thể mới gặp nhau lần đầu. Nàng có vẻ lúng túng thật sự. Reiko để ý thấy cuốn sách tôi đang đọc và hỏi đó là cuốn gì. Núi Thiêng của Thomas Mann, tôi bảo chị.

"Sao cậu có thể đem theo một cuốn sách như thế đến nơi này được nhỉ?" chị hỏi. Chị có lý, rõ quá rồi.

Sau đó Reiko làm cà-phê cho cả ba chúng tôi. Tôi kể cho Naoko về sự biến mất đột ngột của Quốc-xã và về lần cuối cùng chúng tôi còn thấy nhau, khi hắn cho tôi con đom đóm.

"Cậu ta biến mất như vậy thật đáng tiếc," nàng nói. "Mình vẫn muốn nghe thêm chuyện về cậu ta."

Reiko hỏi Quốc-xã là ai, tôi bèn kể cho chị nghe những câu chuyện đã thành cổ tích về hắn và chị được một mẻ cười vỡ bụng.

Thế giới thanh bình và tràn ngập tiếng cười mỗi khi được nghe chuyện về Quốc-xã.

Sáu giờ thì chúng tôi đến nhà ăn ở khu nhà chính ăn tối. Naoko với tôi ăn cá rán với rau trộn, rau luộc, cơm trắng và súp đậu tương. Reiko chỉ ăn rau trộn mì với cà-phê, rồi đến một điếu thuốc lá.

"Già rồi đâu có cần ăn nhiều," chị nói như để giải thích.

Khoảng hai mươi người khác đã đang ở trong nhà ăn. Trong khi chúng tôi ăn, có vài người nữa đến, và cũng vài người đi. Ngoài chuyện tuổi tác khác nhau của những người ở đây, quang canh nhà ăn cũng không khác là mấy so với ở khu học xá của tôi. Có cái khác là ở đây mọi người trò chuyện bằng một giọng đều đều. Không có hò hét mà cũng không có thì thầm, không ai cười, không ai khóc, không ai làm bộ tịch và kêu gào, chỉ có những đối thoại yên ắng, và tất cả đều bằng một giọng đều đều.

Người ta ăn thành từng mâm từ ba đến năm người, mỗi mâm có một diễn giả duy nhất mà cả mâm đều gật gù lắng nghe và tán thưởng, và khi người đó đã nói xong thì người khác lại bắt đầu lên tiếng. Tôi không thể biết mọi người đang nói những chuyện gì, nhưng cung cách của họ làm tôi nhớ đến trận bóng quần lạ lùng đã thấy hồi trưa. Tôi tự hỏi liệu Naoko có nói năng như thế không khi ăn cùng với họ, và lạ lùng thay, tôi bỗng thấy một thoáng cô đơn nhuốm màu ghen tị.

Ở bàn sau, một ông hói đầu mặc áo choàng trắng có điệu bộ oai vệ của một bác sĩ đang phải cầm cự với một thanh niên đeo kính trông rất lo lắng và một bà mặt chuột đứng tuổi về tác dụng của tình trạng mất trọng lượng đối vởi quá trình bài tiết các chất lỏng tiêu hoá. Hai người kia lắng nghe với những "Trời đất ơi" hoặc "Thật ư" chêm vào lúc này lúc khác, nhưng càng nghe ông hỏi nói năng tôi càng cảm thấy không biết ông ta có phải là bác sĩ thật không, mặc dù mặc áo choàng trắng.

Không ai trong nhà ăn để ý đặc biệt gì đến tôi. Không ai nhìn tôi, hoặc thậm chí có vẻ như biết có tôi ở đó. Sự có mặt của tôi chắc phải là một sự kiện hoàn toàn tự nhiên. Tuy vậy, có một lần, ông mặc áo trắng quay lại hỏi tôi "Anh sẽ ở lại đây bao lâu?"

"Hai đêm," tôi nói. "Thứ Tư thì tôi đi."

"Bây giờ thì ở đây đang đẹp, phải không nào? Nhưng anh phải trở lại vào mùa đông kia. Lúc ấy mới thực là đẹp. Cái gì cũng trắng muốt hết."

"Có thể lúc tuyết xuống thì Naoko cũng không ở đây nữa rồi," Reiko bảo ông ta.

"Đúng thế, nhưng mà, mùa đông mới thực là đẹp," ông ta nhắc lại với vẻ ảm đạm. Tôi lại càng không chắc ông có phải là bác sĩ hay không.

"Mọi người thường chuyện trò những gì vậy?" tôi hỏi Reiko. Chị có vẻ như chưa hiểu tôi hỏi gì.

"Bọn tôi nói chuyện gì với nhau ư? Thì những chuyện thường thường vậy thôi. Trong ngày có chuyện gì xảy ra, ai mới đọc được những sách gì, ngày mai thời tiết sẽ ra sao, cậu còn lạ gì. Chẳng nhẽ cậu tưởng sẽ có người nhảy lên và hò hét những chuyện như "Mai trời sẽ mưa nếu đêm nay gấu trắng ăn hết sao trên trời!" hay sao?"

"Không, không, tất nhiên là không rồi," tôi nói. "Tôi chỉ đang tự hỏi những đối thoại rì rầm kia là những chuyện gì mà thôi."

"Đây là một nơi yên ắng, nên mọi người nói năng yên ắng vậy thôi," Naoko nói. Nàng xếp xương cá thành một đống gọn ghẽ ở mép đĩa và chấm chấm miệng bằng một chiếc khăn tay. "Ở đây không ai phải lên giọng làm gì Không cần phải thuyết phục ai về chuyện gì, cũng không cần phải làm cho ai phải chú ý. Mình chỉ có một mình và trời thì lạnh và tối, và chẳng có ai đến cứu mình. Chính vì vậy mà Reiko chỉ chơi nó khi nào mình yêu cầu thôi."

"Nghe như Cazablanca (*) ấy nhỉ? Reiko cười.

Naoko nói nàng muốn nghe chuyện tôi sống hàng ngày ra sao. Tôi kể cho nàng về vụ sinh viên bãi khoá và về Nagasawa. Đó là lần đầu tiên tôi kể cho nàng nghe về anh chàng đó. Tôi thấy như mình bị thách thức khi cố nói cho thật chính xác về nhân cách lạ lùng của con người ấy, thứ triết lý độc đáo của hắn, và hệ giá trị đạo đức không có trọng tâm của hắn; nhưng Naoko có vẻ cuối cùng cũng nắm được những cái tôi đang cố kể cho nàng. Tôi giấu chuyện đi săn gái với hắn, chỉ tiết lộ rằng người duy nhất trong học xá mà tôi thực sự thấy đáng chơi lại chính là anh chàng bất thường này. Trong khi đó, Reiko mải mê tập lại bài phức điệu của Bach mà chị đã chơi lúc trước, thỉnh thoảng lại nghỉ uống rượu và hút thuốc.

"Hắn là người kì lạ," tôi nói.

"Mình cũng không biết nữa," tôi nói. "Có lẽ mình không thể nói là mình thích hắn. Nagasawa đã vượt quá ngưỡng của thích và không thích. Hắn không cố để được thích. Về mặt đó, hắn là một anh chàng rất chân thành, thậm chí khắc kỉ. Hắn không định lỡm ai bao giờ."

"Có thể đến tám mươi rồi," tôi nói. "Nhưng trong trường hợp của hắn, con số ấy càng lớn thì những hành động đơn lẻ kia càng ít có ý nghĩa. Mà đấy có lẽ là cái mà hắn muốn đạt tới."

Naoko nghĩ về những lời tôi nói trong một phút, rồi nói:

"Mình nghĩ hắn bệnh trong đầu hơn mình nhiều."

"Có lẽ mình xuất sắc ngược lại," Naoko nói. "Mình chẳng hiểu tí gì những cái họ đang làm ở đây - chẳng hơn gì việc hiểu chính mình."

Naoko co chân lên sô-pha và tựa cằm vào đầu gối.

"Mình chỉ là một thằng bình thường - gia đình bình thường, học hành bình thường, mặt mũi bình thường, kết quả thi bình thường, với những ý nghĩ bình thường trong đầu."

"Đúng thế," tôi nói. "Nhưng đây không phải là làm bộ. Từ tận đáy lòng, mình thực sự tin rằng mình là một người bình thường. Cậu có thể tìm thấy cái gì ở mình mà lại không bình thường không nào?"

"Không, tất nhiên mình không nghĩ thế," tôi nói.

"Cậu đã ngủ với bao nhiêu cô rồi hả Toru?" Naoko hỏi với một giọng khẽ khàng như thể ý nghĩ ấy vừa mới thoáng hiện lên trong tâm trí nàng.

"Tám hoặc chín," tôi thành thật đáp.

Reiko dựng cây ghi-ta lên lòng. "Cậu còn chưa đến hai mươi!" chị nói. "Cậu sống kiểu gì vậy hả."

"Mình không định chống chế đâu, nhưng mình thấy đau khổ," tôi nói với Naoko. "Đấy, hầu như tuần nào mình cũng gặp cậu, chuyện trò với cậu, và biết rằng con người duy nhất trong trái tim cậu là Kizuki. Chuyện đó đau. Thực đau. Và có lẽ vì thế mà mình ngủ với nhưng cô gái không quen biết."

Naoko lắc đầu một vài lần, rồi nàng ngẩng lên về phía tôi. "Lần ấy cậu đã hỏi tại sao mình chưa bao giờ ngủ với Kizuki, đúng không? Cậu có còn muốn biết nữa không?"

"Có lẽ đó là điều mà mình bắt buộc phải biết," tôi nói.

"Mình cũng nghĩ vậy," Naoko nói. "Người chết sẽ luôn là người chết, còn chúng ta phải tiếp tục sống."

Tôi gật đầu. Reiko chơi đi chơi lại mãi một đoạn nhạc, cố cho thật đúng.

"Mình đã sẵn sàng để ngủ với cậu ấy," Naoko nói, tháo dải buộc đầu ra và buông tóc xuống. Nàng nghịch cái hình con bươm bướm trong tay. "Và lẽ tất nhiên là cậu ấy muốn ngủ với mình. Và bọn mình thử. Bọn mình thử nhiều lần lắm. Nhưng chẳng lần nào được cả. Hai đứa mình không thể làm được chuyện đó. Lúc ấy mình không hiểu tại sao, và bây giờ vẫn vậy. Mình yêu cậu ấy và cũng chẳng sợ mất trinh. Mình sẽ rất vui được làm bất kì những gì cậu ấy muốn. Nhưng chẳng bao giờ ra sao cả."

Naoko nhấc món tóc vừa buông lúc nãy lên và buộc lại.

"Mình không thể nào ướt được," nàng nói, chỉ hơi nghe thấy giọng. "Mình không bao giờ mở được mình cho cậu ấy. Nên lần nào cũng đau. Chỉ vì quá khô, nên rất đau đớn. Bọn mình thử đủ mọi thứ có thể nghĩ ra được các loại kem bôi trơn với đủ thứ khác - nhưng mình vẫn đau đớn. Nên mình đành dùng tay, hoặc môi. Mình phải làm thế cho cậu ấy. Cậu hiểu mình nói gì mà."

Tôi im lặng gật đầu.

"Mình đã không bao giờ muốn nói đến chuyện này," nàng lên tiếng. "Mình muốn giữ kín chúng ở trong lòng. Mình vẫn mong làm được vậy. Nhưng mình vẫn phải nói ra. Mình vẫn chưa có câu trả lời. Nghĩa là, lần mình ngủ với cậu mình đã ra nước rất nhiều phải không nào?"

"Ờ" tôi đáp.

"Mình đã ướt ngay khi cậu bước vào căn hộ của mình đêm hôm sinh nhật ấy. Mình đã muốn cậu ôm mình. Mình đã muốn cậu cởi quần áo mình, sờ đến khắp chỗ trên người mình, và vào trong mình. Trước đó chưa bao giờ mình như vậy. Tại sao thế? Sao mọi việc lại xảy ra như thế? Mình đã thực sự yêu cậu ấy cơ mà?"

"Chứ không phải yêu mình," tôi nói. "Cậu muốn biết tại sao cậu lại cảm thấy như vậy đối với mình, mặc dù cậu không yêu mình, có đúng không?"

"Mình xin lỗi," Naoko nói. "Mình không định làm tổn thương cậu, nhưng ít nhất cậu phải hiểu là Kizuki với mình có một quan hệ thực sự đặc biệt. Hai đứa đã chơi với nhau từ thuở mới lên ba. Bọn mình đã lớn lên như thế đấy: luôn luôn bên nhau, lúc nào cũng chuyện trò, và hoàn toàn hiểu nhau. Lần đầu bọn mình hôn nhau - ấy là năm đầu tiên ở trung học - thì thật là tuyệt vời. Lần đầu thấy kinh, mình đã chạy ù đến cậu ấy và khóc như một đứa bé con. Bọn mình gần gụi nhau như thế đấy. Nên sau khi cậu ấy chết, mình không biết quan hệ với người khác như thế nào nữa. Mình không biết cả nghĩa lí của chuyện yêu một người khác nữa."

Nàng với lấy cốc rượu vang trên bàn, nhưng chỉ làm nó đổ lênh láng xuống thảm. Tôi cúi xuống lượm cái cốc, đặt nó lên bàn. Tôi hỏi nàng có muốn uống nữa không?

Naoko im lặng một lúc, rồi bỗng oà lên khóc, cả người run bần bật. Chúi về phía trước, nàng vùi mặt vào hai bàn tay và thổn thức cũng dữ dội đến nghẹt thở như đêm nào. Reiko bỏ cây ghi-ta xuống và ngồi cạnh Naoko, vuốt vẻ lưng nàng. Khi chị ôm lấy vai Naoko, nàng nép mặt vào ngực chị như một đứa bé.

"Này cậu," Reiko nói với tôi, "Có lẽ cậu nên ra ngoài đi dạo một lát. Chừng hai mươi phút gì đó. Xin lỗi nhé, nhưng tôi nghĩ như thế sẽ tốt hơn."

Tôi gật đầu và đứng dậy, mặc thêm cái áo len chui đầu.

"Cảm ơn chị đã can thiệp," tôi nói với Reiko.

"Không dám," chị đáp với một cái nháy mắt.

"Không phải lỗi của cậu. Đừng lo, lúc cậu trở lại cô ấy sẽ ổn thôi."

Tôi cứ thế theo chân mình xuống mặt đường đang sáng lên lạ lẫm như không có thật dưới ánh trăng, rồi đi vào rừng. Dưới vầng trăng ấy, mọi âm thanh đều có một hồi âm vang dội lạ thường. Tiếng chân tôi có vẻ như từ một hướng nào đó vang dội đến, như thể tôi đang nghe thấy ai đang đi dưới đáy biển. Sau lưng tôi thỉnh thoảng lại có tiếng cành cây gẫy hoặc lá cây sột soạt. Một cảm giác nặng nề bao trùm khu rừng, như thể tất cả các loài thú ăn đêm đều đang nín thở đợi cho tôi đi qua.

Ở nơi con đường bắt đầu leo lên dốc ngoài bìa rừng, tôi ngồi nhìn về phía toà nhà có căn hộ của Naoko. Có thể nhận ra phòng nàng dễ dàng. Chỉ việc tìm khuôn cửa sổ nào ở phía sau có ánh sáng nến khi tỏ khi mờ. Tôi nhìn mãi vào điểm sáng đó thật lâu. Nó khiến tôi nghĩ đến cái gì đó giống như những mạch đập le lói cuối cùng của một đạo linh hồn đang hấp hối. Tôi muốn chụm tay che chắn những gì còn lại của đạo linh hồn ấy và giữ cho nó sống.

Tôi nhìn nó khôn nguôi, cũng như tay Gatsby đã từng nhìn cái chấm sáng nhỏ xíu ở bờ nước bên kia hết đêm này qua đêm khác.

Nửa tiếng sau tôi về đến lối vào cửa trước toà nhà và nghe thấy tiếng Reiko tập ghi-ta. Tôi lên cầu thang và gõ cửa. Trong nhà không thấy có Naoko. Reiko ngồi một mình trên thảm chơi ghi-ta. Chị chỉ về phía cửa buồng ngủ cho tôi biết Naoko đang trong đó. Rồi chị đặt cây đàn xuống sàn, ngồi lên sô-pha, mời tôi ngồi cạnh, và chia đôi chỗ rượu vang còn lại vào hai cốc.

"Naoko không sao đâu," chị nói, tay chạm vào đầu gối tôi. "Đừng lo, cô ấy chỉ cần nghĩ một lúc. Sẽ bình tĩnh lại thôi. Hơi xúc động quá. Này, trong khi ấy mình đi dạo với nhau một chút được không?"

"Được," tôi nói.

Reiko và tôi lững thững đi xuống con đường có đèn. Khi tới khu vực cạnh sân bóng quần và bóng rổ, chúng tôi ngồi xuống một ghế băng. Chị nhặt một trái bóng rổ dưới gầm ghế lên và xoay nó trong tay. Rồi chị hỏi tôi có chơi bóng quần không. Tôi nói có biết chơi nhưng kém lắm.

"Bóng rổ thì sao?"

"Cũng không phải môn sở trường của tôi," tôi nói.

"Thế sở trường thể thao của cậu là gì?" Reiko hỏi, đuôi mắt nhăn nheo lại trong một nụ cười. "Ngoài chuyện ngủ với các cô gái?"

"Cả chuyện ấy tôi cũng chẳng giỏi nốt," tôi nói, chạm tự ái.

"Chỉ đùa thôi mà," chị bảo. "Đừng giận nhé. Nhưng hỏi thật đấy, cậu giỏi những gì nào?"

"Chẳng có gì đặc biệt. Tôi chỉ có những cái thích. Đi chơi bộ trên núi. Bơi. Đọc sách."

"Vậy là cậu thích làm mọi việc một mình, phải không?"

"Có lẽ thế. Tôi không bao giờ có thể thấy phấn khích về nhưng trò người khác đang chơi. Tôi không thể nhập cuộc được. Tôi mất hết hứng thú."

"Vậy thì cậu phải đến đây vào mùa đông. Chúng tôi có trượt tuyết đường dài. Tôi chắc cậu sẽ thích, ở ngoài tuyết suốt ngày, toát mồ hôi thì thôi."

Dưới ánh đèn đường, Reiko nhìn chăm chú bàn tay phải của mình như thể đang kiểm tra một nhạc cụ cổ xưa.

"Naoko có thường bị thế này không?" tôi hỏi.

"Cũng lúc này lúc khác đấy," Reiko nói và bắt đầu nhìn sang bàn tay trái. "Lâu lâu cô ấy lại xúc động và khóc như vậy. Nhưng không sao đâu. Cũng là cách cho cô ấy giải toả. Không thế được mới là đáng sợ. Khi cảm xúc chứa chất, xơ cứng và chết ở trong lòng, lúc ấy mới thật là rắc rối to."

"Tôi có nói cái gì không nên lúc ấy không?"

"Không có gì cả. Cậu đừng lo. Hay cứ nói ra ý nghĩ của mình cho chân thực. Tốt nhất là như vậy. Đôi khi điều đó làm ta đau đớn, và người khác có thể khó chịu như Naoko, nhưng lâu dài thì làm thế là tốt nhất. Đó là cái cậu nên làm nếu cậu thực sự muốn cho Naoko lành bệnh. Như tôi đã nói với cậu từ đầu, cậu không nên nghĩ nhiều quá đến việc giúp cô ấy theo lối một chiều, mà phải nghĩ cả đến việc làm cho chính mình được bình phục bằng cách giúp cô ấy bình phục. Đó là đường lối ở đây. Cho nên cậu phải chân thực và nói ra tất cả những gì có trong tâm trí mình, ít nhất thì cũng là trong thời gian cậu ở đây. Thế giới bên ngoài thì chẳng ai làm thế bao giờ, đúng không?"

"Có lẽ thế," tôi nói.

"Trong thời gian ở đây tôi đã thấy đủ loại người ra vào chốn này," chị nói, "có thể là quá nhiều. Vì thế thường chỉ cần nhìn một người là tôi có thể biết người ấy có thể khá hơn được hay không, gần như bản năng vậy. Nhưng trường hợp Naoko thì tôi lại không chắc. Tôi hoàn toàn không thể đoán chuyện gì sẽ có thể xảy ra với cô ấy Theo tôi, cô ấy có thể khỏi hoàn toàn ngay trong tháng sau, mà cũng có thể như thế này mãi nhiều năm trời. Nên thực sự là tôi không thể bảo cậu nên làm gì, ngoài một lời khuyên chung chung nhất là hãy chân thực và giúp đỡ lẫn nhau."

"Cái gì khiến Naoko thành một ca khó như thế đối với chị?"

"Cũng có thể là vì tôi rất thích cô ấy. Tôi nghĩ tôi bị tình cảm chi phối và không thể nhìn nhận cô ấy cho rõ ràng. Nghĩa là, tôi thực sự thích cô ấy. Nhưng ngoài chuyện đó ra, cô ấy có cả một mớ bòng bong những vấn đề khác nhau và rất khó tháo gỡ từng cái một. Có thể rất lâu mới có thể lần lượt gỡ hết được chúng, hoặc giả phải có một cái gì đó có thể khiến cho chúng tự bung hết ra cùng một lúc. Kiểu như vậy. Mà chính vì thế mà tôi không thể chắc được rồi cô ấy sẽ ra sao."

Chị lại nhặt trái bóng lên, xoay nó trong tay và đập nó nảy xuống đất.

"Quan trọng nhất là không được mất kiên nhẫn với cô ấy," Reiko nói. "Đó là một lời khuyên nữa của tôi cho cậu: đừng mất kiên nhẫn. Ngay cả khi mọi chuyện đã rối mù và không thể làm được gì nữa, cũng không được tuyệt vọng hoặc làm nổ cầu chì và cuống quýt kéo một đâu dây nào đó khi nó chưa sẵn sàng. Cậu phải biết rằng đây là một quá trình lâu dài và phải giải quyết mọi chuyện rất từ từ, từng cái một. Liệu cậu có làm vậy được không?"

"Tôi có thể thử," tôi nói.

"Có thể sẽ rất lâu dài đấy, cậu biết không, và cô ấy cũng chưa chắc sẽ bình phục hoàn toàn. Cậu đã nghĩ đến chuyện ấy chưa?"

Tôi gật đầu.

"Chờ đợi là khổ," chị nói, tay đập bóng. "Nhất là với người trạc tuổi cậu. Chỉ có thể ngồi và đợi xem cô ấy có khá lên hay không. Vô thời hạn. Không có đảm bảo gì. Liệu cậu có làm được không? Cậu có yêu Naoko đến thế không?"

"Tôi cũng không biết nữa," tôi thành thực nói.

"Cũng như Naoko, tôi không biết rõ ý nghĩa của việc đem lòng yêu một ai đó, tuy cô ấy hiểu việc này có hơi khác một chút. Nhưng tôi thực lòng muốn làm hết sức mình. Tôi phải cố yêu, vì nếu không cũng chẳng biết đi về đâu nữa. Như chị đã nói, Naoko và tôi phải cứu lẫn nhau. Đó là cách duy nhất để cả hai cùng được giải cứu."

"Và cậu vẫn sẽ tiếp tục ngủ với các cô gái tình cờ bắt gặp chứ?"

"Chuyện đó tôi cũng chưa biết phải làm sao đây?" tôi nói. "Chị nghĩ sao? Tôi chỉ nên chờ đợi và thủ dâm chăng? Mà tôi cũng không hoàn toàn chủ động được trong cả việc ấy nữa."

Reiko đặt trái bóng xuống đất rồi vỗ vỗ đầu gối tôi. "Này cậu," chị nói, "Tôi không bảo cậu phải thôi ngủ với các cô gái. Nếu cậu thấy chuyện đó là ôkê thì nó là ôkê. Dù sao thì đó cũng là chuyện cuộc đời của cậu, cậu phải tự quyết định thôi. Tôi chỉ muốn nói là cậu không nên đánh mất bản thân vào những chuyện trái tự nhiên. Cậu có hiểu ý tôi không? Như vậy phí lắm. Tuổi mười chín đôi mươi là giai đoạn trọng yếu của quá trình ổn định nhân cách, và nếu cậu để mình bị méo mó ở tuổi ấy thì sau này cậu sẽ rất đau khổ. Thật đấy. Nên cậu phải suy nghĩ cẩn thận. Nếu cậu muốn chăm sóc Naoko, hãy chăm sóc bản thân mình cái đã."

Tôi nói mình sẽ suy nghĩ về chuyện ấy.

"Tôi cũng đã từng hai mươi tuổi. Từ xửa từ xưa. Cậu có tin được không?"

"Tất nhiên rồi."

"Tận đáy lòng chứ."

"Tận đáy lòng," tôi mỉm cười.

"Da tôi cũng xinh xắn nữa. Không được như Naoko, nhưng cũng xinh ra phết. Da còn chưa có tất cả nhưng nếp nhăn này"

Tôi bảo tôi rất thích những nếp nhăn của chị. Chị cảm ơn tôi.

"Nhưng chớ bao giờ bảo một người đàn bà nào khác là cậu thấy nhưng nếp nhăn của họ là hấp dẫn nhé," Chị nói thêm. "Tôi thì thích nghe thế, nhưng tôi là trường hợp ngoại lệ."

"Tôi sẽ cẩn thận chuyện này," tôi đáp.

Chị lấy một cái ví trong túi quần ra và đưa cho tôi xem một bức ảnh rút từ ngăn để danh thiếp. Đó là một bức ảnh màu chụp một bé gái khoảng mười tuổi xinh xắn trong bộ đồ trượt tuyết màu sắc tươi sáng đang đứng trên tuyết và tươi cười trước ống kính.

"Có xinh không nào? Con gái tôi đấy," Reiko nói. "Nó gửi cho tôi hồi tháng Giêng. Nó bao nhiêu nhỉ? Lên chín rồi đây.

"Nó cười giống chị," tôi nói, trả lại bức ảnh. Reiko đút cái ví vào túi, hít mạnh một cái, đặt một điếu thuốc lên môi rồi châm lửa.

"Tôi muốn trở thành một nghệ sĩ biểu diễn dương cầm," chị nói. "Tôi có tài, mọi người đều nhận thấy điều đó và làm rùm beng lên về tôi khi tôi còn nhỏ. Tôi thắng nhiều cuộc thi và luôn đứng đầu nhạc viện, và họ đã thu xếp để tôi tốt nghiệp xong là sẽ sang Đức học tiếp. Chân trời không một gợn mây. Mọi việc đều hoàn hảo, và hễ có chuyện gì là thể nào cũng có ai đó ra tay giải quyết ngay. Nhưng rồi đến một ngày, tất cả bỗng tan thành mây khói. Tôi đang học năm cuối ở nhạc viện và sắp có một cuộc thi khá quan trọng. Tôi tập ngày tập đêm cho cuộc thi đó nhưng đột nhiên ngón út bên tay trái tôi bỗng không cử động được nữa. Không biết tại sao, nhưng nó cứ ì ra như vậy. Tôi thử xoa sát nó, ngâm nó vào nước nóng, nghỉ tập vài ngày chẳng ăn thua gì cả. Phát hoảng, tôi tìm đến bác sĩ. Họ xét nghiệm đủ thứ nhưng không đi đến đâu hết. Bản thân cái ngón út ấy chẳng có vấn đề gì, và các thứ dây thần kinh cũng vậy, họ nói thế, không có lí do gì để nó bất động như vậy. Chỉ có thể là vấn đề tâm lí. Thế là tôi đến một bác sĩ phân tâm, nhưng ông ta cũng chẳng hiểu chuyện gì đang diễn ra cả. Có thể là căng thẳng trước cuộc thi, ông ta nói, và khuyên tôi nên tránh xa cây dương cầm một thời gian."

Reiko rít một hơi thật sâu rồi nhả khói ra. Sau đó chị ngoẹo cổ sang một bên mấy lần.

"Thế là tôi về tĩnh dưỡng ở chỗ của bà tôi bên bờ biển Izu. Tôi tưởng mình sẽ quên cái cuộc thi đó, thư giãn độ vài tuần, không sờ đến đàn và muốn làm gì thì làm. Nhưng không thể được. Tôi chỉ có thể nghĩ đến cây dương cầm. Có thể cái ngón ấy sẽ không bao giờ cử động được nữa. Nếu quả như vậy thì tôi sẽ sống ra sao? Những ý nghĩ ấy cứ lẩn quẩn không ngừng trong đầu tôi. Mà cũng phải thôi: cây dương cầm đã là toàn bộ cuộc sống của tôi cho đến lúc ấy. Tôi đã bắt đầu chơi đàn từ lúc bốn tuổi, đã chỉ nghĩ đến nó chứ không đến cái gì khác. Tôi không bao giờ làm việc nhà để tránh làm tổn thương các ngón tay. Mọi người để ý đến tôi cũng chỉ vì một thứ thôi: tài chơi dương cầm của tôi. Tước cây dương cầm của một đứa con gái như vậy thì nó còn lại gì? Và thế là, phựt một cái, tâm trí tôi rơi vào một cõi hỗn mang hoàn toàn. Tối đen như mực."

Chị thả điếu thuốc xuống đất, đi xuống dưới chân, rồi lại ngoẹo cổ mấy lần.

"Đó là kết cục giấc mơ trở thành nghệ sĩ dương cầm của tôi. Tôi nằm bệnh viện hai tháng. Ngay sau khi nhập viện, ngón tay tôi đã cử động lại được, nghĩa là tôi vẫn có khả năng quay lại nhạc viện và tốt nghiệp, nhưng một cái gì đó bên trong tôi đã biến mất. Một nguồn năng lượng quý báu hoặc cái gì đó ở trong tôi đã biến mất, bốc hơi mất. Bác sĩ nói tôi không đủ sức mạnh tinh thần đề trở thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp và khuyên tôi nên từ bỏ ý định ấy. Thế là sau khi tốt nghiệp tôi chỉ nhận dạy học trò ở nhà. Nhưng tôi cảm thấy đau đớn vô cùng tận. Như thể cuộc đời mình đã chấm dứt. Tôi mới qua tuổi hai mươi mà cái phần tốt đẹp nhất của cuộc đời đã chấm dứt rồi. Cậu có thấy điều đó khủng khiếp đến mức nào không? Tôi đã có biết bao nhiêu hứa hẹn, để rồi thức dậy một ngày và thấy tất cả đã mất hết rồi. Không còn những tràng vỗ tay, không còn ai bàn tán xôn xao về tôi, không còn ai ngỏ lời khâm phục tôi nữa. Ngày lại ngày tôi ở tịt trong nhà và dạy bọn trẻ hàng xóm những bài tập Beyer và các ban xô-nát nhỏ. Tôi thấy khổ sở vô chừng, và động một tí là khóc. Cứ thở nghĩ về những mất mát của tôi mà xem! Mỗi lần nghe tin nhưng người kém tài hơn tôi nhiều vừa được giải nhì một cuộc thi nào đó hoặc vừa biểu diễn ở phòng hoà nhạc nào đó là nước mắt tôi lại trào ra.

"Bố mẹ tôi rón rén quanh tôi, sợ làm tôi bị tổn thương. Nhưng tôi biết họ đang thất vọng về tôi biết chừng nào. Đùng một cái đứa con gái mà họ từng tự hào đến thế bỗng trở thành một bệnh nhân tâm thần vừa xuất viện. Thậm chí họ còn không thể cưới chồng cho tôi. Sống bên cạnh mọi người, ta sẽ cảm thấy tình cảm thật của họ, và tôi căm ghét chuyện đó. Tôi sợ phải ra ngoài, sợ hàng xóm bàn tán về mình. Và thế là, phựt một cái! Chuyện đó lại tái diễn - cõi hỗn mang, bóng tối bao trùm. Lúc ấy tôi hai bốn, và lần này tôi phải ở bảy tháng liền trong một trại điều dưỡng. Không phải như ở đây đâu, mà là một nhà thương điên bình thường có tường cao và cửa khoá kín. Một nơi bẩn thỉu không có đàn dương cầm. Tôi không biết phải làm gì nữa. Chỉ biết là tôi muốn thoát khỏi chỗ đó càng sớm càng tốt và tuyệt vọng gắng sức để hồi phục. Bảy tháng. Bảy tháng trời dằng dặc. Đó là lúc những nếp nhăn của tôi bắt đầu xuất hiện."

Reiko mỉm cười, nhệch mồm bên này bên kia.

"Ra viện chưa được bao lâu thì tôi gặp một người và cưới anh ta. Ít hơn tôi một tuổi, anh ta là kỹ sư làm việc ở một công ty chế tạo máy bay, và là một học sinh của tôi. Một người tốt. Anh ấy ít nói, nhưng tình cảm và chân thật. Anh ấy học tôi được sáu tháng thì tự nhiên hỏi tôi có lấy anh ấy không. Cứ thế thôi, hôm chúng tôi đang uống trà sau giờ học. Cậu có tin được không? Chúng tôi chưa hề đi chơi hoặc cầm tay nhau. Anh ấy khiến tôi hoàn toàn bất ngờ. Tôi bảo mình không thể lấy chồng. Tôi bảo tôi thích anh và biết anh là người tốt nhưng chính vì thế mà tôi không thể lấy anh ấy. Anh ấy muốn biết lí do, và tôi giải thích tất cả cho anh ấy, hoàn toàn thành thực - rằng tôi đã phải hai lần vào bệnh viện tâm thần. Tôi nói với anh ấy tất cả mọi chuyện - nguyên nhân, tình trạng, và khả năng tái diễn của tôi. Anh ấy nói cần thời gian suy nghĩ, và tôi khuyên anh ấy hay thật bình tĩnh và thư thả trong chuyện này. Nhưng ngay tuần lễ sau đó, khi đến học, anh ấy nói vẫn muốn lấy tôi. Tôi đề nghị anh chờ ba tháng. Tôi bảo chúng ta sẽ còn thấy nhau trong ba tháng nữa, và nếu sau đó anh vẫn còn muốn lấy tôi, chúng ta sẽ lại nói chuyện.

Trong ba tháng đó, mỗi tuần chúng tôi đi chơi với nhau một lần. Chúng tôi đi khắp nơi và nói đủ mọi chuyện, và tôi ngày càng thấy thích anh ấy. Khi ở bên anh, tôi cảm thấy như cuộc sống cuối cùng lại về với mình. Được một mình với anh ấy tôi có một cảm giác nhẹ nhõm kì diệu: tôi có thể quên hết nhưng chuyện khủng khiếp đã từng xảy ra. Không thành nghệ sĩ biểu diễn thì đã sao nào? Vào bệnh viện tâm thần thì đã sao nào? Đời tôi chưa chấm dứt. Cuộc sống vẫn còn đầy những điều kì diệu mà tôi chưa được nếm trải. Chỉ cần cảm thấy được như vậy là tôi đã thấy biết ơn anh ấy vô cùng. Sau ba tháng, anh ấy lại đề nghị cưới. Và tôi đã nói thế này: "Nếu anh muốn ngủ với em, em cũng chẳng ngại đâu. Em chưa ngủ với ai bao giờ, và em rất mến anh, nên nếu anh muốn làm tình với em, em hoàn toàn không ngại đâu. Nhưng cưới em lại là chuyện khác hẳn. Nếu anh lấy em, anh sẽ phải lấy toàn bộ những rắc rối của em, và chúng tệ hơn anh tưởng nhiều lắm đấy."

"Anh ấy bảo anh ấy không cần, rằng không phải anh ấy chỉ muốn ngủ với tôi, mà là muốn cưới tôi làm vợ và san sẻ mọi thứ của tôi với anh ấy. Mà anh ấy nói thật. Anh ấy là loại người chỉ nói đúng điều mình nghĩ, và đã nói là làm. Thế là tôi đồng ý cưới anh ấy. Tôi chỉ có thể làm thế. Chúng tôi cưới, để xem nào, hình như là bốn tháng sau đó thì phải. Anh ấy cãi nhau với bố mẹ về chuyện lấy tôi, và họ từ anh ấy. Gia đình anh ấy là một dòng họ lâu đời ở vùng nông thôn thuộc Shikoku. Họ cho điều tra về tôi và phát hiện tôi đã phải vào viện hai lần. Làm gì mà họ chẳng phản đối. Cuối cùng, chúng tôi không tổ chức lễ cưới, mà chỉ ra đăng kí kết hôn rồi cùng nhau đi Hakone hai ngày. Thế là nhiều rồi, chúng tôi thấy hạnh phúc lắm. Và cuối cùng thì tôi vẫn là gái tân cho đến tận ngày lấy chồng. Lúc ấy tôi hai lăm tuổi! Cậu có tin được không?"

Reiko thở dài và lại nhặt trái bóng lên.

"Tôi tưởng chừng nào còn ở bên cạnh anh ấy là tôi còn yên ổn," chị tiếp tục. "Còn ở với anh ấy thì tôi còn tránh được những rắc rối của mình. Đó là điều quan trọng nhất đối với một chứng bệnh như của chúng tôi ở đây: một cảm giác tin tưởng. Nếu tôi trao gửi mình vào tay người này, tôi sẽ ôkê. Nếu tình trạng tôi chậm tồi tệ dù chỉ là một chút xíu - nếu chỉ một cái ốc bị lỏng ra một tí anh ấy sẽ biết ngay và sẽ siết nó lại với lòng kiên nhẫn và âu yếm vô bờ, sẽ xếp tất cả nhưng sợi dây bị rối về lại chỗ của chúng. Nếu có được cảm giác tin tưởng ấy, chứng bệnh của chúng tôi sẽ không trở lại nữa. Không còn phựt một cái nữa! Tôi thật sự hạnh phúc! Cuộc đời thật đáng sống! Tôi thấy như có ai đó vừa vớt tôi từ dưới biển giông bão lạnh lẽo rồi quấn chăn cho tôi và đặt tôi vào một chiếc giường ấm áp. Hai năm sau khi cưới, tôi sinh cháu và bận luôn chân luôn tay, không còn nhớ gì đến bệnh não của mình nữa. Tôi dậy sớm, làm việc nhà, chăm con, và cơm nước cho chồng đi làm. Ngày nào cũng như ngày nào, nhưng tôi hạnh phúc lắm. Có lẽ đó là những ngày tháng hạnh phúc nhất trong đời tôi. Không biết nó kéo dài được bao nhiêu năm, ít nhất cũng được đến năm tôi ba mốt tuổi. Và rồi, đùng một cái, nó lại đứt phựt! Tôi lại vỡ vụn."

Reiko châm thuốc. Gió đã ngưng. Khói thuốc bay thẳng lên và biến mất vào bóng đêm. Lúc ấy tôi mới để ý thấy trời đầy sao.

"Có chuyện gì chăng?" tôi hỏi.

"Phải," chị nói, "một chuyện rất lạ lùng, như có ai đặt bẫy tôi vậy. Đến bây giờ tôi vẫn lạnh cả người mỗi khi nghĩ đến nó." Reiko xoa một bên thái dương bằng bàn tay không cầm thuốc. "Tôi xin lỗi đã bắt cậu phải nghe tất cả những chuyện này của tôi. Cậu đến đây thăm Naoko chứ không phải để nghe chuyện tôi mà."

"Nhưng tôi thực sự muốn nghe chuyện chị," tôi nói. "Nếu chị không phiền, tôi xin được nghe nốt."

"Thế là," Reiko bắt đầu, "Khi con gái vào mẫu giáo, tôi lại bắt đầu chơi đàn, dần dần, tí một. Không đánh cho ai nghe, mà chỉ cho mình thôi. Tôi bắt đầu với những bài ngăn ngắn của Bach, Mozart, Scarlatti. Tất nhiên, sau một thời gian dài như thế, nhạc cảm của tôi chưa thể hồi lại ngay được. Và ngón tay cũng chưa thể linh hoạt như ý muốn. Nhưng được quay lại với cây dương cầm như vậy khiến tôi phấn khích vô cùng. Đặt tay lên phím đàn, tôi nhận ra rằng tôi đã yêu âm nhạc biết bao nhiêu - và đã thèm khát nó biết bao nhiêu. Có khả năng chơi đàn cho chính mình thật cũng là một điều kì diệu."

"Như tôi đã nói, tôi bắt đầu chơi đàn từ hồi lên bốn, nhưng lúc ấy mới chợt nhận ra là chưa từng bao giờ chơi cho chính mình. Lúc nào tôi cũng chỉ cỏ thi cho đỗ hoặc chỉ để gây ấn tượng với người khác. Những cái đó cũng quan trọng, tất nhiên rồi, nếu ta muốn làm chủ một nhạc cụ. Nhưng đến một tuổi nào đó thì phải bắt đầu có ý thức biểu diễn cho chính mình. Cái đó mới là âm nhạc. Phải rời bỏ con đường thượng lưu âm nhạc và qua tuổi ba mốt tôi mới có khả năng nhận ra điều đó. Tôi nhanh nhanh chóng chóng cho con đến mẫu giáo và vội vã làm các việc trong nhà để có được một hai tiếng đồng hồ chơi những bài đàn mình yêu thích. Đến đó mọi chuyện đều tốt đẹp cả, phải không nào?"

Tôi gật đầu.

"Thế rồi một hôm có bà hàng xóm sang tìm tôi, một người mà tôi cũng biết đủ để chào nhau ngoài phố, và xin tôi dạy đàn cho con gái nhỏ; Chưa biết đứa con gái bà ấy - mặc dù sống cùng một khu phố nhưng nhà chúng tôi cũng cách xa nhau - nhưng theo lời bà thì nó vẫn thường đi ngang nhà tôi và rất thích nghe tôi đàn. Nó cũng đã có lúc nhìn thấy tôi ở đâu đó và giờ thì nhất định đòi mẹ phải đến xin tôi dạy đàn cho nó. Con bé đang học năm thứ tư trung học, đã từng học đàn nhiều người nhưng chẳng biết vì sao mà không có mấy tiến bộ và lúc bấy giờ thì đang chưa học ai hết.

"Tôi từ chối. Tôi đã nghỉ đàn ngần ấy năm, và nếu có dạy ai mới bắt đầu học đàn thì nghe còn có lí, chứ không thể nhận dạy một người đã học được mấy năm rồi. Ngoài ra, tôi còn đang bận chăm con, và dù không nói ra nhưng tôi biết là chẳng ai có thể dạy loại học trò cứ hay đổi thầy xoành xoạch. Thế đấy, nhưng rồi bà ta xin tôi chiếu cố cho con gái bà được gặp tôi một lần thôi. Một người dai như đỉa và không dễ gì thoái thác, và tôi đành đồng ý gặp con bé - chỉ gặp thôi. Ba ngày sau, con bé tự tìm đến nhà tôi. Nó thực là một tiểu thiên thần, với một vẻ đẹp trong veo, dịu dàng và tinh khiết. Tôi đã chưa từng, đến giờ cũng vậy, thấy một con bé nào đẹp như thế. Tóc nó dài và đen bóng như mực tầu mới mài, chân tay mảnh dẻ duyên dáng, mắt sáng, và một cái miệng nho mềm mại như thể có ai đó vừa mới nặn nên. Mới nhìn thấy nó tôi không nói được lời nào, nó quá đẹp. Ngồi trên cái sô-pha, nó biến cái phòng khách nhà tôi thành một lễ đường lộng lẫy. Nhìn thẳng vào nó mà thấy đau cả người, tôi phải nheo mắt lại. Vậy là, con bé trông như thế đấy Tôi vẫn còn có thể thấy nó rõ ràng."

Reiko nheo nheo mắt như thể đang thực sự nhìn thấy cô bé.

"Chúng tôi uống cà-phê và nói chuyện cả tiếng đồng hồ. Đủ thứ chuyện: âm nhạc, trường học của nó, nghĩa là đủ thứ. Tôi thấy ngay là con bé thông minh lắm. Nó biết cách nói chuyện. Nó có những ý kiến sắc sảo rõ ràng và có tài thu hút người khác vào câu chuyện. Tôi gần như phát hoảng. Chính xác cái gì làm cho con bé đáng sợ đến thế thì lúc ấy tôi chưa biết. Chỉ biết là con bé thông minh đến phát sợ. Trước mặt nó tôi mất hết khả năng suy xét bình thường của mình. Con bé trẻ và đẹp đến thế, và tôi bị choáng ngợp đến độ thấy mình chỉ còn là một tiêu bản thấp kém, một chống chế vụng về của nhân loại đã nghĩ xấu về nó chỉ vì chính đầu óc mình đã bị méo mó bẩn thỉu mà thôi."

Reiko lắc lắc đầu nhiều lần.

"Nếu tôi xinh đẹp và thông minh như nó, chắc tôi đã là một con người bình thường. Còn mong gì hơn nữa nếu ta thông minh như thế và đẹp đẽ như thế? Ta còn cần gì phải dằn vặt và vượt lên những yếu kém của mình nếu mọi người đều yêu quí ta đến thế? Lí do gì mới được chứ?"

"Con bé làm chuyện gì khủng khiếp với chị ư?"

"Là thế này, có thể nói rằng nó là một đứa dối trá bệnh hoạn. Nó bệnh hoạn, đơn giản và chính xác là như vậy. Nó bịa tạc đủ thứ. Và khi bịa những chuyện ấy, nó lại tin luôn là chúng có thật. Rồi bắt đầu thay đổi mọi thứ xung quanh cho phù hợp với câu chuyện ấy của nó. Và nó nhanh trí khủng khiếp, luôn luôn đi trước mình một bước để thu xếp những chi tiết sẽ có thể cảnh báo mình, và thế là mình không bao gỉờ nghĩ là nó đang nói dối. Trước hết, không ai có thể ngờ rằng một con bé xinh đẹp đến thế lại có thể dối trá về những chuyện tầm thường nhất. Tôi là một. Nó kể cho tôi hàng tấn chuyện dối trá trong suốt sáu tháng trời rồi tôi mới bắt đầu có linh cảm là có cái gì không ổn đây. Nó nói dối đủ mọi chuyện, mà tôi thì không ngờ vực gì cả. Tôi biết điều này nghe rất điên."

"Nó dối trá chuyện gì?"

"Khi tôi nói đủ mọi chuyện, thì nghĩa là đủ mọi chuyện." Reiko cười mai mỉa. "Khi nói dối chuyện gì đó, người ta phải bịa ra một mớ những dối trá khác đi cùng. Đó là một chứng bệnh hẳn hoi, gọi là mythomania. Người mắc chứng mythomania thông thường chỉ hay bịa ra những chuyện ngây ngô vô hại, và phần lớn ai nghe cũng biết ngay. Nhưng con bé này thì không. Để che đậy nó sẽ dám bịa những chuyện kinh khủng mà mặt vẫn tỉnh khô như không. Nó không từ một cái gì hết. Và nó sẽ bịa nhiều bịa ít tuỳ theo người nghe. Với mẹ nó hoặc đám bạn thân thì nó hầu như không nói dối, hoặc có thì nó sẽ rất thận trọng, cẩn thận chọn chuyện gì sẽ không bao giờ bị lộ mà thôi. Hoặc nếu có lộ rồi thì nó sẽ tìm cách chống chế hoặc xin lỗi với cái giọng thỏ the ấy của nó và với dôi mắt đẹp ròng ròng nước mắt. Lúc ấy thì không ai có thể giận nó được."

"Tôi vẫn không hiểu tại sao nó chọn tôi. Tôi là một nạn nhân nữa, hay là một nguồn cứu rỗi của nó? Tôi không biết. Tất nhiên, giờ thì chẳng sao nữa rồi. Mọi thứ đã kết thúc. Bây giờ tôi ra nông nỗi này đây."

Sau một lúc lâu im lặng, chị nói tiếp:

"Con bé nhắc lại những gì mẹ nó đã nói, rằng nó đã xúc động khi nghe tiếng đàn lúc đi ngang nhà tôi. Nó đã thấy tôi ngoài phố vài lần, và đã bắt đầu "tôn thờ" tôi. Nó dùng đúng từ ấy: "Tôn thờ". Tôi đỏ bừng hết cả mặt. Cậu biết đấy, được một thiên thần nhỏ bé xinh đẹp đến thế tôn thờ mình! Mà tôi vẫn nghĩ đó không hẳn là một lời dối trá hoàn toàn. Lúc ấy tôi đã qua tuổi ba mươi, tất nhiên, và tôi cũng chẳng bao giờ có thể thành đẹp đẽ và thông minh như nó, mà tôi cũng chẳng có tài gì đặc biệt, nhưng chắc là tôi phải có cái gì đó thu hút được nó, một cái gì đó mà nó không có, có lẽ thế. Chính cái đó đã khiến nó phải chú ý đến tôi lúc ban đầu. Bây giờ nghĩ lại tôi vẫn tin là thế. Chẳng phải là tự phụ đâu."

"Vàng, tôi nghĩ là tôi hiểu được điều chị nói."

"Con bé mang theo mấy bản nhạc và xin phép được đánh thử cho tôi nghe. Thế là tôi thuận theo. Nó chơi một bản Invention của Bach. Lối chơi của nó… cũng thú vị Hoặc có thể gọi là hơi là lạ. Nhưng không tầm thường. Tất nhiên là chưa được chau chuốt. Nó chưa từng học ở một trường chuyên nghiệp nào, và những bài học của nó là kiểu lúc có lúc không, nó có vẻ tự học là chính. Tiếng đàn của nó không có luyện tập. Thi vào trường nhạc mà chơi như vậy thì nó trượt ngay. Nhưng nó vẫn đánh ra bài. Mặc dù chín mươi phần trăm chẳng ra sao, nhưng vẫn có mười phần trăm được ở đó. Nó khiến cây đàn hát được. Đó là âm nhạc. Mà lại là một biến tấu phức điệu ngắn của Bach! Thế nên tôi mới thấy nó thú vị, và muốn biết tất cả về con bé ấy."

"Chẳng cần phải nói, thế giới này có dầy những đứa trẻ có thể đánh Bach hay hơn nó nhiều. Gấp hai mươi lần. Nhưng hầu hết lối chơi của bọn kia chẳng có gì trong đó cả. Trống rỗng hết. Con bé này thì kỹ thuật kém, nhưng nó lại có một ít cái gì đó thu hút được người nghe - ít nhất là tôi. Và tôi quyết định là dạy nó cũng đáng. Tất nhiên, không thể đặt vấn đề luyện lại cho nó thành một nghệ sĩ chuyên nghiệp. Nhưng tôi cảm thấy có thể có khả năng làm cho nó thành một dương cầm thu hạnh phúc như tôi lúc ấy, và cả bây giờ nữa, một người có thể chơi đàn cho chính mình. Nhưng hy vọng ấy hoá ra hoàn toàn hão huyền. Con bé không phải loại người thích tặng lẽ làm việc của mình. Nó là một đứa trẻ luôn tính toán chi li để tận dụng mọi thứ chỉ cốt gây ấn tượng với mọi người. Nó biết chính xác là nó phải làm gì đề khiến mọi người khâm phục và khen ngợi nó. Và nó biết chính xác lối chơi nào sẽ hấp dẫn được tôi. Tôi chắc là nó đã tính toán mọi thứ, và đã vận dụng hết những thứ đó vào việc tập đi tập lại những đoạn nhạc chỉ cốt để làm vừa lòng tôi. Tôi vẫn có thể như thấy nó đang làm những chuyện ấy trước mắt."

"Vậy mà, đến tận bây giờ, sau khi đã hiểu rõ tất cả những cái đó, tôi vẫn nghĩ đó là một lối chơi tuyệt vời và nếu được nghe lại tôi sẽ vẫn thấy ớn lạnh sống lưng. Mặc dù đã biết mọi khuyết tật của nó, mọi dối trá và xảo quyệt của nó, tôi vẫn thấy xúc động. Tôi nói cậu nghe, trên đời này có những chuyện như vậy đấy."

Reiko hắng giọng khan một cái rồi ngưng bặt.

"Vậy chị nhận con bé làm học trò chứ?" tôi hỏi.

"Ờ. Mỗi tuần một buổi. Vào sáng thứ Bảy. Nó nghỉ học văn hoá vào thứ Bảy. Nó không nghỉ buổi đàn nào, không đến muộn bao giờ, và là một học trò lí tưởng. Nó luôn tập bài đầy đủ. Buổi nào học xong chúng tôi cũng ăn bánh và chuyện trò."

Đến đó, Reiko bỗng liếc nhìn đồng hồ như chợt nhớ ra chuyện gì.

"Mình nên về thôi chứ? Tôi thấy hơi sốt ruột về Naoko. Tôi chắc cậu vẫn không hề quên cô ấy, đúng không?"

"Tất nhiên rồi," tôi cười. "Nhưng chuyện chị cũng hấp dẫn quá."

"Nếu cậu muốn nghe nốt thì ngày mai tôi sẽ kể. Chuyện dài lắm, một lần không thể kể hết được."

"Chị thành nàng Scheherazade trong Nghìn lẻ một đêm rồi."

"Tôi biết chứ," chị cùng cười với tôi. "Còn cậu sẽ không bao giờ về Tokyo được nữa đâu."

Chúng tôi quay lại lối qua rừng và trở về căn hộ.

Mấy cây nến đã cháy hết và đèn phòng khách không bật. Cửa phòng ngủ để ngỏ và cây đèn trên bàn đêm vẫn bạt, ánh sáng nhợt nhạt của nó hắt ra cả phòng khách. Naoko ngồi trên sô-pha trong bóng tối lờ mờ. Nàng đã thay sang một bộ áo ngủ thùng thình xanh nước biển, cổ áo buộc chặt lên sát cổ, hai chân thu lại cả trên ghế. Reiko bước tới và đặt một tay lên đầu nàng.

"Em ổn rồi chứ."

"Em ổn rồi. Xin lỗi," Naoko đáp rất khẽ. Rồi nàng quay sang tôi và nhắc lại lời xin lỗi. "Chắc mình đã làm cậu sợ"

"Một tí thôi," tôi mỉm cười.

"Đến đây nào," nàng bảo. Khi tôi đã ngồi xuống cạnh nàng, Naoko, vẫn ngồi thu chân như cũ, liền nghiêng người sang tôi cho đến lúc mặt nàng gần chạm vào tai tôi, như thể nàng sắp san sẻ với tôi một bí mật.

Rồi nàng đặt một cái hôn nhẹ nhàng vào cạnh tai tôi.

"Xin lỗi nhé," nàng lại nói, lần này thì ngay bên tai tôi, rất hạ giọng. Sau đó nàng lại dịch ra xa.

"Đôi khi," nàng nói, "Mình bị lẫn lộn hết cả, chẳng biết có chuyện gì nữa."

"Mình thì lúc nào cũng thế," tôi nói.

Naoko mỉm cười nhìn tôi.

"Nếu không phiền," tôi nói, "mình muốn nghe nữa về cậu về cuộc sống của cậu ở đây. Những việc cậu làm hàng ngày. Những người cậu gặp."

Naoko kể về những việc thường nhật của nàng bằng những câu ngắn nhưng rất rõ ràng. Buổi sáng thức dậy lúc sáu giờ. Ăn điểm tâm ở nhà mình. Dọn nhà nuôi chim. Rồi đi làm những việc đồng áng thường lệ. Nàng trông coi những ruộng rau. Trước hoặc sau bữa trưa, nàng thường có độ một giờ gặp bác sĩ hoặc tham dự điều trị nhóm. Buổi chiều thì nàng có thể chọn một lớp học nào nàng thích, nếu không chơi thể thao hoặc có việc gì khác. Nàng đã theo nhiều lớp: tiếng Pháp, đan len, dương cầm, lịch sử cổ đại.

"Reiko đang dạy mình đàn dương cầm," nàng nói. "Cả ghi-ta nữa. Ai cũng lần lượt làm thầy và làm học sinh. Người giỏi tiếng Pháp thì dạy tiếng Pháp, người từng nghiên cứu xã hội học thì dạy sử, người khác thạo đan len thì dạy đan len: trường học ở đây thế mà hoá hay. Chỉ có mình là chẳng dạy được ai cái gì."

"Mình cũng thế," tôi nói.

"Ở đây mình chịu khó học nhiều hơn hồi ở đại học. Mình rất chăm, và rất thích."

"Sau bữa tối thì cậu thường làm gì?"

"Chuyện trò với Reiko, đọc sách, nghe nhạc, đến nhà người khác chơi, đại loại thế."

"Tôi thì tập ghi-ta và viết tự truyện," Reiko nói.

"Tự truyện ư?"

"Đùa đấy thôi," Reiko cười. "Bọn tôi lên giường vào quãng mười giờ. Một nếp sống khá lành mạnh, phải không nào? Bọn tôi ngủ như trẻ nhỏ."

Tôi liếc nhìn đồng hồ. Còn vài phút nữa thì đến chín giờ. "Chắc mọi người sắp buồn ngủ rồi."

"Không sao. Hôm nay mình có thể thức khuya," Naoko nói. "Mình đã không gặp cậu lâu lắm rồi, mình muốn nói chuyện nữa. Cậu nói đi."

"Lúc còn một mình ban nãy, tự nhiên mình nhớ lại ngày xưa," tôi nói. "Cậu còn nhớ lần Kizuki và mình đến thăm cậu ở bệnh viện không? Ở bờ biển ấy. Mình nghĩ đó là học kỳ đầu của năm trung học cuối cùng."

"Lần mình phải mổ ngực," Naoko mỉm cười nói. "Có, mình nhớ. Cậu với Kizuki đến bằng môtô. Các cậu mua cho mình một hộp sô-cô-la và chúng chảy nhoét vào với nhau. Mà lại cứng rất khó ăn. Có vẻ đã lâu lắm rồi, mình không biết nữa."

"Ờ, đúng thế. Mình nghĩ lúc ấy cậu đang làm một bài thơ, một bài thơ dài."

"Tuổi ấy đứa con gái nào chẳng làm thơ," Naoko khúc khích. "Sao tự nhiên cậu lại chợt nhớ lại những chuyện ấy thế?"

"Mình cũng đang tự hỏi đây. Mùi gió biển, mùi hoa trúc đào, rồi tự nhiên những cái đó cứ thế hiện ra trong đầu Kizuki có đến bệnh viện ấy thăm cậu nhiều lần không?"

"Làm gì có chuyện đó! Và vì thế mà bọn mình đã cãi nhau to. Anh ấy đến một lần, sau đó thì đến cùng với cậu, và chỉ có thế thôi. Anh ấy thật khủng khiếp. Và cái lần đầu anh ấy còn không thể ngồi cho ấm chỗ nữa, chỉ ở khoảng mười phút. Anh ấy mua cho mình mấy quả cam và lầu bầu những chuyện gì mình nghe không hiểu, rồi anh ấy bóc một quả và tiếp tục lầu bầu, rồi thì về luôn. Anh ấy bảo rất kị bệnh viện." Naoko cười. "Anh ấy rất trẻ con trong những chuyện như vậy. Mình muốn nói là, ai mà chẳng ngán bệnh viện, đúng không nào? Và vì thế mà người ta đến bệnh viện thăm nhau để làm cho nhau thấy dễ chịu hơn, phấn khởi hơn, đại khái thế. Nhưng Kizuki lại không nghĩ như vậy."

"Cậu ấy không đến nỗi thế lúc cùng đi với mình đến bệnh viện. Cậu ấy vẫn như thường."

"Vì có cậu ở đấy mà," Naoko nói. "Có mặt cậu thì anh ấy luôn như thế, cố gắng giấu những điểm yếu của mình. Chắc anh ấy phải mến cậu lắm. Nhất định chỉ cho cậu thấy những mặt tốt của anh ấy thôi. Với mình thì lại không thế. Không cần giữ ý gì cả. Và có thể rất thất thường. Vừa mới vui vẻ tán chuyện đấy mà cũng có thể cáu bẳn được ngay. Lúc nào cũng vậy. Anh ấy đã như vậy từ hồi còn bé. Nhưng anh ấy cũng đã cố gắng thay đổi bản thân, cố gắng để tốt hơn."

Naoko đổi tư thế thu chân trên ghế.

"Anh ấy rất cố gắng, nhưng chẳng ăn thua gì, và anh ấy lại càng buồn và cáu bẳn hơn. Có biết bao nhiêu cái hay cái tốt ở anh ấy, nhưng anh ấy chưa bao giờ có được tâm lý tự tin cần thiết. "Mình phải làm cái này, mình phải thay đổi cái kia," lúc nào anh ấy cũng nghĩ như vậy, cho đến tận lúc lâm chung. Kizuki tội nghiệp!"

"Nhưng mà," tôi nói, "nếu quả là cậu ấy luôn cố gắng cho mình thấy mặt tốt nhất của cậu ấy, thì cậu ấy đã thành công rồi. Lúc nào mình cũng chỉ thấy mặt tốt nhất ấy của Kizuki."

Naoko mỉm cười:

"Nếu nghe cậu nói thế chắc anh ấy thích lắm đấy. Cậu là bạn duy nhất của anh ấy."

"Và Kizuki là bạn duy nhất của mình," tôi nói. "Không bao giờ có ai mình có thể gọi là bạn nữa, trước sau cũng vậy.

"Đó chính là nguyên nhân tại sao mình thích được ở bên cạnh hai người đến vậy. Lúc ấy mình cũng chỉ thấy những cái tốt nhất của anh ấy. Mình có thể thư giãn mà không lo lắng gì cả khi có ba chúng ta với nhau. Đó là nhưng lúc ưa thích nhất của mình. Mình không biết cậu nghĩ thế nào?"

"Còn mình thì vẫn thường lo không biết bản thân cậu nghĩ gì," tôi nói, lắc đầu một cái.

"Vấn đề là ở chỗ một thứ như vậy sẽ không thể tiếp tục mãi," Naoko nói. "Nhưng nhóm nhỏ hoàn hảo như thế không thể duy trì. Kizuki biết thế, mình cũng biết thế, và cả cậu nữa. Đúng không nào?"

Tôi gật đầu.

"Nhưng nói thật với cậu," Naoko tiếp tục, "Mình cũng yêu cả điểm yếu của anh ấy, chẳng khác gì mặt tốt. Anh ấy không có cái gì có thể gọi là xấu xa hoặc mờ ám. Anh ấy chỉ yếu đuối, vậy thôi. Mình đã cố nói với anh ấy điều đó, nhưng anh ấy không tin mình. Anh ấy bảo đó là vì bọn mình đã gần gũi nhau từ hồi còn lên ba. Mình biết quá rõ anh ấy mà, anh ấy sẽ bảo là mình đâu có phân biệt được điểm mạnh và điểm yếu của anh ấy, rằng với mình thì chúng như nhau cả thôi. Nhưng anh ấy không thay đổi được ý nghĩ của mình. Mình vẫn yêu anh ấy như thường, và sẽ không bao giờ thích ai khác được nữa."

Naoko nhìn tôi với một nụ cười buồn bã.

"Quan hệ trai-gái của bọn mình cũng thực sự khác thường. Dường như cơ thể hai đứa được gắn liền với nhau ở đâu đó. Nếu tình cờ phải xa nhau, một lực hút đặc biệt nào đó sẽ kéo hai đứa lại với nhau. Trở thành người yêu của nhau là việc tự nhiên nhất trên đời của bọn mình. Không phải suy nghĩ hay quyết định gì cả. Bọn mình bắt đầu hôn nhau lúc mười hai tuổi và biết vuốt ve nhau lúc mười ba tuổi. Mình đến phòng anh ấy hoặc anh ấy đến phòng mình và mình sẽ cho anh ấy ra bằng tay. Mình chưa bao giờ nghĩ rằng thế là quá sớm. Nó cứ xảy ra một cách tự nhiên thế thôi. Nếu anh ấy thích nghịch vú hoặc chỗ kín của mình, mình chẳng hề ngại chút nào, hoặc nếu anh ấy muốn phóng tinh, mình cũng chẳng ngại gì giúp anh ấy ngay. Mình chắc là cả hai đứa sẽ choáng nếu có ai lên án những hành động ấy của bọn mình là sai trái. Bởi vì bọn mình không làm gì sai. Bọn mình chỉ làm nhưng gì phải làm. Bọn mình vẫn luôn cho nhau xem mọi chỗ trên người. Gần như là bọn mình cùng sở hữu cơ thể của nhau. Nhưng ít nhất thì trong một thời gian dài bọn mình bảo nhau không đi quá trớn. Cả hai đứa đều ngại mình có thai, và lúc đó còn chưa biết tí gì về chuyện ngừa thai… Tóm lại, Kizuki và mình đã lớn lên với nhau như thế đấy, tay trong tay, thành một cặp đôi khăng khít. Bọn mình hầu như không biết tí gì về những nỗi khắc khoải của tình dục hoặc tâm trạng đau khổ đi kèm với sự trưởng thành của bản ngã mà bọn trẻ bình thường đều phải trải qua trong tuổi dậy thì. Bọn mình hoàn toàn cởi mở trong tình dục, còn về bản ngã thì vì bọn mình đã thu hút nhau và chia sẽ với nhau đến mức đó rồi nên cũng chẳng có ý thức gì về nó nữa. Cậu có hiểu mình nói gì không?"

"Chắc là hiểu," tôi nói.

"Bọn mình không thể chịu nổi phải xa nhau. Cho nên nếu Kizuki còn sống, nhất định là bọn mình sẽ vẫn ở bên nhau, yêu nhau, và dần dần trở thành bất hạnh."

"Bất hạnh ư? Tại sao lại thế?"

Naoko dùng ngón tay chải tóc lật ra sau nhiều lần. Nàng đã tháo dai buộc đầu, khiến tóc rũ hết xuống mặt môi lúc nàng cúi về phía trước.

"Bởi vì bọn mình sẽ phải trả lại cho thế giới này nhưng gì vẫn mắc nợ nó," nàng nói, ngước mắt về phía tôi "Nỗi đau của sự trưởng thành. Bọn mình đã không trả cái giá đó đúng lúc, và bây giờ thì giấy đòi nợ đã đến rồi. Đó là lí do Kizuki làm điều anh ấy đã làm, và tại sao mình lại ở đây. Bọn mình giống như hai đứa trẻ trần truồng lớn lên trên một hòn đảo hoang. Nếu đói, bọn mình chỉ việc nhặt chuối ăn; nếu thấy cô đơn, bọn mình chỉ việc tìm đến vòng tay nhau. Nhưng những cái như thế không kéo dài mãi mãi. Bọn mình lớn nhanh và phải gia nhập xã hội. Chính vì vậy mà cậu rất quan trọng đối với hai đứa chúng mình. Cậu là móc xích nối bọn mình với bên ngoài. Bọn mình gắng gỏi thông qua cậu để hoà nhập với thế giới bên ngoài càng nhiều càng tốt. Nhưng cuối cùng, việc đó không thành, tất nhiên rồi."

Tôi gật đầu.

"Mình không muốn cậu nghĩ là bọn mình đã lợi dụng cậu. Kizuki thực sự yêu mến cậu, chỉ tình cờ là quan hệ với cậu là quan hệ đầu tiên của bọn mình với một người khác. Bây giờ cũng vẫn vậy. Kizuki có thể chết rồi, nhưng cậu vẫn là móc xích duy nhất của mình với thế giới bên ngoài. Và Kizuki đã yêu mến cậu thế nào thì mình cũng vẫn yêu mến cậu như thế. Bọn mình không bao giờ muốn làm cậu bị tổn thương, nhưng có thể đã như vậy rồi, bọn mình có thể đã gây nên một vết thương sâu hoắm trong lòng cậu mất rồi. Không bao giờ bọn mình nghĩ là có thể xảy ra chuyện ấy."

Naoko lại cúi đầu và trở nên im lặng.

"Này các cậu, làm một cốc cacao nhé?" Reiko lên tiếng.

"Hay đấy. Em thích uống một chút cacao," Naoko nói.

"Tôi thích uống một chút rượu mùi mang theo, nếu mọi người không phản đối," tôi nói.

"Ô làm gì có ai phản đối," Reiko nói. "Cho tôi một ngụm với nhé!"

"Nhất định rồi," tôi cười.

Reiko mang ra hai cái cốc và chúng tôi cụng với nhau. Rồi chị vào bếp pha cacao.

"Mình có thể nói chuyện gì vui hơn một chút không?" Naoko hỏi.

Tôi chẳng có gì vui để nói. Tôi nghĩ giá mà còn Quốc-xã! Anh chàng đó có thể gợi hứng cho cả một xâu chuyện dài. Chỉ cần vài chuyện ấy thôi cũng đủ làm mọi người vui vẻ. Tôi đành phải kể dông dài về nhưng thói quen bẩn thỉu của bọn con trai trong học xá. Tôi thấy tởm khi phải kể những chuyện thô lỗ như thế, nhưng Naoko và Reiko thì cười lăn cười lộn. Họ lấy làm lạ lắm.

Rồi đến lượt Reiko bắt chước những bệnh nhân tâm thần. Cũng rất buồn cười. Hơn mười một giờ thì trông Naoko có vẻ buồn ngủ, Reiko liền kéo cái sô-pha ra thành giường và đưa cho tôi chăn ga gối nệm.

"Nếu cậu thấy muốn hiếp ai lúc nửa đêm thì chớ có nhầm người nhé," chị nói. "Cái thân thể không có nếp nhăn ở giường bên trái là của Naoko."

"Nói dối! Giường của em bên phải," Naoko nói.

Reiko nói thêm, "Mà này, tôi đã thu xếp để cả hai chúng tôi nghỉ mấy việc chiều mai. Sao ba chúng mình không làm một cuộc picnic với nhau nhỉ? Tôi biết có một chỗ rất hay ở gần đây."

"Ý tưởng hay đấy," tôi nói.

Hai người đàn bà thay nhau đánh răng rồi rút lui vào phòng ngủ. Tôi rót cho mình một ít rượu nữa rồi nằm dài trên chiếc giường sô-pha, điểm lại những sự kiện trong ngày từ sáng đến đêm. Một ngày đằng đẵng đến ghê người. Gian phòng tiếp tục trắng lên dưới ánh trăng. Ngoài vài tiếng giường cựa cọt kẹt rất nhẹ, không có một tìếng động nào trong phòng nơi Naoko và Reiko đang nằm ngủ. Những hình thù sơ giản bé tí xíu hình như đang trôi nổi trong bóng tối khi tôi nhắm mắt lại, và trong tai tôi vẫn còn vương vấn tiếng ghi-ta của Reiko, nhưng cả hai cái đó chẳng mấy chốc đều qua đi. Giấc ngủ tới và nhúng tôi vào một khối bùn ấm áp. Tôi mơ thấy nhưng cây liễu. Cả hai bên của một con đường núi đều toàn những liễu. Nhiều liễu không thể tưởng tượng được. Một cơn gió khá mạnh đang thổi, nhưng những cành liễu vẫn im phăng phắc. Sao lại thế được? Tôi thắc mắc, nhưng rồi thấy cành cây nào cũng đày những con chim nhỏ đang bậu chắc ở đó. Sức nặng của chúng giữ cho cành không lay động trong gió. Tôi vớ lấy một cái gậy và đập mạnh vào một cành ở gần mình, hy vọng chim sẽ bay đi và cành sẽ đu đưa theo gió. Nhưng chúng không chịu bay. Đáng nhẽ bay đi thì chúng lại biến thành những mảnh kim loại hình chim và rơi loảng xoảng xuống đất.

Khi mở mắt, tôi cảm thấy như giấc mơ vẫn hiển hiện tiếp tục ở trước mặt. Vầng trăng ùa vào gian phòng một thứ ánh sáng trắng cũng dịu nhẹ như thế. Như một phản xạ tự nhiên, tôi ngồi dậy và bắt đầu tìm những con chim kim loại kia, tất nhiên là làm gì có ở đó. Nhưng tôi thấy Naoko ở chân giường, ngồi im một mình, nhìn trân trối ra cửa sổ. Nàng đã co hai đầu gối và đang tựa cằm lên chúng, trông như một trẻ mồ côi đang bị đói. Tôi lần tìm chiếc đồng hồ đeo tay để cạnh gối mà không thấy. Nhìn độ chếch của ánh trăng, tôi đoán lúc ấy phải là hai hoặc ba giờ sáng rồi. Một cơn khát dữ dội bỗng đến với tôi, nhưng tôi nhất định ngồi im và tiếp tục ngắm nhìn Naoko. Nàng vẫn mặc bộ áo ngủ màu xanh tôi đã thấy lúc trước, và một bên tóc nàng đã được buộc lại bằng dai buộc đầu hình con bướm, để lộ vẻ đẹp của gương mặt nàng dưới ánh trăng. Lạ thật, tôi nghĩ, nàng đã cởi dải buộc đầu trước khi đi ngủ cơ mà.

Naoko im phăng phắc ở đó, như một con thú ăn đêm nhỏ bé vừa bị ánh trăng nhử ra ngoài tổ. Trăng sáng làm rõ nét đường viền của môi nàng. Có vẻ cực kì mỏng mảnh và rất dễ bị tan vỡ, đường viền ấy rung động hầu như không thể nhận thấy được, theo với nhịp đập của tim nàng hoặc những chuyển động của nội tâm nàng, như thể nàng đang thì thầm với bóng đêm nhưng từ ngữ vô thanh.

Tôi nuốt khan, hy vọng đỡ khát, nhưng trong màn đêm tĩnh mịch tiếng nuốt ấy của tôi có vẻ thật ầm ĩ. Như thể đó là dấu hiệu cho nàng, Naoko đứng lên và lướt về phía đầu giường, áo ngủ sột soạt nhẹ nhàng. Nàng quì xuống sàn nhà ngay cạnh gối tôi, hai mắt gắn chặt vào mắt tôi. Tôi nhìn nàng chăm chú, nhưng mắt nàng không nói gì với tôi hết. Trong vắt lạ lùng, chúng có vẻ là những cửa sổ vào một thế giới khác, nhưng có nhìn mãi vào đó tôi cũng chẳng thấy được gì. Mặt chúng tôi cách nhau chưa đầy một gang, nhưng nàng xa cách tôi cả nhiều năm ánh sáng.

Tôi với ra và cố chạm vào nàng, nhưng Naoko rụt người lại, môi hơi run rẩy. Một lúc sau, nàng đưa tay lên và bắt đầu cởi khuy bộ áo ngủ của mình. Có bảy cái tất cả. Tôi cảm thấy như giấc mơ của mình đang tiếp diễn khi nhìn những ngón tay mảnh dẻ đáng yêu của nàng cởi dần từng chiếc khuy từ trên xuống dưới. Bảy cái khuy trắng nhỏ bé. Khi đã cởi hết chúng, Naoko kéo cho bộ áo trật khỏi vai rồi lôi nó tuột hẳn xuống như một con côn trùng lột xác. Nàng không mặc gì dưới lần áo ngủ ấy. Trên người nàng chỉ còn chiếc dải buộc đầu hình bươm bướm. Trần truồng, và vẫn quì cạnh giường, nàng nhìn tôi. Tắm trong ánh trăng dìu dịu, thản thể của Naoko ánh lên như da thịt sơ sinh khiến tôi thấy tan nát cả cõi lòng. Khi nàng cử động - và nàng cử động nhẹ đến mức hầu như không thấy được - những chỗ sáng tối trên người nàng đi động thật tinh tế. Khối tròn trịa căng phồng của cặp vú, hai dầu vú nhỏ xíu, chỗ lõm vào ở phần rốn, cặp xương hông và đám lông mu, tất cả đều tạo nên những bóng đổ li ti lấm chấm mà hình dạng của chúng liên tục biến đổi như nhưng gợn sóng lăn tăn trải dài trên mặt hồ phẳng lặng.

Thật là một toà thiên nhiên hoàn hảo? tôi thầm nghĩ Naoko đã có được một thân hình hoàn hảo như vậy từ bao giờ? Chuyện gì đã xảy ra với tấm thân tôi đã từng ôm trong tay đêm xuân năm trước?

Đêm đó, khi tôi nhẹ nhàng cởi quần áo nàng trong khi nàng khóc, thân thể của Naoko đã gợi cho tôi một cảm giác về sự bất toàn. Vú nàng dường như cứng nhắc, với hai đầu vú đâm ra một cách lạ lẫm, cặp hông cũng cứng lạ lùng. Nàng là một cô gái đẹp, tất nhiên rồi, thân thể nàng kì diệu và hàp dẫn. Nó đã kích động tôi đêm đó và lôi tôi vào những đợt sóng với một sức mạnh khổng lồ. Nhưng dù sao, khi ôm nàng, vuốt vẻ nàng, hôn lên da thịt trần trụi của nàng, tôi vẫn có một cảm thức lạ lùng và mạnh mẽ về sự lệch lạc và vụng về của cơ thể con người. Khi ôm Naoko trong tay, tôi đã muốn nói với nàng rằng "Mình đang làm tình với cậu đây. Mình đang ở trong cậu đây. Nhưng thực tình chẳng có gì đâu. Không có chuyện gì hết. Chỉ là hai tấm thân kết nối với nhau mà thôi. Tất cả những gì mình đang làm đây chỉ là nói cho nhau biết rằng có những điều chỉ có thể nói được bằng cách cọ xát hai khối thịt bất toàn như thế này. Làm nhu vậy, chúng mình mới chia sẻ được những bất toàn của nhau." Nhưng tất nhiên tôi không thể hy vọng sẽ có ai hiểu được những lời định nói ấy của mình. Tôi chỉ tiếp tục ôm chặt nàng vào lòng. Và khi làm vậy, tôi có thể cảm thấy bên trong thân thể nàng một cái gì đó như một tố chất ngoại lai chai đá, một cái gì phụ trội mà tôi không thể đến gần được. Và chính cảm giác ấy đã vừa làm cho Naoko tràn ngập cõi lòng tôi vừa cho tôi một cương cứng căng thẳng khủng khiếp.

Nhưng tấm thân mà Naoko đang để lộ trước mắt tôi đây không giống tí gì với tấm thân tôi đã ôm ấp đêm đó. Da thịt này đã phải qua nhiều biến đổi để tái sinh trong tuyệt đỉnh hoàn hảo dưới ánh trăng. Mọi dấu hiệu mũm mĩm trẻ con đã bị tước bỏ hết từ cái chết của Kizuki để được thay thế bằng da thịt của một người đàn bà trưởng thành. Vẻ đẹp thân xác của Naoko lúc bấy giờ hoàn hảo đến nỗi nó không khơi gợi một chút gì là dục tính ở trong tôi. Tôi chỉ có thể kinh ngạc ngắm nhìn đường cong kiều diễm từ thắt lưng xuống hông, vẻ phì nhiêu tròn trịa của đôi vú, nhưng chuyển động nhẹ nhàng theo nhịp thở của làn bụng thon và đám lông mu đen đổ bóng ở bên dưới.

Nàng phô bày vẻ trần trụi của mình cho tôi như thế có lẽ khoảng năm phút, rồi cuối cùng lại phủ mình dưới bộ áo ngủ kia và lần lượt cài lại khuy từ trên xuống dưới. Xong chiếc khuy cuối cùng một cái là nàng trỗi dậy và lướt về phía phòng ngủ, lẳng lặng mở cửa, rồi khuất dạng.

Tôi ở nguyên tại chỗ rất lâu rồi mới chợt ra khỏi giường. Tôi lượm cái đồng hồ đã rơi xuống sàn và đưa nó ra chỗ có ánh trăng. Đã ba giờ bốn mươi phút. Tôi vào bếp uống mấy cốc nước rồi mới trở về giường, nhưng khi giấc ngủ đến với tôi thì nắng sáng đã vào đến mọi ngóc ngách của gian phòng và xua tan mọi dấu vết của vầng trăng nhợt nhạt. Tôi vừa lơ mơ muốn thiếp đi thì Reiko đã đến vỗ vỗ vào má, miệng kêu to, "Sáng rồi! Sáng rồi!"

Trong lúc Reiko gập lại cái giường sô-pha, Naoko vào bếp làm điểm tâm. Nàng mỉm cười với tôi và nói "Chào buổi sáng."

"Chào buổi sáng," tôi đáp lại. Tôi đứng bên và nhìn nàng khi nàng đun nước và cắt bánh mì, luôn miệng hát khe khẽ không ra lời, nhưng tôi không thấy trong dáng điệu nàng có bất kì cái gì có thể gợi cho tôi chuyện nàng đã phô bày tấm thân trần trụi của nàng cho tôi xem đêm hôm trước.

"Mắt cậu đỏ ngầu," nàng nói với tôi khi rót cà-phê. "Cậu không sao chứ."

"Mình bị tỉnh lúc nửa đêm và không thể ngủ lại được."

"Chắc là tại bọn tôi ngáy phải không? Reiko nói.

"Không phải thế," tôi đáp.

"Vậy thì tốt," Naoko nói.

"Cậu ấy giữ ý đấy thôi," Reiko vừa nói vừa ngáp.

Lúc đầu tôi tưởng Naoko đang lúng túng hoặc gia vờ ngây thơ vì có mặt Reiko, nhưng bộ điệu nàng vẫn y nguyên thế lúc Reiko ra khỏi phòng một lúc, và mắt nàng vẫn trong veo như thường.

"Cậu ngủ thế nào?" tôi hỏi Naoko.

"Say như chết," nàng đáp như không. Nàng chỉ gài một cái cặp tóc, không trang điểm gì cả.

Tôi không biết phải nghĩ thế nào, và tiếp tục như vậy trong suốt bữa ăn sáng. Trong lúc phết bơ vào bánh mì hoặc bóc trứng, tôi vẫn liếc nhìn Naoko mong thấy một dấu hiệu gì đó.

"Sao cậu cứ nhìn mình như thế?" nàng hỏi với một nụ cười.

"Tôi nghĩ cậu ấy đang yêu ai đó," Reiko nói.

"Cậu đang yêu ai đó à?" Naoko hỏi tôi.

"Có thể," tôi nói, mỉm cười đáp lại nàng. Khi hai người đàn bà bắt đầu trêu chọc tôi, tôi thôi không nghĩ đến chuyện đêm trước nữa và tập trung vào phần bánh mì với cà-phê của mình.

Sau bữa sáng, Reiko và Naoko nói họ sẽ đi cho chim ăn trong nhà nuôi chim. Tôi xung phong đi theo. Họ thay quần bò, áo lao động và đi ủng cao-su trắng. Nằm trong một khu vườn nhỏ đằng sau dãy sân bóng quần, nhà nuôi chim có đủ loại trong đó, từ gà và bồ câu cho đến công với vẹt, và xung quanh nhà là những luống hoa, bụi cây và ghế băng để ngồi chơi. Hai người đàn ông trạc ngoại tứ tuần, có vẻ cũng là bệnh nhân, đang cào lá rụng trên đường đi. Hai người đàn bà bước đến chào hỏi họ và Reiko nói đùa làm cho họ cười. Hoa bướm đang nở rộ trên luống, và những bụi cây đều được xén tỉa rất chu đáo. Vừa nhác thấy Reiko, lũ chim đã kêu lên ríu rít và bay chao chát ở trong chuồng.

Hai người vào chái nhà cạnh chuồng và mang ra một bao thức ăn và một cuộn ống nước. Naoko vặn chặt một đầu ống vào vòi nước rồi mở vòi. Thận trọng không để cho chim bay ra, hai người lên vội vào chuồng chim, Naoko xì nước lùa rác bẩn và Reiko cọ sàn chuồng bằng một cái chổi chuyên dụng. Những hạt nước tung tóe lấp lánh trong nắng sáng. Mấy con công đập cánh chạy quanh để không bị nước phun vào người. Một con gà tây vươn cổ lầu bầu về phía tôi như một lão già nhăn nhó, trong lúc một con vẹt đậu trên cao tru tréo phàn nàn và đập cánh phành phạch. Reiko kêu mieo một cái về phía con vẹt, khiến nó bay vù ra tận phía kia của chuông, rồi lập tức gào lên "Cám ơn!" "Đồ điên!" "Đồ ngu!"

"Không biết ai dạy nó ăn nói như thế?" Naoko nói rồi thở dài.

"Không phải tôi đâu nhé," Reiko nói. "Tôi không bao giờ làm những chuyện như vậy." Chị lại kêu mieo mieo, và con vẹt im bặt.

Vừa cười, Reiko vừa giải thích, "Anh chàng này có lần suýt bị mèo ăn thịt. Giờ thì sợ mèo đến chết."

Cọ rửa xong, hai người bỏ đồ xuống rồi đi quanh chuồng, đổ thức ăn vào đầy các máng. Chạy ù qua các vung nước trên sàn, con gà tây nhào ngay đến máng của nó và vục xuống ăn, mải miết không để ý gì đến việc Naoko đập đập vào đuôi nó.

"Sáng nào cậu cũng làm việc này à?" tôi hỏi Naoko.

"Sáng nào cũng vậy!" nàng nói. "Họ thường giao việc này cho những phụ nữ mới đến. Dễ quá mà. Cậu có muốn xem thỏ không?"

"Có," tôi đáp.

Chuồng thỏ ở ngay sau chuồng chim. Khoảng mười con thỏ nằm ở trong đó, vẫn ngủ trên ổ rơm. Naoko quét sạch phân, cho thức ăn vào máng, rồi nhặt lên một chú thỏ con, dụi dụi nó vào má.

"Có quí không này!" nàng nói nựng, rồi đưa nó cho tôi. Quả bóng lông nhỏ bé ấm áp run rẩy trong tay tôi, chun chun cái mũi.

"Đừng lo, anh ấy không làm mày đau đâu," nàng nói với con thỏ, vuốt vẻ đầu nó và mỉm cười với tôi. Nụ cười ấy rạng rỡ quá chừng, và không vương một chút bóng tối nào, đến nỗi tôi cũng không thể không cười theo. Thế còn Naoko đêm hôm trước thì sao? tôi tự hỏi.

Tôi biết chắc đó là Naoko thật chứ không phải nằm mơ. Rõ ràng là nàng đã cởi áo và phô bày cho tôi tấm thân trần của nàng.

Reiko huýt sáo một cách đáng yêu điệu nhạc bài "Mary kiêu hãnh" trong lúc dồn chỗ rác đã vun vào một túi nilông và buộc chặt miệng túi. Tôi giúp hai người đem dụng cụ và bao thức ăn vào chái nhà.

"Buổi sáng là thời gian mình thích nhất trong ngày," Naoko nói. "Có vẻ như mọi thử đều tươi mới. Đến trưa là mình bắt đầu thấy buồn, và ghét nhất là lúc mặt trời lặn. Ngày nào mình cũng sống qua những cảm giác như thế."

"Và trong khi sống với những cảm giác ấy, bọn trẻ các cậu cứ việc già dần đi, hệt như tôi," Reiko mỉm cười nói. "Các cậu mải nghĩ sáng nghĩ chiều và chưa kịp hiểu ra chuyện gì thì tuổi già đã ập đến rồi."

"Nhưng chị thích già đi cơ mà?" Naoko hỏi.

"Không hẳn thế," Reiko nói. "Nhưng chắc chắn là tôi không mong trẻ lại đâu."

"Tại sao không?" tôi hỏi.

"Khó chịu chết đi được!" chị nói. Rồi chị ném cái chổi vào và đóng cửa chái nhà, miệng huýt sáo liên hồi bài "Mary kiêu hãnh."

Quay lại căn hộ, hai người đàn bà thay ủng và đi giày thể thao rồi nói họ phải đi làm đồng. Reiko gợi ý tôi nên ở nhà đọc sách hoặc làm gì đó vì đi xem họ làm đồng cũng chẳng thú vị gì, mà họ cũng phải làm theo nhóm đông người.

"Và trong khi đợi bọn này thì cậu cũng có thể giặt hộ đống quần áo lót chúng tôi bỏ trong bồn rửa ấy," chị nói thêm.

"Chị đùa đấy chứ," tôi nói, hoàn toàn bất ngờ.

"Tất nhiên rồi," chị cười vang. "Cậu đáng yêu thật. Có phải thế không hả Naoko?"

"Đúng thế," Naoko nói và cũng cười vang.

"Tôi sẽ làm bài tiếng Đức," tôi thở dài nói.

"Ồ, bé ở nhà làm bài tập cho ngoan nhé," Reiko nói. "Bọn mình sẽ về trước giờ ăn trưa."

Hai người tíu tít ra đi. Tôi nghe tiếng chân và giọng nói của nhiều người đi dưới nhà.

Tôi vào nhà tắm rửa mặt lần nữa, rồi loay hoay cắt móng tay. Đối với một phòng tắm dùng chung cho hai người đàn bà thì mọi thứ ở đây thật quá đơn giản. Ngoài vài lọ xà phòng, kem dưỡng ẩm và chống nắng xếp rất gọn gàng, hầu như không có cái gì có thể gọi là đồ trang sức.

Cắt xong móng tay, tôi pha cà-phê rồi ngồi uống ở ngay bàn bếp, cuốn sách tiếng Đức mở trước mặt. Chỉ mặc áo phông trong gian bếp chan hoà nắng sáng, tôi đã định học thuộc tất cả những dạng thức trong một biểu ngữ pháp thì bỗng nhiên bị một cảm giác lạ lùng xâm chiếm. Tự nhiên tôi thấy như các dạng động từ bất thường của tiếng Đức và gian bếp này cách biệt nhau đến vô cùng tận.

Hai người đàn bà từ ngoài đồng trở về lúc mười một rưỡi, thay nhau tắm rửa và thay quần áo, rồi cả ba chúng tôi đến nhà ăn dùng bữa trưa. Ăn xong, chúng tôi đi ra cổng trước. Lần này thì phòng gác có người thường trực. Ông ta đang ngồi ở bàn ăn bữa trưa, chắc là có người mang từ nhà ăn ra cho. Chiếc đài bán dẫn trên giá đang phát ra một điệu pop xưa mùi mẫn. Ông ta vẫy chúng tôi với một tiếng chào thân thiện, và chúng tôi đều lên tiếng chào lại.

Reiko nói với ông rằng chúng tôi sẽ ra ngoài đi dạo khoảng chừng ba tiếng.

"Tuyệt," ông nói. "Thời tiết này là các bạn may rồi. Nhưng mà đừng có đến con đường trong thung lũng. Trận mưa to hôm trước làm nó lầy lội lắm. Nhưng chỗ khác thì ổn cả."

Reiko viết tên mình và Naoko vào sổ đăng kí, điền cả ngày giờ.

"Đi chơi vui nhá," ông gác nói. "Và cẩn thận nhá."

"Người tốt nhỉ," tôi bảo.

"Ông ấy cũng hơi hơi ở đây này," Reiko nói, tay chỉ chỉ lên đầu.

Nhưng lời ông ta về thời tiết quả là đúng. Trời xanh ngắt một màu, chỉ có mỗi một vẹt mây trắng bám ngang trên đỉnh như một vệt sơn quét thử. Chúng tôi đi dọc theo bức tường đá thấp của Nhà nghỉ Ami một lúc, rồi nối đuôi nhau rẽ lên một lối mòn hẹp và dốc. Reiko đi trước dẫn đường, Naoko đi giữa, và tôi sau cùng. Reiko leo dốc với những bước chân tự tin của một người thuộc mọi ngõ ngách núi non ở vùng này. Naoko mặc quần bò xanh, áo cánh trắng, và cầm áo chẽn ngoài ở một tay. Tôi ngắm mái tóc dài chấm vai của nàng lúc lắc theo bước đi.

Thỉnh thoảng nàng liếc ra sau về phía tôi, mỉm cười khi mắt hai đứa gặp nhau. Con đường mòn đi lên mãi đến chóng cả mặt, nhưng Reiko vẫn xăm xăm bước tiếp. Naoko phải rảo bước theo chị, vừa đi vừa quệt mồ hôi trên mặt. Đã lâu không hăng hái tham gia các hoạt động ngoài trời, tôi thấy hụt cả hơi.

"Cậu đi thế này nhiều không?" tôi hỏi Naoko.

"Thường mỗi tuần một lần," nàng đáp. "Mệt hả?"

"Cũng hơi hơi," tôi nói.

"Sắp đến nơi rồi," Reiko nói. "Được độ hai phần ba đường rồi. Cố lên, cậu là con trai mà, phải không?"

"Vâng, nhưng yếu lắm."

"Chơi gái suốt mà," Naoko lẩm nhẩm, như nói một mình.

Tôi muốn nói lại, nhưng chẳng còn hơi. Thỉnh thoảng, những con chim màu đỏ có chỏm lông trên đầu lại bay ào qua lối đi, nổi bật trên nền trời xanh. Những cánh đồng xung quanh đầy những loại hoa trắng, xanh và vàng, và ong bay vo ve khắp nơi. Đi tới từng bước một, tôi không nghĩ gì khác ngoài cảnh trí đang diễn ra trước mắt.

Đi độ mươi phút nữa thì hết dốc và đến một vùng đất cao bằng phẳng. Chúng tôi nghỉ lại đó một lúc, thở dốc, lau mồ hôi, và uống nước chai mang theo. Reiko tìm một cái lá và làm nó thành một cái còi.

Lối mòn chạy xuống theo triền dốc thoai thoái giữa những bụi cỏ mận cao rậm rạp đang dạt dào trong gió. Đi độ mười lăm phút nữa thì chúng tôi qua một ngôi làng. Không có tí dấu hiệu nào của sự sống con người, và khoảng chục ngôi nhà ở đó đều điêu tàn ở các mức độ khác nhau. Cỏ dại ngang lưng mọc đầy quanh các ngôi nhà và những đám phân bồ câu khô trắng bám đầy những hốc hom trên các mảng tường. Một ngôi nhà đã sụp đổ và chỉ còn trơ lại những cột chống. Nhưng ngôi nhà khác thì lại trông như vẫn ở được, chỉ cần mở toang các cửa chớp chống bao kia là xong. Những ngôi nhà chết im lìm ấy như đang ép chặt lấy hai bên lối mòn khi chúng tôi đi qua.

"Người ta đã sống ở đây mãi đến tận bảy tám năm về trước," Reiko nói với tôi. "Quanh đây từng là nông trại cả Nhưng họ bỏ đi hết rồi. Khó sống quá. Họ bị mắc kẹt khi tuyết xuống dày vào mùa đông. Và đất cũng không màu mỡ gì. Họ có thể sống khá hơn ở thành phố."

"Phí quá," tôi nói. "Một số nhà trông hoàn toàn còn có thể ở được."

"Có thời một số dân hippy đã định sống ở đây, nhưng rồi cũng bỏ cuộc. Không thể chịu nổi mùa đông."

Qua khỏi ngôi làng một lúc thì đến một khu đất rộng có rào xung quanh trông có vẻ là đồng cỏ nuôi gia súc. Ở mãi đằng xa, tôi thấy có mấy con ngựa đang gặm cỏ. Chúng tôi đi dọc theo hàng rào, và một con chó to tướng chạy đến, đuôi vẫy loạn xạ. Nó đứng dựng lên bám vào Reiko, ngửi hít mặt chị, rồi nhảy cỡn quanh Naoko. Tôi huýt sáo và nó chạy đến liếm tay tôi với cái lưỡi lòng thòng.

Naoko vỗ về đầu con chó và nói rằng nó là con vật nuôi của khu đồng cỏ này. "Mình cuộc là nó phải gần hai mươi tuổi rồi," nàng nói. "Răng nó hỏng cả, không ăn nổi cái gì cứng nữa. Nó ngủ suốt ngày ở trước cửa tiệm, và hễ nghe tiếng chân là chạy ra mừng."

Reiko lấy từ ba-lô ra một mẩu pho-mát. Ngửi thấy mùi, con chó nhảy ngay sang chị và ăn lấy ăn để.

"Mình không còn được thấy anh chàng này lâu nữa đâu," Reiko nói, xoa đầu con chó. "Giữa tháng Mười họ cho hết ngựa với bò lên xe tải và chở về nhà trại. Chỉ mùa hè chúng mới được thả cho ăn có ở đây, và họ cũng mở một kiểu tiệm cà-phê nhỏ cho khách du lịch. Du với chả lịch! Mỗi ngày có độ hai chục dân đi bộ. Này các cậu, ta kiếm cái gì uống chứ hả?"

"Hay đấy," tôi nói.

Con chó dẫn đường đến tiệm cà-phê, một túp nhà nhỏ màu trắng có hiên trước và một cái biển hiệu bạc phếch hình một cốc cà-phê treo dưới hồỉ nhà. Nó đưa chúng tôi lên mấy bậc thềm rồi nằm dài xuống sàn hiên, hai mắt nheo lại. Khi chúng tôi đã ngồi quanh một cái bàn ngoài hiên đó, một cô gái tóc buộc đuôi ngựa mặc may-ô với quần bò trắng chạy ra chào hỏi Reiko và Naoko như thể bạn cũ với nhau vậy.

"Đây là bạn của Naoko," Reiko giới thiệu tôi.

"Chào anh!" cô gái nói.

"Chào cô!" tôi đáp lại.

Trong khi ba người đàn bà tán dóc với nhau, tôi vuốt ve cổ con chó nằm dưới gầm bàn. Lúc gãi đúng chỗ, nó nhắm mắt và thở dài thật khoan khoái.

"Nó tên gì thế?" tôi hỏi cô gái.

"Pêpê."

"Này, Pêpê," tôi gọi con chó, nhưng nó không động đậy "Nó nặng tai lắm," cô gái bảo. "Anh phải nói to lên không thì nó không nghe thấy gì đâu."

"Pêpê!" tôi hét to. Con chó mở mắt và sủa lên một tiếng ra đều đã chú ý.

"Không sao, Pêpê," cô gái nói. "Cứ ngủ đi và sông lâu vào nhé." Pêpê lại phủ phục xuống chân tôi.

Naoko và Reiko gọi sữa lạnh. Tôi gọi bia.

"Mình vặn đài nghe đi," Reiko nói. Cô gái bật tăng âm rồi dò vào một đài FM. Ban nhạc Máu, Mồ hôi và Nước mắt đang chơi bài "Bánh Xe Quay."

Reiko có vẻ rất vui. "Nào, chỉ vì cái này mà bọn mình đến đây đấy nhé! Ở nhà không có đài. Nếu không thỉnh thoảng đến đây thì thật chẳng biết ở bên ngoài họ đang chơi những nhạc gì nữa."

"Cô có ngủ lại đây không?" tôi hỏi cô gái.

"Không bao giờ!" cô cười. "Ban đêm ở đây thì buồn chết mất. Mấy anh chăn nuôi cho tôi đi xe về phố và sáng thì tôi lại vào." Cô chỉ một cái xe tải hai cầu đậu trước cửa nhà văn phòng của khu trại ở gần đó.

"Cậu cũng sắp đến kì nghỉ nữa mà, phải không?" Reiko hỏi.

"Vâng, với lại chúng tôi cũng sắp đóng cửa chỗ này," cô gái nói.

Reiko mời cô thuốc lá, và họ hút với nhau.

"Tôi sẽ nhớ cậu đấy," Reiko nói.

"Nhưng tháng Năm tôi sẽ trở lại mà," cô gái nói và cười. Trên đài, ban nhạc Cream bắt đầu chơi bản "Căn phòng trắng". Sau quảng cáo thì đến bài "Hội chợ Scarborough" của Simon và Garfunkel.

"Tôi thích bài đó," Reiko nói sau khi đã hết bài.

"Tôi xem phim đó rồi," tôi nói.

"Ai đóng trong đó?"

"Dustin Hoffman."

"Tôi không biết," chị nói, hơi lắc đầu buồn bã.

"Thiên hạ đổi thay như điên, và tôi chẳng còn biết chuyện gì đang diễn ra nữa."

Chị bảo cô gái lấy cho mượn một cái ghi-ta.

"Có ngay," cô ta nói, tắt ngay đài và mang ra một cây ghi-ta đã cũ Con chó nghểnh lên ngửi ngửi cái đàn.

"Mày không ăn cái này được," Reiko vờ nghiêm giọng. Một cơn gió nồng mùi cổ ào qua hiên nhà. Núi non trai dài trước mặt chúng tôi, đường viền các ngọn núi hằn sắc nét trên nền trời.

"Trông giống một cảnh trong The Sound of music," tôi nói với Reiko khi chị đang lên dây đàn.

"Đó là cái gì vậy?" chị hỏi.

Chị so dây, dò hợp âm mở đầu của bài "Hội chợ Scarborough". Rõ ràng chị mới thử chơi bài này lần đầu tiên, nhưng chỉ sau vài lần dò nốt, chị đã có thể chơi một mạch từ đầu đến cuối. Đến lần thứ ba thì nghe đã thành thạo và thậm chí còn thêm cả vài đoạn luyến láy điểm xuyết "Tai tốt," chị nháy mắt nói với tôi. "Tôi có thể chơi bất kì bài gì nếu được nghe nó ba lần."

Vừa khẽ hát giai điệu, chị vừa chơi lại đầy đủ một hoà tấu của bài "Hội chợ Scarborough". Ba chúng tôi vỗ tay ran lên, và Reiko đáp lại bằng một động tác cúi đầu hoa mỹ.

"Tôi thường được hoan hô nhiều hơn thế sau một bản công-xéc-tô của Mozart," chị nói.

Cô gái bảo nhà hàng sẽ biếu không cốc sữa cho chị nếu chị chơi bài "Mặt trời lên đây rồi" của nhóm Beatles.

Reiko giơ một ngón cái lên ra hiệu xong ngay và vào bài luôn. Giọng chị không đầy, và khói thuốc lâu năm đã khiến nó khàn khàn, nhưng nghe vẫn đáng yêu, chân thật và gần gũi. Tôi hầu như cảm thấy như mặt trời đang sắp lên nữa thật khi ngồi nghe chị hát, uống bia và nhìn ra dãy núi xa. Đó là một cảm giác nhẹ nhàng và ấm áp.

Reiko trả lại cây ghi-ta và đề nghị lại được nghe đài. Rồi chị gợi ý với Naoko và tôi rằng hai chúng tôi nên dành độ một tiếng đi bộ loanh quanh khu vực đó.

"Tôi muốn nghe đài thêm một lúc và ở đây với cô ấy. Nếu các cậu quay lại đây lúc ba giờ thì ôkê."

"Hai đứa chúng tôi đi một mình với nhau lâu thế có được không?"

"A, thực sự thì nội quy không cho phép đâu, nhưng thôi mặc kệ nó. Tôi đâu có phải là bảo mẫu. Mà tôi cũng phải giải lao chứ. Còn cậu thì đi suốt từ Tokyo đến đây, chắc chắn phải có hàng tấn chuyện để nói". Reiko vừa nói vừa châm một điếu thuốc nữa.

"Mình đi thôi," Naoko đứng lên.

Tôi đi theo nàng. Con chó nhổm dậy đi theo chúng tôi một lúc, nhưng rồi nó cũng chán và quay lại chỗ của mình dưới hiên nhà. Chúng tôi đi xuống một con đường bằng chạy theo hàng rào. Naoko thỉnh thoảng lại nắm lấy bàn tay tôi hoặc khoác chặt lấy cánh tay tôi.

"Thế này cũng gần như ngày xưa, phải không nào". nàng nói.

"Không phải ngày xưa," tôi cười. "Vừa mới mùa xuân năm nay mà! Nếu đó là ngày xưa thì mười năm trước đã là cổ sử rồi."

"Thế mà có cảm giác như nó là cổ sử thật," Naoko nói. "Nhưng thôi, xin lỗi về chuyện đêm qua nhé. Mình không biết, mình cứ như một búi dây thần kinh vậy. Nhẽ ra mình không nên làm thế sau khi cậu đã đi suốt từ Tokyo đến đây."

"Không sao," tôi nói. "Cả hai chúng ta đều có hàng mớ tình cảm cần phải được bộc lộ. Cho nên nếu cậu muốn cầm cái mớ tình cảm ấy mà quật ai đó, thì quật mình đây này. Sau đó bọn mình mới có thể hiểu nhau hơn."

"Thế nếu cậu đã hiểu mình hơn rồi thì sao nữa?"

"Cậu vẫn chưa nghe thủng chuyện phải không? tôi nói. "Đây không phải là ván đề "rồi thì sao nữa". Có người chỉ thấy hưng phấn khi đọc những bảng giờ tàu và suốt ngày chỉ làm độc một chuyện đó. Có người lại làm những mô hình tàu thuỷ to tướng chỉ bằng toàn những que diêm. Thế thì có gì là không được nếu tự nhiên có một thằng cha trên thế giới này chỉ thích hiểu được cậu?"

"Kiều như một trò ham thích phải không?" nàng nói, có vẻ thú vị.

"Ờ, có lẽ cậu gọi nó như vậy cũng được. Phần lớn người bình thường sẽ gọi nó là tình bạn hoặc tình yêu hoặc gì gì đó, nhưng nếu cậu muốn gọi nó là một ham thích thì cũng chẳng sao."

"Cậu nói xem," Naoko nói, "cậu đã thích Kizuki, đúng không?"

"Tất nhiên rồi," tôi nói.

"Thế Reiko thì sao?"

"Mình thích chị ấy lắm," tôi nói. "Chị ấy thực tốt."

"Hà cớ gì mà cậu lúc nào cũng thích những người như thế - những người như chúng mình ấy mà? Bọn mình đều là loại kì dị méo mó và đang chết đuối cả - mình với Kizuki và Reiko. Sao cậu không thích những người bình thường hơn?"

"Bởi vì mình không nhìn các cậu như vậy," tôi nói sau khi đã suy nghĩ một lúc. "Mình không thấy cậu hoặc Kizuki hoặc Reiko là méo mó tí gì. Bọn mà mình cho là méo mó thì đang chạy lông nhông cả ở ngoài kia kìa."

"Nhưng bọn mình méo mó thật," Naoko nói.

"Mình có thể thấy điều đó."

Chúng tôi im lặng bước tiếp. Con đường rời khỏi hàng rào và dẫn đến một bãi cỏ hình tròn có cây mọc xung quanh như một cái hồ.

"Đôi khi mình tỉnh giấc giữa đêm khuya và thấy rất sợ" Naoko lên tiếng, nép chặt vào cánh tay tôi. "Mình sọ sẽ không bao giờ bình phục. Mình sẽ méo mó thế này mãi và già đi rồi tàn tạ ở nơi này. Mình thấy lạnh như thể trong người mình đóng thành băng hết. Thật kinh khủng… thật lạnh lẽo…"

Tôi quàng tay kéo nàng vào sát mình.

"Mình cảm thấy như Kizuki đang từ trong bóng tối với ra mình, gọi mình, "Này Naoko, chúng ta không thể xa nhau được". Khi mình nghe anh ấy nói thế, mình không biết phải làm gì nữa."

"Vậy cậu làm gì lúc ấy?"

"Này… đừng hiểu nhầm chuyện này đấy, nhất là bây giờ."

"Ôkê, mình không hiểu nhầm đâu."

"Mình bảo Reiko ôm mình. Mình đánh thức chị ấy và bò lên giường chị ấy để được chị ấy ôm thật chặt. Và mình khóc. Và chị ấy vuốt ve mình cho đến khi băng giá tan đi và mình lại ấm lại. Cậu nghĩ thế là bệnh chứ còn gì nữa?"

"Không phải. Nhưng ước gì mình có thể là người ôm cậu," tôi nói.

"Vậy thì ôm mình đi. Bây giờ. Ngay ở đây này."

Chúng tôi ngồi xuống thảm cỏ khô ráo của cánh đồng và quàng tay ôm lấy nhau. Cỏ mọc cao xung quanh, và chúng tôi chẳng nhìn thấy gì ngoài bầu trời và mây ở trên đâu. Tôi nhẹ nhàng đặt Naoko nằm xuống và ôm nàng trong tay. Nàng ấm áp, mềm mại, và hai tay nàng siết chặt quanh tôi. Chúng tôi hôn nhau với một xúc cảm thực sự.

"Nói cho mình biết đi, Toru," Naoko thì thầm vào tai tôi.

"Nói cái gì cơ?" tôi hỏi.

"Cậu có muốn ngủ với mình không?"

"Tất nhiên là có rồi," tôi nói.

"Cậu có đợi được không?"

"Tất nhiên là được."

"Trước khi bọn mình làm lại chuyện ấy, mình muốn khá hơn một chút đã. Mình muốn làm cho mình thành một người xứng đáng hơn với trò ham thích kia của cậu. Cậu sẽ đợi mình làm được điều đó chứ?"

"Tất nhiên là mình sẽ đợi."

"Bây giờ cậu có cứng không đấy?"

"Cậu hỏi về hai gót chân mình ư?"

"Ngốc ạ," Naoko khúc khích.

"Còn nếu cậu hỏi mình có đang cương cứng không, thì tất nhiên là mình đang thế đấy."

"Cậu làm ơn đừng nói "tất nhiên" như thế có được không?"

"Ôkê, mình sẽ thôi ngay."

"Có khó không?"

"Cái gì cơ?"

"Cứng hết lên như thế ấy mà."

"Khó không ư?"

"Nghĩa là, cậu có thấy khổ sở khó chịu không?"

"A, còn tuỳ cách nhìn nhận của cậu."

"Muốn mình giúp cậu thoát nó không?"

"Bằng tay cậu ư?"

"Nói thật nhé," Naoko nói, "Nó đã đâm vào mình suốt từ lúc chúng mình nằm xuống. Đau đấy."

Tôi dịch hông ra. "Khá hơn chưa?"

"Cám ơn."

"Cậu biết không? tôi nói.

"Gì cơ?"

"Ước gì cậu giúp mình chuyện ấy."

"Ôkê," nàng nói với một nụ cười rất tử tế. Rồi nàng kéo khoá quần tôi xuống và cầm lên tay cái đang cương cứng hết sức của tôi.

"Nó ấm quá," nàng nói.

Bàn tay nàng bắt đầu dịch chuyển, nhưng tôi ngăn nàng lại, cởi khuy áo nàng, với ra sau tháo nịt vú nàng. Tôi hôn lên hai núm vú hồng hồng êm dịu của nàng. Nàng nhắm mắt lại và bắt đầu đưa tay chầm chậm.

"Này, cậu khá thật đấy," tôi nói.

"Ngoan đã nào, và im cái miệng đi nhé," Naoko nói.

Sau khi ra, tôi vẫn giữ nàng trong tay và lại hôn nàng nữa.

Naoko cài lại xu-chiêng và áo cánh. Tôi kéo lại khoá quần. "Như thế có làm cho cậu đi lại dễ hơn không?" nàng hỏi.

"Tất cả là nhờ có cậu đấy."

"Vậy thì, thưa Ngài, chúng ta sẽ đi thêm một chút nữa nhé!"

"Nhất định rồi."
Chúng tôi đi ngang qua đồng cỏ, qua một rặng cây, rồi lại qua một đồng cỏ nữa. Naoko nói về người chị đã khuất của nàng, phân trần rằng mặc dù nàng chẳng khi nào nói chuyện ấy với ai, nhưng lại cảm thấy nhất định phải nói với tôi.

"Chị ấy hơn mình sáu tuổi, và tính cách hai chị em thì hoàn toàn khác nhau, nhưng chúng mình lại rất thân nhau. Chúng mình không bao giờ cãi nhau, không một lần nào. Thật đấy! Nhưng lẽ nhiên là vì tuổi chúng mình khác nhau nhiều nên hai chị em cũng chẳng có gì mấy để mà cãi nhau."

Chị nàng là một trong những cô gái thành công trong mọi chuyện: một siêu học sinh, siêu vận động viên, danh nổi như cồn, một nhân vật thủ lãnh, nhân hậu, thẳng thắn, bọn con trai thích cô, thầy cô giáo cũng thích cô, tường phòng cô treo kín đủ loại giấy khen và chứng chỉ. Trường nào cũng có một đứa con gái như thế. "Mình nói điều này không phải vì đó là chị mình đâu, nhưng chị ấy không bao giờ để cho những thứ đó làm hư mình hoặc chí ít cũng nhiễm thói kênh kiệu hoặc huênh hoang. Nó tự nhiên như thế thôi, bất kể giao cho chị ấy việc gì, chị ấy cũng sẽ làm tốt hơn hẳn người khác."

"Thế là từ hồi còn nhỏ mình đã nhất định sẽ chỉ làm một con bé dịu dàng mà thôi." Naoko hua hua một ngọn cỏ mận trong khi nói. "Nghĩa là, cậu thấy đấy, mình lớn lên và suốt ngày chỉ nghe chuyện chị ấy học giỏi thế nào, thể thao xuất sắc thế nào và được ai cũng yêu mến ra sao. Lẽ tự nhiên là mình cho rằng mình sẽ không có cách gì để cạnh tranh được với chị ấy. Nhưng ít nhất thì cái mặt mình lại hơi xinh hơn chị ấy một tí, và mình đoán rằng bố mẹ mình đã nhất định sẽ nuôi dưỡng mình thành kiểu búp bê như thế. Ngay từ đầu họ đã cho mình vào kiểu trường như thế. Họ đắp vào mình nào váy nhung the, nào áo viền đăng-ten, nào giày da thửa, và bắt mình học cả dương cầm lẫn múa ba-lê. Chuyện đó chỉ càng làm cho chị mình mê mẩn mình hơn - cậu còn lạ gì: mình là đứa em gái xinh xắn của chị ấy. Chị ấy cho mình những món quà xinh xắn, lôi mình đi khắp nơi, và giúp mình làm bài tập ở nhà. Đi chơi với bồ chị ấy cũng đem mình theo. Chị ấy là bà chị lớn hay nhất trên đời này.

"Không ai biết tại sao chị ấy tự vẫn. Cũng như Kizuki vậy. Hệt như thế. Chị ấy cũng mười bảy tuổi, và cũng không để lộ tí gì là sẽ tự tử. Chị ấy cũng chẳng để lại chứ nào. Thật không khác tí gì, cậu có thấy không?"

"Nghe như vậy thật."

"Ai cũng nói chị ấy quá thông minh và đọc quá nhiều sách. Mà chị ấy đọc nhiều thật. Chị ấy có hàng tấn sách. Sau khi chị ấy chết, mình có đọc một ít sách của chị ấy, và thấy buồn lắm. Nhưng cuốn sách ấy dầy nhưng lời phê của chị ấy viết ở lề, rồi có hoa ép và thư của bồ kẹp ở trong, và mỗi lần gặp phải nhưng cái đó là mình lại khóc. Mình khóc nhiều lắm."

Naoko im lặng vài giây, lại hua hua ngọn cỏ trong tay.

"Chị ấy là loại người tự mình làm mọi việc. Không bao giờ hỏi ý kiến hoặc nhờ ai giúp đỡ. Không phải là vì kiêu hãnh đâu, mình nghĩ thế. Có vẻ chị ấy chỉ làm theo bản tính tự nhiên. Bố mẹ mình đã quen với chuyện đó nên nghĩ rằng cứ để mặc chị ấy như thế là tốt cho chị ấy. Mình thường đến hỏi ý kiến chị ấy và chị ấy luôn sẵn sàng khuyên nhủ mình, nhưng chị ấy không bao giờ tìm hỏi ý kiến ai hết. Chị ấy làm những gì cần phải làm, tự lực cánh sinh. Không bao giờ chị ấy nổi giận hoặc thất thường. Đúng như thế, mình nói thật đấy mình không cường điệu đâu. Hầu hết con gái, khi thấy kinh hoặc gì đó, thường hay cáu bẳn và sẵn sàng cà khịa với người khác nhưng chị ấy thì không thế bao giờ. Đáng nhẽ cáu bẳn thì chị ấy trầm hẳn lại. Thường cứ độ hai hoặc ba tháng một lần, chị ấy bỗng ở lì trong phòng và nằm suốt ngày, không đi học, hầu như không ăn gì, tắt hết đèn, và không làm gì cả. Nhưng chị ấy vẫn không cáu bẳn. Khi mình đi học về, chị ấy gọi mình vào ngồi cạnh và hỏi chuyện ngày hôm đó của mình. Mình kể cho chị ấy những thứ linh tinh như đã chơi những trò gì với bạn hoặc thầy cô giáo đã nói những gì ngày hôm đó, hoặc kết qua kiểm tra của mình, đại loại thế. Chị ấy chăm chú nghe, bình phẩm và khuyên nhủ, nhưng khi mình vừa đi khỏi để ra chơi với bạn hoặc đi học múa chẳng hạn - chị ấy sẽ lại nằm dài bất động trở lại. Sau hai ngày, chị ấy sẽ lập tức chấm dứt tình trạng đó và lại đi học như thường. Hiện tượng ấy kéo dài, mình không biết nữa, nhưng có thể là trong bốn năm liền. Lúc đầu bố mẹ mình còn lo lắng và mình nghĩ là họ có tìm bác sĩ để hoi, nhưng, cậu thấy đấy, chị ấy sẽ hoàn toàn bình thường chỉ sau hai ngày, nên họ cho rằng có lẽ nó sẽ tự nó hết và tốt nhất là đừng quấy rầy chị ấy một đứa con gái đáng tin cậy và xuất sắc như vậy.

"Nhưng sau khi chị ấy chết, mình nghe bố mẹ mình nói về một người em trai của bố mình, đã chết từ lâu rồi. Ông ấy cũng rất xuất sắc, nhưng ông ấy đã ở tịt hẳn trong nhà trong suốt bốn năm liền, từ năm mười bảy đến năm hai mốt tuổi. Rồi đùng một cái ông ấy ra khỏi nhà và nhảy thẳng vào một đoàn tàu hoả. Bố mình bảo "Có thể là huyết thống rồi, ở bên họ nhà tôi."

Trong lúc Naoko đang nói, những ngón tay nàng cứ vẫn về những tua hoa ở đầu ngọn cỏ mận, làm chúng rơi lả tả và bay theo gió. Lúc chỉ còn có cái lõi cỏ, nàng quấn nó quanh các ngón tay.

"Mình là người tìm thấy chị mình đã chết," nàng nói tiếp. "Vào mùa thu, lúc mình đang năm thứ nhất trung học. Tháng Mười một. Một ngày mưa âm u. Chị mình lúc ấy đang ở lớp cuối trung học rồi. Mình đi học đàn về đến nhà lúc sáu rưỡi, mẹ mình đang làm cơm tối. Mẹ mình bảo đi gọi chị xuống ăn cơm. Mình lên gác, gõ cửa phòng chị ấy và gọi to "Chị xuống ăn cơm!", nhưng không thấy trả lời. Phòng chị ấy im lặng như tờ. Mình lấy làm lạ nên lại gõ nữa, rồi đẩy cánh cửa ra nhìn vào trong phòng. Mình tưởng chị ấy đang ngủ. Nhưng chị ấy không nằm trên giường. Chị ấy đang đứng bên cửa sổ, quay mặt ra ngoài, cổ ngoẹo sang một bên như thế này này, như là đang nghĩ vậy. Phòng tối, đèn tắt hết cả, và chẳng nhìn rõ được gì. "Chị đang làm gì thế" mình nói với chị ấy. "Cơm dọn rồi chị ơi". Đúng lúc ấy mình mới để ý thấy chị ấy trông cao hơn bình thường. Có chuyện gì thế này? Mình tự hỏi, thật lạ quá! Chị ấy đi giày cao gót chăng? Hay chị ấy đang đứng lên cái gì? Mình đến gần và vừa định lên tiếng thì chợt nhìn ra nó: có một sợi dây ở phía trên đầu chị ấy. Nó chạy thẳng từ một thanh xà trên trần nhà xuống - nghĩa là, nó thẳng một cách kinh hoàng, như có ai dùng thước vạch một nét vào không trung vậy. Chị mình mặc áo cánh trắng - ừ, một cái áo trắng giản dị như cái này này - và một cái váy xám, và nhưng ngón chân chị ấy chĩa thẳng xuống sàn như chân người múa ba-lê, chỉ khác là còn cách sàn khoảng mươi mười lăm phân nữa. Mình nhập tâm tất cả mọi chi tiết. Cả gương mặt chị ấy nữa. Mình nhìn mặt chị ấy. Không thể đừng được. Mình nghĩ ta phải đi ngay xuống nhà và bảo cho mẹ biết. Ta phải kêu lên. Nhưng thân xác mình không nghe. Nó hành động theo ý riêng của nó, tách biệt hẳn với tâm trí tỉnh thức của mình. Nó đang định tháo sợi dây hạ chị ấy xuống thì tâm trí mình bảo mình phải chạy ngay xuống nhà. Tất nhiên là không có cách gì để một đứa bé gái như thế có đủ sức mạnh làm việc ấy, và thế là mình cứ đứng đó, mê man, trong khoảng năm hoặc sáu phút gì đó, một khoảng trống hoàn toàn, giống như một cái gì bên trong mình đã vừa mới chết. Mình cứ đứng như vậy, với chị mình, trong cái nơi tăm tối lạnh lẽo ấy, cho tới lúc mẹ mình lên xem có chuyện gì."

Naoko lắc đầu.

"Ba ngày liền sau đó, mình không thể nói được. Chỉ nằm trên giường như chết rồi, mở to mắt nhìn vào không trung. Mình không biết chuyện gì đang xảy ra nữa."

Naoko nép vào tay tôi. "Mình đã viết trong thư, đúng không nào? Con người mình hỏng hóc nhiều hơn cậu tưởng. Bệnh mình tệ hơn cậu tưởng rất nhiều. Gốc rễ nó sâu lắm. Và chính thế mà mình muốn cậu cứ sống trước mình đi nếu có thể được. Đừng đợi mình. Nếu thích cậu cứ việc ngủ với các cô gái khác đi. Đừng để những ý nghĩ về mình ghìm chân cậu. Nếu không, có thể mình sẽ lôi cả cậu đi với mình mất, và mình không muốn thế chút nào. Mình không muốn xen vào cuộc đời của cậu. Không muốn can thiệp vào đời người nào hết. Như mình đã nói, mình muốn thỉnh thoảng cậu đến thăm mình, và luôn nhớ đến mình. Tất cả chỉ có thế."

"Nhưng đó lại không phải là tất cả những gì mình muốn," tôi nói.

"Cậu đang phí phạm cuộc đời vì cứ dính đến mình như thế này."

"Mình chẳng phí phạm gì hết."

"Nhưng có thể mình sẽ không bao giờ bình phục. Cậu sẽ đợi mình mãi ư? Cậu có đợi được mười năm, hai mươi năm không?"

"Cậu đang để cho quá nhiều thứ làm cho cậu sợ hãi," tôi nói. "Bóng tối, ác mộng, quyền lực của cái chết. Cậu phải quên chúng đi. Mình tin chắc là cậu sẽ khỏe hẳn nếu cậu quên được chúng."

"Nếu mình quên được," Naoko nói và lắc đầu.

"Nếu cậu có thể ra khỏi đây, cậu sẽ sống với mình chứ?" tôi hỏi. "Lúc ấy mình sẽ bảo vệ cậu khỏi bóng tối và những cơn ác mộng. Lúc ấy cậu sẽ có mình chứ không phải Reiko mỗi khi cần có người ôm ấp những lúc khó khăn."

Naoko nép chặt hơn vào tôi.

"Được vậy. thì tuyệt vời quá?" nàng nói.

Chúng tôi về đến tiệm cà-phê trước ba giờ một tí. Reiko đang đọc một cuốn sách và nghe bản Công-xéc-tô số 2 viết cho đàn dương cầm của Brahm phát trên đài. Có cái gì đó rất tuyệt khi nghe nhạc Brahm bên rìa một cánh đồng cỏ mênh mông không một bóng người. Reiko đang huýt sáo theo một đoạn viô-lông-xen độc tấu.

"Backhaus và Bohm," chị nói. "Đã có thời tôi nghe đến nát cái đĩa này, lâu lắm rồi. Nói thật đấy. Cái đĩa mòn hẳn đi vì tôi nghe đi nghe lại đến từng nốt. Hút hết âm nhạc ra khỏi nó!"

Naoko và tôi gọi cà-phê.

"Nói chuyện được nhiều chứ?" Reiko hỏi.

"Hàng tấn," Naoko nói.

"Kể cho tôi về cái của anh chàng này nhé, hiểu chưa, sau này ấy mà."

"Bọn em chẳng làm gì cả," Naoko nói, mặt đỏ dừ.

"Thật à?" Reiko hỏi tôi. "Không làm gì à?"

"Không có gì hết," tôi nói.

"Chaa…án chuyện!" Chị nói với vẻ mặt chán ngán.

"Đúng thật," tôi nói, nhấm nháp cà-phê.

Cảnh tượng nhà ăn vẫn hệt như hôm trước: cũng không khí ấy, những giọng nói ấy, những bộ mặt ấy. Chỉ có mỗi thực đơn là khác. Ông hói mặc quần áo trắng hôm trước đã nói về dịch vị trong trạng thái mất trọng lượng sang ngồi với chúng tôi và nói rất lâu về mối liên hệ giữa kích thước não bộ và trí thông minh. Trong khi ăn món bánh đậu tương, chúng tôi nghe đủ hết về khối lượng óc của Bismarck và Napoleon. Ông ta đẩy đĩa thức ăn sang một bên rồi dùng bút bi và giấy vở phác hoạ các bộ não. Cứ bắt đầu vẽ ông ta lại tuyên bố "Không, vẫn không phải thế này!" rồi lại bỏ đi vẽ lại cái khác. Cứ thế rất nhiều lần. Khi đã vẽ xong, ông cẩn thận cho chỗ giấy vở còn lại vào túi dưới của chiếc áo khoác, đút cái bút vào túi ngực, nơi ông để tất cả là ba cái bút mực, một mớ bút chì và một cái thước kẻ. Xong bữa, ông nhắc lại điều đã nói với tôi hôm trước, "Mùa đông ở đây mới thật là hay. Nhất định cậu phải quay lại đây vào mùa đông đấy?" rồi ra khỏi nhà ăn.

"Ông ấy là bác sĩ hay bệnh nhân?" Tôi hỏi Reiko.

"Cậu thử đoán xem?"

"Tôi không thể biết được. Nhưng gì thì gì, ông ta có vẻ chẳng bình thường tí nào."

"Ông ấy là bác sĩ," Naoko nói. "Bác sĩ Miyata."

"Đúng thế," Reiko nói, "nhưng tôi dám cuộc ông ta là người điên nhất ở đây. Ông Omura, người thường trực ấy cũng điên chẳng kém," Naoko nói.

"Đúng thế," Reiko nói, vừa gạt đầu vừa chọc chọc dĩa vào mấy miếng súp-lơ xanh của mình. "Ông ta tập những bài thể dục buổi sáng rất hoang dại, gào thét nhưng thứ vô nghĩa đến rách phổi. Và Naoko này, trước khi em đến đây, đã có cô Kinoshita làm trong văn phòng định tự tử. Còn năm ngoái thì họ phải thải một anh hộ lý tên là Tokushima vì mắc tật nghiện rượu khủng khiếp."

"Nghe như bệnh nhân và cán bộ nên đổi chỗ cho nhau," tôi nói.

"Đúng thế," Reiko nói, hua hua cái dĩa lên không khí. "Cuối cùng thì cậu cũng bắt đầu thấy mọi thứ ở đây vận hành như thế nào."

"Có lẽ vậy."

"Cái làm cho chúng tôi bình thường nhất," Reiko nói, "Là biết rằng mình không bình thường."

Trở lại phòng, Naoko với tôi chơi bài còn Reiko tập chơi Bach bằng ghi-ta.

"Mai cậu đi lúc mấy giờ?" Reiko hỏi tôi lúc chị ngừng tập và châm thuốc hút.

"Ngay sau khi ăn sáng," tôi nói. "Xe buýt đến lúc chín giờ. Đi chuyến ấy mới kịp về đi làm tối mai."

"Chán nhỉ. Cậu ở lại thêm được thì hay quá."

"Nếu ở lâu thì có lẽ tôi sẽ sống luôn ở đây mất," tôi cười.

"Có thể lắm," Reiko nói. Rồi quay sang Naoko, chị bảo "Mà này, tôi phải đi lấy ít nho ở chỗ Oka. Quên bẵng mất chuyện ấy!"

"Chị muốn em đi cùng không? Naoko hỏi.

"Thế chị muốn mượn em chàng trai trẻ Watanabe này thì sao nào?"

"Tốt thôi," Naoko nói.

"Tốt. Hai chúng mình lại làm một chuyến đi đêm nữa nào," Reiko nói, cầm lấy tay tôi. "Hôm qua mình đã gần đến đích rồi. Đêm nay mình sẽ đến tận nơi."

"Tốt thôi," Naoko khúc khích. "Hai người muốn làm gì thì làm."

Không khí ban đêm mát lạnh. Reiko mặc một áo len cài khuy màu xanh nhạt ra ngoài sơ-mi, hai tay đút túi quần bò. Ngẩng nhìn trời, chị hít hít ngửi ngửi như chó đánh hơi. "Có mùi sắp mưa," chị nói. Tôi cũng cố ngửi nhưng chẳng thấy gì hết. Nhưng đúng là trời đang rất nhiều mây, che lấp cả trăng.

"Ở đây lâu cậu cũng có thể ngửi không khí để đoán thời tiết được," Reiko nói.

Chúng tôi vào khu nhà cán bộ ở trong rừng. Reiko bảo tôi chờ một phút, rồi bước đến cửa trước một căn nhà và bấm chuông. Một người đàn bà ra mở cửa - rõ ràng là bà chủ nhà - rồi đứng đó nắc nẻ chuyện trò với Reiko. Sau đó bà ta quay vào nhà rồi mang ra một túi nilông bự. Reiko cám ơn, chúc bà chủ ngủ ngon rồi quay lại chỗ tôi đang đợi.

"Xem này," chị nói, mở cái túi.

Bên trong là một chùm nho khổng lồ.

"Cậu thích ăn nho không?"

"Rất thích."

Chị ngắt hẳn một túm đưa cho tôi. Ăn luôn đi không sao đâu. Rửa sạch cả rồi."

Chúng tôi vừa đi vừa ăn nho, nhỏ hạt và vỏ xuống đất. Nho rất tươi ngon.

"Thỉnh thoảng tôi dạy đàn cho con trai họ, và họ cứ biếu xén thế. Rượu vang bọn mình uống cũng là của họ cho đấy. Đôi khi tôi cũng nhờ họ mua hộ thứ này thứ kia ở trong phố."

"Tôi muốn được nghe nốt câu chuyện chị đang kể hôm qua," tôi nói.

"Được thôi," Reiko nói. "Nhưng nếu mình cứ về muộn thế này thì Naoko sẽ nghi ngờ mất."

"Tôi sẵn sàng chịu cái rủi ro ấy."

"Thế thì ôkê. Nhưng tôi muốn vào chỗ nào có mái che. Đêm nay hơi lạnh."

Khi đến gần sân bóng quần thì chị rẽ sang trái.

Chúng tôi xuống một đường cầu thang hẹp và ra tới một chỗ có một dãy nhà kho trông như một dãy phố. Reiko mở cửa cái nhà kho gần nhất, bước vào và bật đèn. "Vào đi" chị bảo. "Cũng chẳng có gì mà xem đâu."

Nhà kho dựng đầy nhưng ván trượt tuyết, giày ủng và gậy theo hàng lối rất trật tự, dưới sàn thấy xếp đống những dụng cụ cào tuyết và những bao muối mỏ.

"Tôi vẫn thường ra đây tập ghi-ta mỗi khi muốn được một mình. Ấm cũng ra trò, phải không nào?"

Reiko ngồi lên mấy bao muối và mời tôi ngồi cạnh.

Tôi làm theo lời chị.

"Chỗ này không thoáng lắm đâu, nhưng tôi hút thuốc được chứ."

"Chị cứ hút đi," tôi nói.

"Đây là một thói quen có vẻ không bỏ được," chị nhăn mặt nói, nhưng lại châm thuốc với một vẻ sung sướng rõ rệt. Không có mấy ai thưởng thức thuốc lá đến mức ấy. Tôi ăn nho, cẩn thận bóc từng quả một và ném cả vỏ lẫn hột vào một cái thùng tôn dùng để đựng rác.

"Nào, đêm qua tôi kể được đến đâu rồi ấy nhỉ?" Reiko hỏi.

"Một đêm tối trời và giông bão, chị đang trèo lên một vách núi dựng đứng để lấy tổ chim."

"Cậu hay thật, cái lối cậu đùa bỡn như thế mà mặt cứ tỉnh khô," Reiko nói. "Xem nào, hình như tôi đã kể đến đoạn dạy đàn cho con bé kia vào mỗi sáng thứ Bảy."

"Đúng rồi."

"Giả dụ cậu có thể chia thiên hạ ra làm hai loại – những người có khả năng giảng dạy và những người không có khả năng ấy - thì tôi thuộc lại có khả năng giảng dạy," Reiko nói. "Hồi trẻ tôi không hề nghĩ như vậy, và có lẽ cũng không muốn nghĩ về mình như thế, nhưng đến một tuổi nhất định và đã hiểu được mình đôi chút, tôi nhận ra rằng quả đúng là như thế: tôi giỏi dạy người khác. Rất giỏi."

"Chắc chắn là như vậy rồi."

"Tôi nhiều kiên nhẫn với người hơn là với mình, và có thể phát huy cái hay của người giỏi hơn là phát huy cái hay của mình. Tôi là loại người như vậy đấy. Tôi là cái chất nham nhám bôi ở cạnh bao diêm ấy. Nhưng chuyện ấy không sao đối với tôi. Tôi không phiền gì hết. Một bao diêm hạng nhất còn hơn một que diêm hạng nhì. Có thể nói là tôi đã hiểu rõ điều này sau khi bắt đầu dạy con bé kia. Tôi đã từng dạy một vài người hồi còn trẻ, chỉ là tay trái thôi, và không hề nhận thấy điều đó ở mình. Chỉ đến khi đã bắt đầu dạy nó thì tôi mới bắt đầu nghĩ về mình như vậy. Này - tôi giỏi dạy người đấy nhé. Những giờ học của nó qua đi hay như vậy đấy.

"Như hôm qua tôi đã nói, con bé không có gì đặc biệt trong kỹ thuật, và nó cũng không thể trở thành nhạc công chuyên nghiệp, nên tôi rất thoải mái. Hơn nữa, nó học ở một trường nữ sinh mà chỉ cần được điểm trung bình thôi cũng sẽ tự động được lên đại học, có nghĩa là nó không cần gì phải học hành vất vả, mà mẹ nó cũng coi việc nó học đàn chỉ là nhẹ nhàng thôi. Cho nên tôi không ép nó làm gì hết. Lần đầu gặp nó tôi đã biết rằng nó là đứa không ai có thể ép làm một việc gì, rằng nó là loại trẻ sẽ vâng dạ ngoan ngoãn nhưng sẽ không bao giờ chịu làm cái gì nó không thích. Việc đầu tiên tôi làm là bảo nó chơi một bài hoàn toàn theo ý nó - một trăm phần trăm theo cách chơi của nó. Sau đó tôi sẽ đánh lại bài đàn ấy theo nhiều kiểu, và hai thầy trò sẽ bàn thảo xem cách chơi nào là hay nhất hoặc là nó thích nhất. Sau đó tôi bảo nó chơi lại, và nó sẽ chơi cái bài đó hay gấp mười lần so với lần đầu. Nó sẽ tự thấy cái gì là hiệu quả nhất và áp dụng vào lối chơi của mình."

Reiko ngừng một lúc, quan sát đầu thuốc lá đang lập lòe. Tôi vẫn tiếp tục im lặng ăn nho.

"Tôi biết nhạc cảm của tôi khá tốt, nhưng con bé còn hơn cả tôi. Tôi thường nghĩ thật phí của, giá như nó vỡ lòng với một thầy giỏi và được huấn luyện đúng thì nó sẽ tiến xa đến đâu! Nhưng tôi đã nhầm. Nó không phải loại trẻ chịu học hành tử tế. Có loại người như vậy. Họ được trời phú cho một cái tài kì diệu, nhưng không thể gắng sức hệ thống hoá nó. Họ chỉ biết phí phạm nó từng tí một. Mà cả tôi nữa cũng có phần như vậy. Mà người khác thì nhiều lắm. Đầu tiên thì ta nghĩ họ thật là kì diệu. Họ có thể nhìn một bản nhạc cực khó và lập tức chơi rất hay từ đầu đến cuối được ngay. Ta thấy họ như vậy và ta phát hoảng. Ta tự nhủ "có hàng triệu năm nữa mình cũng không làm được thế". Nhưng chỉ đến thế thôi. Họ không thể tiến xa hơn nữa. Tại sao ư? Vì họ không chịu bỏ công sức. Họ không có kỷ luật luyện tập. Họ được nuông quá hoá hư mất rồi. Cái tài của họ đủ để có thể chơi cái gì cũng hay mà không phải luyện tập gì và ngay từ bé họ đã được nghe mọi người khen ngợi hết lời, cho nên họ cho luyện tập chuyên cần là ngu xuẩn. Họ sẽ chọn một bài mà bọn trẻ khác phải khổ luyện trong ba tuần mới chơi được và chau chuốt chúng chỉ trong nửa thời gian ấy, và thầy giáo cho rằng họ đã học xong bài đó và giao luôn bài khác cho họ. Và họ cũng chỉ mất nửa thời gian bình thường cho bài mới ấy, và lại sang bài mới khác. Họ không bao giờ hiểu ý nghĩa của việc bị thầy mắng mỏ và đòi hỏi, họ bị mất cái yếu tố quan trọng nhất cần cho việc xây dựng tính cách. Đó là một bi kịch. Chính tôi cũng có những khuynh hướng ấy, nhưng may mắn là tôi đã có một ông thầy rất nghiêm khắc nên mới kiềm chế được chúng.

"Nhưng phải nói là dạy con bé đó rất vui. Giống như phóng một chiếc xe thể thao phân khối lớn trên xa lộ một chiếc xe phản ứng rất nhậy vớí từng động tác nhẹ của mình, đôi khi còn quá nhậy nữa. Cái thuật dạy loại trẻ con ấy là đừng khen chúng nhiều quá. Chúng đã nhờn với khen ngợi rồi. Phải khen có liều lượng thôi, và làm cho khéo. Và đừng có ép chúng việc gì hết. Phải để chúng tự lựa chọn. Và không để chúng đi quá nhanh, phải bắt chúng dừng lại và suy nghĩ. Chỉ có vậy. Nếu làm được thế, ta sẽ có kết quả tốt."

Reiko thả điếu thuốc xuống sàn nhà rồi đi nát nó dưới chân. Rồi chị hít vào một hơi dài như để lấy lại bình tĩnh.

"Sau mỗi buổi học, chúng tôi uống trà và tán chuyện. Đôi khi tôi cho con bé nghe các phong cách nhạc Jazz trên đàn dương cầm - ví dụ thế này là Bud Powell, hoặc thế này là Thelonious Monk. Nhưng hầu hết là nó nói chuyện. Mà nó nói hay thật! Thu hút người nghe ngay lập tức. Như hôm qua tôi đã bảo cậu, tôi nghĩ phần lớn những chuyện nó nói đều là bịa tạc cả, nhưng mà rất hay. Con bé có mắt quan sát sắc sảo, sử dụng ngôn từ chính xác, miệng lưới sắc nhọn và khôi hài. Nó có thể khuấy động nhưng tình cảm của mình. Đúng thế, thật đấy, đó là cái giỏi của nó - khuấy động tình cảm của người khác, làm cho ta cảm động. Và con bé biết mình có cái sức mạnh ấy, và sử dụng nó hết sức khéo léo và hữu hiệu. Nó có thể sai khiến tình cảm cậu theo ý nó - làm cho cậu tức giận, buồn rầu, thương cảm, thất vọng hoặc hạnh phúc. Mà nó làm chuyện đó chỉ cốt để thử cái sức dẫn dụ kia của nó mà thôi, chẳng vì lí do nào khác. Tất nhiên là mãi sau này tôi mới biết thế. Còn lúc bấy giờ tôi không hề biết nó đang định làm gì mình hết."

Reiko lắc đầu rồi ăn mấy quả nho.

"Đó là một chứng bệnh," chị nói. "Con bé bệnh. Nó giống một quả táo thối làm hỏng các quả táo khác. Và không ai có thể chữa cho nó. Nó sẽ mang chứng bệnh ấy cho đến ngày nó chết. Theo nghĩa đó thì nó là một sinh linh nhỏ bé đáng buồn. Đến tôi cũng sẽ thương hại nó, nếu như đã không bị là nạn nhân của nó. Tôi vẫn muốn thấy nó là nạn nhân."

Reiko ăn thêm mấy quả nho nữa. Chị có vẻ đang nghĩ xem nên kể tiếp như thế nào.

"Thế đấy, tôi đã vui vẻ dạy nó trong sáu tháng liền. Đôi khi có những điều nó nói tôi thấy hơi ngạc nhiên hoặc là lạ. Hoặc là trong lúc nó nói tôi bỗng thấy hãi hùng khi chợt nhận ra cái phi lí trong mức độ căm ghét của nó đối với ai đó, hoặc bỗng thấy nó quá đỗi thông minh, và tôi sẽ tự hỏi không biết thật sự nó đang nghĩ gì. Nhưng nói cho cùng thì ai chả có thiếu sót, phải không nào? Và tôi đâu có chuyện gì mà phải thắc mắc về nhân cách hoặc tính nết của nó. Tôi chỉ là cô giáo dạy dương cầm của nó. Tôi chỉ cần để ý chuyện nó có chịu tập đàn hay không mà thôi. Thế nhưng bản chất của vấn đề lại là ở chỗ tôi thích con bé. Tôi rất thích nó.

"Mặc dù vậy, tôi vẫn cẩn thận không nói với nó bất kì chuyện gì quá riêng tư. Tôi có cái giác quan thứ sáu nó mách bảo rằng đừng có làm như vậy. Con bé hỏi tôi hàng trăm chuyện - nó khao khát được biết thêm về tôi, nhưng tôi chỉ nói cho nó biết những chuyện vô hại nhất - như vài chuyện hồi nhỏ, rồi đi học ở đâu, đại khái thế. Nó nói muốn biết thêm về tôi, nhưng tôi bảo chẳng có gì để nói: tôi có một cuộc sống buồn tẻ, một người chồng bình thường, một đứa con bình thường, và một tấn việc nhà. "Nhưng sao em lại thích cô đến thế," nó nói và nhìn thẳng vào mắt tôi với một về da diết rất kì. Mỗi lần nó làm thế, tôi lại thấy rùng cả mình - một kiểu rùng mình dễ chịu. Nhưng tôi vẫn không bao giờ nói với nó nhiều hơn những điều cần thiết.

"Thế rồi một ngày kia - một ngày tháng Năm, hình như thế - đang giữa giờ học thì con bé kêu mệt. Tôi thấy nó tái mét và đầm đìa mồ hôi, bèn hỏi nó có muốn về nhà không, nhưng nó nói nếu được nằm một lúc thì sẽ dễ chịu ngay. Thế là tôi mang nó - gần như là bế nó - vào phòng ngủ. Cái sô-pha của chúng tôi quá nhỏ, chỉ có cái giường là nơi có thể cho con bé nằm được. Nó xin lỗi vì đã làm phiền, nhưng tôi bảo đừng có nghĩ thế, và hỏi nó có muốn uống gì không. Nó nói không, nhưng muốn tôi ở gần nó, và tôi nói sẽ vui lòng như vậy.

"Vài phút sau, con bé xin tôi xoa lưng cho nó. Giọng nó thật sự mệt mỏi, và mồ hôi nó ra như tắm. Vậy là tôi bắt đầu xoa sát cho con hé. Rồi nó xin lỗi và hỏi nếu tôi không phiền thì xin hay cởi giúp nó cái xu-chiêng đang vướng và làm nó đau. Thế là, tôi không biết nữa, tôi làm theo lời nó. Con bé mặc một cái áo cánh bó sát người, và tôi phải cởi khuy cái áo đó và với ra sau để gỡ cái móc xu-chiêng. Với một con bé mười ba tuổi thì vú nó như thế là rất to. Gấp đôi tôi. Và nó không mặc loại xu-chiêng của gái mới lớn, mà mặc kiểu người lớn hẳn hoi, một kiểu đắt tiền. Tất nhiên, lúc ấy tôi không mấy chú ý đến những cái đó, và như một con ngốc, tôi cứ tiếp tục xoa lưng cho nó. Con bé luôn mồm xin lỗi với một giọng rất đáng thương, như thể nó đang cảm thấy có lỗi thật, còn tôi thì cũng luôn mồm nói ôkê mà, ôkê mà."

Reiko đập cho tàn thuốc rơi xuống sàn. Lúc này tôi đã ngừng ăn nho và chú ý hoàn toàn vào câu chuyện của chị.

"Được một lúc thì con bé bắt đầu sụt sịt khóc.

"Chuyện gì vậy," tôi hỏi. "Không có gì?" nó nói. Tôi bảo "Rõ ràng không phải là không có gì. Nói thật đi, em có chuyện gì vậy?". Thế là nói nói "Thỉnh thoảng em lại bị thế này. Em không biết phải làm gì. Em cô đơn và buồn lắm, em không thể nói chuyện với ai, cũng chẳng có ai để ý gì đến em. Đau đớn lắm cô ơi, và em lại bị thế này. Em không ngủ được, cũng chẳng muốn ăn và đến học với cô là việc duy nhất em chờ đợi hàng tuần." Thế là tôi bảo "Em có thể nói chuyện với cô. Kể cho cô nghe tại sao em lại đến nông nỗi này." Con bé nói mọi chuyện ở nhà nó đều chẳng ra sao. Nó không thể yêu được cha mẹ nó và họ cũng không yêu gì nó. Cha nó cặp kè với một người đàn bà khác và ít khi ở nhà, và chuyện đó làm mẹ nó phát điên rồi đổ hết lên đầu con gái. Bà ấy đánh nó hầu như hàng ngày, nó rất ghét phải về nhà. Đến đó, con bé thực sự như than khóc và mắt nó đẫm lệ, cái cặp mắt đẹp đẽ ấy của nó. Cánh tượng ấy đủ làm cho thánh thần cũng phải khóc theo. Thế là tôi báo nó nếu về nhà mà khủng khiếp thế thì nó có thể đến chỗ tôi bất kì lúc nào. Nghe thấy thế, con bé choàng tay ôm lấy tôi và nói "Ôi, em xin lỗi, nhưng nếu không có cô thì em biết làm sao đây. Xin cô dừng quay lưng lại với em. Nếu cô làm thế, em sẽ chẳng biết đi đâu nữa."

"Thế rồi thì là, tôi cũng không biết nữa, tôi ôm đầu con bé vào lòng và vuốt ve nó, luôn miệng nói "Nào, nào…" còn nó thì ôm choàng lấy tôi và vuốt ve lưng tôi, và chẳng mấy chốc tôi bắt đầu thấy rất lạ, cả người tôi dường như nóng hổi lên. Nghĩa là, một con bé đẹp như tranh vẽ như thế, và tôi, đang ở trên giường, và chúng tôi đang ôm nhau, và tay con bé đang vuốt ve lưng tôi với một nhục cảm nồng cháy mà thậm chí đến chồng tôi cũng không thể sánh được, và tôi cảm thấy mọi ốc vít trong người đều lỏng ra hết mỗi khi con bé chạm đến mình, và chưa kịp định thần thì nó đã cởi hết áo và xu-chiêng của tôi và đang vẻ vuốt vú tôi. Và chỉ đến lúc ấy tôi mới vỡ nhẽ rằng con bé là một đứa đồng tính luyến ái từ trong máu thịt. Chuyện này đã xảy ra với tôi một lần rồi, ở trung học, năm cuối cùng. Tôi bèn bảo nó ngừng tay lại.

"Ôi xin cô làm ơn," nó nói, "Chỉ một chút nữa thôi ạ. Em cô đơn quá, cô đơn quá, xin cô hay tin em, em chỉ có một mình cô, ôi… xin cô làm ơn đừng cự tuyệt em" và nó cầm tay tôi đặt lên ngực nó, lên cặp nhũ hoa tuyệt đẹp ấy, và mặc dù rõ ràng tôi là đàn bà, thế mà lúc tay tôi vừa chạm vào chỗ da thịt ấy thì một cái gì đó như luồng điện bỗng chạy rần rật suốt qua tôi. Tôi không còn biết phải làm gì nữa, chỉ luôn mồm kêu không không không không không, như một con ngốc. Hình như tôi đã bị tê liệt, không thể cử động được. Hồi trung học tôi đã có thể đẩy cô gái kia ra, nhưng bây giờ thì tôi không thể làm gì được. Cơ thể tôi không chịu nghe lệnh nữa. Con bé dùng tay trái giữ bàn tay phải của tôi trên vú nó, còn nó thì hôn hít và liếm láp hai đầu vú tôi, trong khi tay phải nó vẫn vuốt ve lưng tôi, lườn tôi, mông tôi. Và thế là tôi ở đó trong phòng ngủ buông rèm kín mít với một con bé mười ba tuổi đã gần như lột trần truồng tôi ra - không biết nó cởi quần áo tôi cách nào - đang sờ soạng tôi khắp nơi và tôi thì đang oằn oại vì khoái lạc. Bây giờ nghĩ lại, chuyện đó có vẻ không thể tin được. Nghĩa là, thật là điên rõ, cậu thấy không? Nhưng lúc ấy thì hình như con bé đã yểm bùa mê cho tôi vậy."

Reiko ngừng lời để rít một hơi thuốc lá.

"Cậu biết không, đây là lần đầu tiên tôi kể chuyện này với một người đàn ông," chị nói, mắt nhìn sang tôi. "Tôi kể cho cậu vì tôi nghĩ là tôi phải kể cho cậu, nhưng tôi vẫn thấy lúng túng lắm."

"Xin lỗi chị," tôi nói, vì chẳng biết nói gì khác.

"Như thế một lúc, rồi thì bàn tay phải của con bé bắt đầu lần xuống dưới, và luồn vào trong quần lót của tôi Lúc ấy tôi đã ướt nhèm hết rồi. Nói thì xấu hố thật, nhưng từ trước đến giờ tôi chưa từng bao giờ ướt đến thế. Tôi vẫn cho mình là loại dửng dưng với tình dục, nên phát hoảng khi thấy mình bị kích thích đến như vậy. Thế rồi con bé luồn nhưng ngón tay mảnh dẻ và mềm mại của nó vào cậu biết đấy tôi không thể nói cho cậu hiểu hết được. Nghĩa là, nó khác hẳn với chuyện một gã đàn ông thò bàn tay vụng về vào chỗ ấy của cậu. Nó mê tơi hơn hẳn. Thật đấy. Như lông chim lông ngỗng vậy. Tôi tưởng như mọi cầu chì trong đầu mình sắp sửa đứt bung ra hết. Ấy thế mà ở đâu đó trong bộ não mù mịt của tôi lúc ấy vẫn có một ý nghĩ mách bảo tôi phải chấm dứt ngay. Chỉ nhượng bộ nó một lần thôi là tôi sẽ thua, và nếu sống mà phải giấu giếm một bí mật như thế thì chẳng mấy chốc tâm trí tôi sẽ lại hoàn toàn be bét như xưa. Tôi cũng nghĩ đến con gái. Nó sẽ ra sao nếu nhìn thấy tôi thế này? Thứ Bảy nào nó cũng ở với ông bà ngoại đến tận ba giờ chiều, nhưng nhỡ có chuyện gì và nó về sớm thì sao? Ý nghĩ ấy giúp tôi lấy lại được sức và gượng dậy trên giường. "Thôi ngay, thôi ngay đi nào." Tôi quát lên."

"Nhưng con bé không nghe. Hơn nữa, nó lại còn lột ngay quần lót của tôi xuống. Với chồng tôi còn rất ít khi cho làm chuyện ấy, vì tôi thấy rất xấu hổ, thế mà bấy giờ tôi lại đang để cho một con bé mười ba tuổi liếm láp tôi khắp cả ở dưới đó. Tôi chịu thua. Tôi chỉ khóc. Và thật sự là tôi cảm thấy như lên thiên đường vậy.

"Thôi!" tôi kêu lên một lần nữa và lấy hết sức tát vào mặt con hé. Cuối cùng nó dừng lại, ngồi lên và nhìn vào mắt tôi. Hai chúng tôi cùng trần trụi, quì gối trên giường và nhìn nhau. Nó mười ba, tôi ba mươi mốt, nhưng, cậu biết không, nhìn thân hình nó tôi hoàn toàn choáng váng. Hình ảnh ấy vẫn còn rõ như in trong tâm trí tôi. Lúc này tôi đã không thể tin là mình đang nhìn tấm thân của một đứa con gái mười ba tuổi, và bây giờ tôi cũng vẫn không thể tin được. Để so sánh, tôi chỉ có thể nói rằng chỉ nhìn tấm thân ấy thôi cũng đủ làm cho cậu phải khóc. Cứ tin tôi đi nhé!"
Tôi chẳng biết nói gì, nên không nói gì hết.

"Có chuyện gì thế?" Con bé nói với tôi. "Cô thích thế mà, phải không cô? Em biết cô sẽ thích thế ngay từ lần đầu gặp cô. Em biết mà. Hay hơn nhiều so với đàn ông, phải không cô? Nhìn xem, cô ướt thế kia cơ mà! Nếu cô cho phép thì em còn làm cho cô thích nữa được cơ. Thật đấy. Em có thể làm cô cảm thấy như thân xác cô đang tan ra thành nước. Cô muốn thế mà, đúng không? Và con bé nói đúng. Nó hay hơn chồng tôi rất nhiều. Và tôi cũng muốn nó tiếp tục! Nhưng tôi không thể để chuyện đó xảy ra. "Mình làm thế này mỗi tuần một lần đi thưa cô," nó nói. "Mỗi tuần chỉ một lần thôi. Sẽ không ai biết đâu. Đây sẽ là một bí mật nho nhỏ của cô với em."

"Nhưng tôi ra khỏi giường, khoác áo mặc nhà và bảo nó hay đi ngay và đừng bao giờ quay lại nữa. Nó cứ nhìn tôi. Đôi mắt nó hoàn toàn vô hồn. Trước đó tôi chưa từng thấy chúng như thế bao giờ. Như thể chúng được vẽ trên giấy bìa. Không có tí chiều sâu nào. Sau khi nhìn tôi như thế một lúc, nó lẳng lặng thu nhặt quần áo, và rồi rất chạm rãi, như đang biểu diễn, nó mặc vào người từng thứ một. Rỏi nó ra phòng đàn lấy trong cái túi xách của nó ra một cái lược. Nó chải đầu, lau vết máu trên môi bằng một cái khăn tay, đi giày, và bỏ đi. Khi bước ra cửa, nó nói "Cô là một người đồng tính, cô biết mà. Thật đấy. Có thể cô muốn giấu giếm điều đó, nhưng cô sẽ đồng tính cho đến lúc chết."

"Có đúng vậy không?" tôi hỏi Reiko.

Chị cong môi lên và nghĩ một lúc. "Đúng, mà cũng không đúng. Rõ ràng là với con bé tôi đã thấy thích hơn nhiều so với chồng. Đó là thực tế. Đã có một thời gian tôi thực sự khổ sở vì câu hỏi này. Có thể tôi đúng là một người đỏng tính và chỉ mới nhận ra chuyện ấy Nhưng bâỵ giờ thì tôi không nghĩ như vậy nữa. Nói vậy không có nghĩa là tôi không còn bị nhưng thôi thúc cám dỗ. Có thể tôi vẫn bị như vậy. Nhưng tôi không phải là người đồng tính theo đúng nghĩa của từ này. Không bao giờ tôi thấy thèm muốn khi nhìn một người dàn bà. Cậu biết tôi nói gì không?"

Tôi gật đầu.

"Nhưng quá thực là có những loại con gái có hô ứng với tôi, và mỗi lần như thế tôi đều biết. Chỉ trong những hoàn cảnh như thế chất đồng tính của tôi mới lộ diện. Còn khi ôm Naoko trong lòng chẳng hạn, tôi chẳng cảm thấy gì đặc biệt, khi trời nóng nực bọn tôi còn gần như bọn tôi còn gần như trần truồng trong nhà với nhau, tắm chung với nhau, nhiều khi còn ngủ chung giường, nhung chẳng có chuyện gì cả. Tôi không cảm thấy gì hết. Tôi có thể thấy là cô ấy có một thân hình đẹp, những chỉ thế thôi. Thực ra, Naoko với tôi đã có lần bầy trò chơi với nhau. Bọn tôi giả vờ mình là dân đồng tính. Cậu muốn nghe chuyện đó không?"

"Có chứ. Chị kể đi!"

"Khi kể cho cô ấy câu chuyện tôi vừa kể cho cậu -bọn tôi nói với nhau đủ chuyện, cậu biết rồi - Naoko bèn muốn thí nghiệm xem sao. Hai chúng tôi cởi hết quần áo và cô ấy thử vuốt ve tôi, nhưng chẳng ăn thua gì cả. Chỉ thấy buồn buồn như bị cù. Tôi tưởng mình sẽ chết vì cười mất. Chỉ nghĩ đến chuyện ấy tôi đã thấy ngứa ngáy rồi. Cô ấy thật vụng về? Tôi dám cuộc là cậu rất mừng khi nghe chuyện này."

"Vâng, nói thật là đúng như vậy."

"Thế đấy, chuyện cũng chỉ có vậy," Reiko nói, đầu ngón tay út gãi gai gần chỗ lông mày. "Sau khi con bé đi rồi, tôi tìm một cái ghế và ngồi thừ ra đấy một lúc lâu, không biết làm gì. Tôi có thể nghe tiếng tim mình đập một cách chán chường sâu mãi trong cơ thể. Chân tay tôi có vẻ như nặng đến hàng tấn, còn mồm miệng thì cứ như vừa ăn phải một con ngài hay gì đó, khô không khốc. Nhưng biết là con gái sắp về, tôi cố sức lê người vào nhà tắm. Tôi muốn rửa sạch những chỗ con bé kia đã sờ mó và liếm láp. Tôi kì cọ bằng xà phòng, hết lần này đến lần khác, nhưng có vẻ vẫn khong gột hết được cảm giác nhày nhụa của nó để lại. Tôi biết có thể cảm giác ấy chỉ là tưởng tượng, nhưng không thể gột bỏ nó được. Đêm đó, tôi xin chồng làm tình, gần như là một cách để tẩy trần. Tất nhiên là tôi không nói gì với anh ấy - tôi không thể làm thế được. Tôi chỉ có thể bảo anh ấy hãy chầm chậm thôi, hãy kéo dài mọi thứ hơn thường lệ. Và anh ấy theo lời. Anh ấy tập trung vào từng chi tiết, và thực sự là anh ấy đã kéo nó thật dài, thật lâu, và khi chuyện đó lên đến cực điểm thì chao ôi, nó không giống bất kì một lần nào tôi đã trải trước đó, không giống một lần nào khác trong suốt quãng đời chăn gối của vợ chồng tôi. Mà cậu có biết tại sao không? Tại vì nhưng động chạm của con bé vẫn còn đó trên thân xác tôi. Tất cả chỉ vì vậy."

"Chao ôi, thật xấu hổ quá! Nhìn này, tôi đang toát cả mồ hôi. Tôi không thể tin là mình đang nói những chuyện ấy - anh ấy làm tình với tôi, và tôi đã "cực sướng!" Reiko mỉm cười, lại cong môi. "Nhưng như thế cũng chưa ăn thua. Hai ngày, rồi ba ngày sau, những động chạm của con bé vẫn còn đó. Và nhưng lời cuối cùng của nó cứ vang mãi trong đầu tôi."

"Thứ Bảy sau đó nó không đến. Tim đập thình thịch, tôi mong ngóng suốt ngày, không biết mình sẽ làm gì nếu nó đến. Tôi không thể tập trung vào việc gì. Nhưng nó không đến. Tất nhiên. Nó là một con bé kiêu hãnh, và nó đã thất bại với tôi. Tuần sau đó nó cũng không đến, và tuần sau đó nữa cũng vậy, và chẳng máy chốc một tháng đã qua đi. Tôi quyết tâm sẽ quên chuyện ấy với thời gian, nhưng không thể được. Khi có một mình ở nhà, tôi sẽ cảm thấy sự có mặt của nó và mọi thứ thần kinh của tôi đều trở nên căng thẳng. Tôi không thể đánh đàn, không thể suy nghĩ không thể làm được việc gì trong suốt tháng đầu tiên ấy. Và rồi một hôm tôi nhận thấy có cái gì không ổn mỗi lần tôi ra khỏi nhà. Hàng xóm nhìn tôi là lạ. Mắt họ có vẻ xa cách hẳn. Họ vẫn lễ độ chào hỏi tôi như trước, nhưng giọng nói và cử chỉ của họ có cái gì đó rất khác. Người đàn bà cạnh nhà vẫn thường qua lại với tôi nay có vẻ như muốn tránh mặt. Tuy nhiên, tôi vẫn cố không để cho nhưng cái đó làm phiền lòng mình. Cứ để ý như vậy là thể nào cũng phát bệnh.

"Rồi đến một hôm có một bà nội trợ khác vẫn thân mật với tôi sang thăm. Chúng tôi cùng tuổi, bà ta lại là con một người bạn của mẹ tôi, và con bà cũng đi cùng một nhà trẻ với con tôi, nên chúng tôi khá thân nhau. Hôm ấy bà đến và hỏi tôi có biết gì về những lời đồn đại rất kinh khủng đang lưu truyền về tôi không. "Đồn đại thế nào kia?" tôi hỏi. "Tôi chắc không dám nói ra đâu - kinh khủng lắm," bà ấy nói. "Thôi nào, đã đến mức này thì chị phải kể hết cho tôi nghe đi chứ?"

"Bà ta vẫn không chịu, nhưng cuối cùng tôi cũng nghe được hết chuyện. Thì bà ta sang thăm tôi chí cốt mách chuyện ấy thôi, nên tất nhiên là cuối cùng bà ấy cũng thổ ra hết. Theo lời bà, mọi người đang đồn rằng tôi là một con đồng tính công khai và đã từng phải ra vào bệnh viện vì chuyện ấy. Họ nói tôi đã lột truồng một học sinh dương cầm của mình và định giở trò với nó, và khi nó chống lại thì tôi đã tát nó đến nỗi mặt nó sưng vù. Họ đã dựng ngược câu chuyện - tất nhiên rồi, và thế cũng là tệ lắm rồi, nhưng cái thực sự làm tôi choáng váng là việc mọi người biết tôi đã từng phải vào bệnh viện.

"Bà bạn tôi nói bà đã bảo với tất cả mọi người rằng bà đã quen biết tôi rất lâu rồi và tôi không phải là người như thế, nhưng bố mẹ con bé kia thì lại tin mồm con và đang lan truyền chuyện này khắp trong khu phố. Hơn nữa, họ đã cho điều tra tông tích của tôi và phát hiện tôi có tiền sử tâm thần."

"Như bà bạn tôi nghe được, thì hôm ấy con bé đi học đàn về - đúng là cái hôm ấy tất nhiên rồi - với một bộ mặt sưng vù, môi thì rách và chảy máu, khuy áo không còn đủ, và đền quần lót cũng rách nốt. Cậu có tin được không? Nó đã làm hết những cái đó để chứng minh cho câu chuyện mà mẹ nó phải vặn hỏi mãi nó mới dám nói, tất nhiên rồi. Tôi có thể thấy nó làm nhưng chuyện ấy: bôi máu vào áo, dứt khuy vứt đi, xé đăng-ten cái xu-chiêng, cố khóc cho đến lúc mắt đỏ ngầu, vò đầu cho rối hết tóc, và kể cho mẹ nó một đống chuyện dối trá."

"Mà tôi không dám trách mọi người đã tin nó đâu nhé. Đến tôi cũng phải tin nó mất thôi, cái con búp bê xinh đẹp miệng lưỡi quỉ dữ ấy. Nó về đến nhà và khóc lóc, nó không chịu nói vì xấu hổ lắm, rồi thì nó thổ lộ hết mọi thứ. Tất nhiên là mọi người phải tin nó. Và khốn nạn nhất là sự thật, rằng qua là tôi có tiền sử tâm thần phải đi bệnh viện, rằng tôi đã lấy hết sức tát nó một cái vào mặt. Ai sẽ còn tin tôi được? Có lẽ chỉ có chồng tôi mà thôi."

“Vài ngày nữa trôi qua trong khi tôi đánh vật với câu hỏi có nên nói cho anh ấy mọi chuyện hay không, nhưng khi tôi nói thì anh ấy tin tôi ngay. Tất nhiên rồi. Tôi kể hết với anh ấy những chuyện đã xảy ra ngày hôm đó -những trò dồng tính con bé đã làm với tôi, cái tát của tôi vào mặt nó. Nhưng tôi không dám kể thật về những cảm xúc của mình. Tôi không thể kể cái đó với anh ấy. Tóm lại là anh ấy nổi giận đùng đùng và khăng khăng là sẽ đến ngay nhà con bé kia. Anh ấy nói, "Dù gì đi nữa thì em cũng là một người đàn bà có chồng. Em đã lấy anh làm chồng. Và em còn là một người mẹ. Em không thể là đồng tính được. Thực là nực cười!"

"Nhưng tôi không cho anh ấy đi. Anh ấy sẽ chỉ làm mọi chuyện tồi tệ hơn mà thôi. Tôi biết. Tôi biết con bé kia rất bệnh hoạn. Tôi đã thấy hàng trăm người bệnh hoạn, nên tôi biết. Cõi lòng con bé ấy thối rữa hết rồi. Chỉ bóc một lớp da đẹp đẽ kia ra thôi, ta sẽ chẳng thấy gì hết nữa ngoài thịt thối. Tôi biết nói thế là rất kinh khủng, nhưng đúng là như vậy. Và tôi biết rằng người bình thường sẽ không bao giờ có thể biết được sự thật về con bé đó, rằng vợ chồng tôi sẽ không thể thắng nó được trong chuyện này. Nó là một chuyên gia dẫn dụ tình cảm của đám người lớn xung quanh nó, và chúng tôi chẳng có gì để minh chứng cho trường hợp của mình. Trước hết, ai sẽ tin là một con bé mười ba tuổi lại giăng bẫy đồng tính để bắt một bà đã quá tuổi ba mươi. Chúng tôi có nói gì thì mọi người cũng chỉ tin những gì họ muốn tin mà thôi. Càng chống trả thì chúng tôi chỉ càng thêm tổn thương."

"Chỉ có mỗi một việc chúng ta nên làm, tôi bảo anh ấy, chúng ta phải dọn đi chỗ khác. Nếu ở đó lâu hơn nữa, tâm trạng căng thẳng sẽ áp đảo tôi, và tâm trí tôi sẽ đứt phựt một lần nữa. Nó đã đang xảy ra rồi. Chúng tôi phải đi khỏi đó, đến một nơi nào thật xa mà không có ai biết tôi. Nhưng chồng tôi lại chưa sẵn sàng để đi. "Anh ấy vẫn chưa hiểu hết tình trạng của tôi đang gay cấn đến mức nào. Và thời điểm ấy lại thật tệ: anh ấy yêu công việc của mình, và anh ấy đã vừa mới ổn định được cuộc sống gia đình trong ngôi nhà ấy (chúng tôi sống trong một ngôi nhà làm sẳn bằng bê-tông), và con gái thì đang yên trí ở nhà trẻ. "Gượm đã nào," anh ấy nói, "chúng ta không thể nhổ cọc lên rồi đi ngay như thế được. Anh sẽ không thể tìm được việc làm ngay như thế. Chúng ta phải bán ngôi nhà đã, rồi phải tìm một nhà trẻ khác. Mất ít nhất là hai tháng."

"Em không thể đợi hai tháng được đâu," tôi bảo anh ấy. Lần này mà bị nữa là em hỏng hẳn mất. Em không nói đùa đâu, hãy tin em, em biết mình đang nói gì, Những triệu chứng đã bắt đầu xuất hiện: tai tôi ong ong suốt ngày, tôi nghe thấy đủ thứ âm thanh, và không thể ngủ được. Thế là anh ấy gợi ý tôi có thể đi trước, đi đâu đó một mình, còn anh ấy sẽ theo tôi sau khi đã giải quyết mọi việc cần thiết.

"Không?" tôi nói. "Em không muốn đi một mình. Em sẽ đổ bể nếu không có anh. Em cần anh. Anh ơi, đừng bỏ em một mình". Anh ấy ôm lấy tôi và xin tôi hay cố trụ thêm một chút nữa thôi. Chỉ một tháng thôi, anh ấy bảo. Anh ấy sẽ lo mọi chuyện - rời bỏ công việc, bán ngôi nhà, thu xếp nhà trẻ cho con, tìm một công việc mới. Anh ấy chỉ muốn tôi nán thêm một tháng nữa, rồi mọi chuyện sẽ ổn cả. Tôi còn nói gì được nữa. Nếu còn cố phản đối, tôi sẽ chỉ thêm cô lập mà thôi."

Reiko thở dài rồi nhìn lên cái bóng đèn trên trần nhà.

"Nhưng tôi đã không thể trụ được thêm một tháng. Một hôm, chuyện đó đã đến: phựt một cái, và lần này thì thực là tệ hại. Tôi uống thuốc ngủ và mở van gas. Tôi tỉnh giấc trên giường bệnh viện, và tất cả đã kết thúc. Mất mấy tháng sau tôi mới đủ bình tĩnh để suy nghĩ và đề nghị chồng tôi cho ly dị. Tôi bảo anh ấy như thế là tốt nhất cho anh ấy và đứa con của chúng tôi. Anh ấy nói không hề có ý định ly dị tôi. "Chúng ta có thể bắt đầu lại một lần nữa," anh ấy bảo. "Chúng ta sẽ đến một chỗ mới, chỉ có ba chúng ta, và bắt đầu lại tất cả. "Quá muộn rồi," tôi bảo anh ấy. Mọi thứ đã kết thúc khi anh bảo em phải đợi một tháng. Nếu quả thực anh muốn bắt đầu lại thì anh đã không nói thế. Còn giờ đây, cho dù mình có đi đâu có đi xa đến mấy, chuyện ấy cũng sẽ cứ trở lại. Và em sẽ lại xin anh như thế, và khiến anh khổ sở. Em không muốn phải làm như vậy nữa."

"Và thế là chúng tôi ly dị. Hoặc có thể nói là tôi đã ly dị anh ấy. Anh ấy đã tái giá hai năm trước đây. Tôi vẫn mừng đã làm cho anh ấy bỏ được mình. Thực đấy. Tôi biết mình sẽ cứ thế này mãi cho đến hết đời, và không muốn lôi kéo ai chìm theo mình. Tôi không muốn bắt ai phải sống với mình để suốt ngày lo sợ rằng tôi sẽ có thể mất trí bất cứ lúc nào."

"Với tôi, anh ấy đã thật tuyệt vời: một người chồng lí tưởng, chung thuỷ, mạnh mẽ và kiên nhẫn, một người tôi có thể hoàn toàn tin cậy. Anh ấy đã làm đủ thứ để chạy chữa cho tôi, và tôi cũng đã làm đủ thứ để có thể được chưa lành, vì anh ấy và vì cả đứa con gái chúng tôi nữa. Và tôi đã từng tin là mình đã khỏi. Tôi đã thật hạnh phúc trong suốt sáu năm sau khi cưới. Anh ấy đã đưa tôi đi được chín mươi chín phần trăm chặng đường, nhưng một phần trăm còn lại đã phát điên. Phựt một cái! Mọi thứ chúng tôi đã vun đắp nên bỗng sụp đổ hoàn toàn. Chưa đầy một giây đồng hồ, tất cả đã tan thành mây khói và chính con bé kia là người đã gây ra chuyện ấy."

Reiko thu những mẩu thuốc chị đã di dưới sàn và ném vào thùng rác.

"Chuyện đó thật kinh khủng. Chúng tôi đã gắng sức đến thế, cần mẫn đến thế, xây dựng cái thế giới của mình bằng từng viên gạch một. Nhưng khi nó sụp đổ thì như vậy đấy. Chưa kịp gì thì mọi thứ đã biến mất rồi."

Chị đứng lên và đút hai tay vào túi quần. "Mình về đi! Muộn rồi."

Trời đã tối hơn nhiều, mây dày đặc hơn trước, không còn thấy trăng đâu nữa. Tự nhiên, cũng như Reiko, tôi có thể ngửi thấy mùi mưa. Lẫn với mùi nho tươi trong cái túi tôi đang cầm.

"Đó là lí do tại sao tôi không thể rời khỏi nơi này," chị nói. "Tôi sợ phải dính líu đến thế giới bên ngoài. Tôi sợ gặp những con người mới và những cảm xúc mới."

"Tôi hiểu," tôi nói. "Nhưng tôi nghĩ chị có thể làm được điều đó. Tôi nghĩ chị có thể ra ngoài và làm được điều đó"

Reiko mỉm cười, nhưng chị không nói gì.

Naoko đang ngồi ở sô-pha với một cuốn sách. Nàng xếp chân bằng tròn và ép bàn tay vào thái dương khi đọc sách. Những ngón tay nàng có vẻ như đang chạm vào và thử thách từng con chữ đang lọt vào đầu mình. Mưa bắt đầu lác đác rơi từng giọt xuống mái nhà. Ánh đèn bao bọc lấy nàng, lơ lửng quanh nàng như một màn bụi rất mịn. Sau câu chuyện dài với Reiko, vẻ trẻ trung của Naoko đập vào mắt tôi một cách rất mới mẻ.

"Xin lỗi bọn mình về hơi muộn," Reiko nói, tay vỗ về lên đầu Naoko.

"Vui vẻ chứ?" Naoko ngẩng lên hỏi.

"Tất nhiên rồi," Reiko nói.

"Vui gì thế," Naoko hỏi sang tôi, "Có hai người với nhau như vậy?"

"Không được phép nói, thưa quí cô," tôi đáp.

Naoko chặc lưỡi rồi bỏ sách xuống. Rồi cả ba chúng tôi cùng ăn nho trong tiếng mưa rơi.

"Khi trời mưa như thế này," Naoko lên tiếng, "có vẻ như cả thế giới chỉ còn lại có chúng mình. Uớc gì trời mưa mãi để ba đứa mình được ở cùng nhau."

"Ô nhất định rồi," Reiko nói, "và trong lúc hai anh chị làm chuyện ấy thì tôi có nhiệm vụ quạt cho hai người hoặc chơi nhạc nền ghi-ta giống như mấy mẹ geisha đần độn hả? Không đâu nhá, cám ơn!"

"Ôi dào, thỉnh thoảng em sẽ nhường anh ấy cho chị mà," Naoko cười.

"Thế thì được, ôkê, tôi theo mấy người," Reiko nói. "Nào, mưa ơi, rơi nữa đi!"

Mưa rơi thật, và mãi không ngừng. Thỉnh thoảng lại có sấm sét làm rung động cả khu nhà. Khi đã hết chỗ nho, Reiko quay ra hút thuốc rồi lôi cây ghi-ta dưới gầm giường ra chơi - bắt đầu là bài "Desafmado" với bài "Cô gái Ipanema", rồi đến vài khúc Bacharach và mấy bài hát của Lennon và McCartney. Reiko và tôi lại nhấp nháp rượu vang, và khi hết vang thì chúng tôi chia nhau chỗ rượu mùi còn lại trong cái bình tôi mang theo. Một tâm trạng thân mật ấm áp bao trùm ba chúng tôi trong lúc câu chuyện mỗi lúc mỗi khuya theo trời đêm, và tôi bắt đầu ước theo Naoko rằng mưa sẽ cứ rơi thế mãi.

"Cậu sẽ lại đến thăm mình nữa chứ?" Nàng hỏi, nhìn sang tôi.

"Nhất định rồi," tôi đáp.

"Và cậu sẽ viết thư chứ?"

"Hàng tuần."

"Và cậu sẽ thêm vài dòng cho tôi chứ?" Reiko chen vào.

"Tôi sẽ thêm," tôi nói. "Rất vui được thêm mấy dòng ấy."

Mười một giờ, Reiko mở giường ra cho tôi như đêm trước. Chúng tôi chúc nhau ngủ ngon và tắt đèn. Không ngủ được, tôi lấy cuốn Núi Thiêng và cái đèn pin trong balô ra và đọc một lúc. Ngay trước lúc nửa đêm, cửa phòng ngủ hé mở và Naoko đến chui vào cạnh tôi.

Không như đêm trước, Naoko vẫn là Naoko bình thường. Mắt nàng nhìn có chủ đích, cử động của nàng nhanh nhẹn. Ghé sát vào tai tôi, nàng thì thầm, "Mình không biết, mình không thể ngủ được."

"Mình cũng thế," tôi nói. Để cuốn sách xuống và tắt đèn pin đi, tôi ôm nàng vào lòng và hôn nàng. Bóng tối và tiếng mưa rơi bao trùm chúng tôi.

"Reiko thì sao?"

"Đừng lo, chị ấy ngủ say rồi. Và khi chị ấy ngủ thì tức là chị ấy ngủ." Rồi Naoko hỏi, "Cậu sẽ lại đến thăm mình chứ?"

"Nhất định mình sẽ đến mà."

"Ngay cả nếu mình không thể làm gì được cho cậu ư?"

Tôi gật đầu trong bóng tối. Tôi có thể cảm thấy bầu vú đầy đặn của nàng sát vào mình. Tôi lần theo đường viền tấm thân nàng bằng lòng bàn tay. Từ vai xuống lưng xuống hông, tôi đưa tay như thế mãi khắp trên người nàng, dồn hết những đường nét ấy và những mềm mại ấy của thân thể nàng vào tâm trí tôi. Sau khi chúng tôi đã ôm nhau nhẹ nhàng như thế một lúc lâu, Naoko chạm môi nàng vào trán tôi rồi tuồn ra khỏi giường. Tôi có thể thấy tà áo ngủ xanh nhạt của nàng lấp loá trong bóng tối như một con cá.

"Tạm biệt," nàng gọi trở lại với một giọng mỏng tang.

Lắng nghe mưa, tôi chìm vào một giấc ngủ dịu dàng.

Sáng hôm sau trời vẫn còn mưa - một màn mưa thu nhẹ đến mức hầu như không nhìn thấy, khác hẳn trận mưa như trút đêm hôm trước. Ta biết trời đang mưa chỉ vì thấy những lay động trên mặt các vũng nước và nghe có tiếng giọt gianh ngoài hiên nhà. Tôi thức giấc và thấy sương mù trắng xoá ngoài cửa sổ, nhưng khi mặt trời lên, một làn gió nhẹ xua màn sương mù ấy đi, và những khu rừng và rặng đồi xung quanh bắt đầu ló dạng.

Cũng như hôm trước, ba chúng tôi ăn điểm tâm rồi ra ngoài chuồng chim. Naoko và Reiko chùm áo mưa có mũ màu vàng. Tôi mặc thêm cái áo len và một cái áo chẽn không ngấm nước. Không khí bên ngoài ẩm và lạnh. Cả những con chim cũng chúi vào với nhau ở cuối chuồng để tránh mưa.

"Mưa là trời trở lạnh, phai không chị?" Tôi nói với Reiko.

"Mỗi lần mưa là lại lạnh hơn thêm một tí, cho đến khi tuyết xuống," chị nói. "Mây từ ngoài biển đổ hàng tấn tuyết xuống đây khi chúng bay qua."

"Mùa đông thì mình làm sao với mấy con chim này?"

"Phải mang chúng vào bên trong chứ sao. Còn làm gì được nữa - đào chúng từ dưới tuyết lên khi xuân về hay sao? Chúng ta sẽ làm tan tuyết cho chúng, làm chúng sống lại và hét tướng lên, ôkê, mọi người đâu, hãy đến mà lấy đi!"

Tôi chọc vào cái lưới thép và con vẹt liền đập cánh và quạc mồm kêu "Đồ ngu!" "Cám ơn!" "Đồ điên!"

"Đấy cái con ấy là tôi muốn cho đóng băng cho rồi," Naoko nói với một vẻ buồn buồn. "Thực tình tôi nghĩ mình sẽ phát điên thật nếu sáng nào cũng phải nghe nó kêu thế."

Sau khi dọn chuồng chim, chúng tôi trở về nhà.

Trong lúc tôi xếp ba-lô, hai người đàn bà thay quần áo đi làm đồng. Chúng tôi cùng ra khỏi nhà và chia tay ngay sau sân bóng quần. Họ rẽ phải còn tôi tiếp tục đi thẳng trước mặt. Chúng tôi gọi chào tạm biệt nhau và tôi hứa sẽ lại đến nữa. Naoko hơi mỉm cười rồi đi khuất vào quãng đường vòng.

Trên đường ra cổng tôi đi ngang rất nhiều người, ai cũng trùm áo mưa vàng như Naoko và Reiko và ai cũng trùm mũ lên đầu. Màu sắc ánh lên thật rõ ràng trong mưa: mặt đất đen thẫm, những cành thông xanh rực rỡ, và người thì quấn trong màu vàng trông như những bóng ma hư ảo chỉ được phép lang thang trên trái đất này trong những buổi sáng có mưa. Họ im lặng trôi nổi trên mặt đất, mang theo dụng cụ đồng áng, rổ rá và bao tải.

Ông thường trực nhớ tên tôi và đánh dấu nó vào danh sách khách đến thăm. "Tôi biết cậu từ Tokyo tới," ông già nói. "Tôi đã có lần đến đó. Chỉ một lần thôi. Họ có món thịt lợn ngon tuyệt."

"Thế ạ" Tôi hỏi, vì cũng chăng biết đáp lại ông ta thế nào.

"Tôi không thích nhiều thứ tôi đã ăn ở Tokyo, nhưng món thịt lợn thì ngon tuyệt. Tôi nghĩ có lẽ họ phải nuôi lợn theo kiểu gì đặc biệt lắm, đúng không nào?"

Tôi nói tôi không biết, và đây là lần đầu tôi nghe chuyện này. "Thế ông đến Tokyo vào thời gian nào vậy?"

"Hừm, để xem nào," ông ta nói, nghếch nghếch đầu lên, "có phải là lúc Đức ông Hoàng tử của chúng ta làm lễ thành hôn không nhỉ?" Con trai tôi đang ở Tokyo và nói tôi phải đến đó tham quan ít nhất là một lần. Chắc là năm l959."

"Ồ, vậy là phải rồi, thời bấy giờ thì chắc chắn là thịt lợn ở Tokyo còn rất ngon," tôi nói.

"Thế bây giờ thì sao?" ông hỏi.

Tôi nói mình không biết chắc, nhưng chưa nghe ai nói gì đặc biệt về món đó cả. Ông ta có vẻ thất vọng. Ông làm đủ kiểu để muốn tiếp tục câu chuyện, nhưng tôi nói tôi phải bắt kịp chuyến xe buýt rồi bắt đầu bước ra phía đường. Những đám mù vẫn còn lơ lửng trên lối đi khi nó chạy sát vào con suối, nhưng gió xua chúng về phía những sườn núi dốc ngược ở gần đó. Cứ đi được một lúc tôi lại dửng chân, quay lại và vô cớ thở dài. Tôi cảm thấy như mình đã đến một hành tinh có trọng lực hơi khác một chút. Mà quả có thế thật, tôi tự nhủ và cảm thấy buồn buồn: tôi đã quay lại với thế giới bên ngoài.

Về đến khu học xá lúc bốn rưỡi, tôi thay quần áo ngay và đến thẳng tiệm đĩa hát ở Shinjuku cho kịp giờ làm. Tôi trông cửa hàng từ sáu giờ đến mười rưỡi và bán được mấy bộ đĩa, nhưng chủ yếu tôi chỉ ngồi ngây ra đó, nhìn dòng người khác nhau đến kì lạ đi như nước chay ở ngoài phố.

Có người đi cả nhà và có những cặp đi đôi, có những đám say rượu và những bọn du côn, có những cô gái váy ngắn rất sinh động và những dân hippy râu dài, có những chị bán bar và những người không biết thuộc loại gì. Khi tôi vặn nhạc rock hạng nặng, dân hippy và đám trẻ bỏ nhà đi bụi sẽ tụ tập bên ngoài tiệm để nhảy nhót và hít dầu pha sơn hoặc ngồi thần ra đó, còn khi tôi vặn Tony Bennett thì bọn họ sẽ tản đi hết.

Bên cạnh là một cửa hàng bán "đồ chơi người lớn" của một lão trung niên có cặp mắt ngái ngủ. Tôi không thể tưởng tượng ai là người sẽ mua những phụ tùng tình dục mà lão bày bán ở đó, nhưng hình như cửa hàng của lão đang phất như diều thì phải. Trong ngõ bên kia đường hơi cheo chéo cửa hàng, tôi thấy một sinh viên say rượu đang nôn oẹ. Còn cũng bên kia đường mà chếch về phía này thì có một hàng chơi game, và một người đầu bếp của tiệm ăn gần đó đang tiêu giờ giải lao với trò bingo phải đặt cọc bằng tiền mặt. Dưới mái hiên một nhà hàng đã đóng cửa, một gã vô gia cư đen đủi đang nằm bất động. Một con bé bôi môi hồng nhạt trông chưa đến mười hai hoặc mười ba bước vào và xin tôi bật bài "Jumpin'' Jack Flash" của nhóm Rolling Stone. Khi tôi tìm thấy cái đĩa đó và vặn nó lên thì con bé bắt đầu búng ngón tay theo nhịp và ngoáy đít nhay quanh trong tiệm. Rồi nó hỏi xin tôi một điếu thuốc lá. Tôi cho nó một điếu lấy của ông chủ, và con bé rít lấy rít để đầy vẻ biết ơn. Khi đĩa đã chạy hết, nó bỏ đi mà chẳng thèm có một cử chỉ nào gọi là "cám ơn". Cứ độ mười lăm phút tôi lại nghe tiếng còi của xe cứu thương hoặc xe cảnh sát. Ba ông chủ sự công ty say mèm vẫn đóng bộ comlê cà-vạt đang khật khưỡng qua trước cửa, và cứ mỗi lần đồng thanh hô lớn "Đít đẹp!" về phía một cô gái tóc dài rất xinh đang đứng trong trạm điện thoại, họ lại phá lên cười với nhau đến thất thanh.

Càng quan sát, tôi càng thấy hoang mang. Tất cả có nghĩa gì đây? Tôi tự hỏi. Có thể có nghĩa gì được đây?

Ông chủ tiệm đi ăn tối trở về và nói với tôi, "Ê, cậu biết không hả Watanabe? Đêm hôm kia tôi chơi được con bé bán hàng ấy rồi." Thời gian gần đây ông ta đã để mắt đến cô gái bán hàng ở một tiệm nhỏ sang trọng ở gần đó, và thỉnh thoảng lại mang một cái đĩa hát sang tặng cô ta.

"Ông giỏi thật đấy," tôi nói với ông, và sau đó ông ta kể chi tiết cho tôi nghe buổi chinh phục cuối cùng kia của mình.

"Nếu cậu thực sự muốn chơi một con nhỏ, cậu chỉ việc làm như thế này nhá," ông ta nói, rất tự mãn. "Đầu tiên, cậu phải quà cáp cho nó. Sau đó cậu phải cho nó say rượu. Nghĩa là phải bí tỉ. Rồi thì cậu cứ thế mà làm. Dễ ợt! Hiểu chưa nào?"

Đầu óc lộn xộn chưa từng thấy, tôi lên tàu điện về học xá. Kéo màn cửa lại, tôi tắt đèn, nằm dài trên giường, và cảm thấy như Naoko có thể chui vào nằm cạnh mình bất kì lúc nào. Nhắm mắt lại, tôi có thể thấy cái sức căng êm ái của cặp vú nàng trên ngực, nghe tiếng nàng thì thầm, và cảm nhận được đường nét của thân thể nàng trong hai bàn tay. Trong bóng tối, tôi trở lại với cái thế giới nhỏ bé ấy của nàng. Tôi ngửi thấy mùi đồng cỏ, nghe tiếng mưa trong đêm. Tôi nghĩ đến nàng trần trụi, như lúc tôi đã thấy nàng dưới ánh trăng, và mường tượng cảnh nàng đang dọn chuồng chim và chăm sóc ruộng rau với tấm thân đẹp đẽ và mềm mại của nàng bọc dưới tấm áo mưa vàng. Nắm chặt lấy cái cương cứng của mình, tôi nghĩ đến Naoko cho đến khi vỡ bung trong cực cảm. Đầu óc có vẻ tỉnh táo ra được một chút, nhưng sau đó tôi vẫn không thể ngủ được. Tôi thấy kiệt sức, tuyệt vọng mong chờ giấc ngủ, nhưng nó nhất định không chịu tới.

Tôi ra khỏi giường và đứng bên cửa sổ, thẫn thờ đưa mắt về phía cột cờ. Không có lá quốc kì, cái cột trông giống một lóng xương trắng khổng lồ đâm thẳng lên vào bóng đêm. Lúc này Naoko đang làm gì? tôi tự hỏi. Tất nhiên, chắc nàng đang ngủ, ngủ say sưa, trùm kín trong bóng tối của cái thế giới nhỏ bé ấy của nàng. Cầu cho nàng đừng mắc phải những giấc mơ hãi hùng, tôi chợt thấy mình chứa chan hy vọng.
 

root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
5,106
Reaction score
125
Points
9,999
Chương 7
Trong giờ thể dục sáng hôm sau, thứ Năm, tôi bơi qua lại nhiều lần chiều dài của cái bể năm mươi mét. Vận động mạnh như vậy làm đầu óc tôi tỉnh táo thêm chút nữa và ăn thấy ngon miệng. Sau khi chén một bữa trưa hậu hĩnh tại một tiệm ăn sinh viên nổi tiếng vì những phần cơm trưa hậu hĩnh ấy và đang trên đường đến thư viện khoa văn để tra cứu vài thứ thì tôi chạm trán Midori Kobayashi. Cô đang đi với một cô gái nhỏ nhắn đeo kính cận, nhưng khi thấy tôi cô chạy đến một mình.

"Cậu đi đâu thế?" cô hỏi.

"Thư viện văn," tôi đáp.

"Này, cậu quên việc ấy đi và hai đứa mình đi ăn trưa với nhau nhé"

"Tớ vừa ăn xong."

"Thì đã sao?" Lại ăn nữa chứ sợ gì."

Cuối cùng chúng tôi đến một quán cà-phê gần đấy.

Cô ăn một đĩa cà-ri còn tôi thì làm một cốc cà-phê. Cô mặc sơ-mi trắng dài tay bên trong một áo chẽn bằng len vàng có đan chìm hình một con cá, cổ đeo một vòng vàng mảnh, tay đeo đồng hồ Disney. Cô có vẻ thích món cà-ri và uống hết ba cốc nước cùng với nó.

"Vừa rồi cậu đi đâu thế?" Midori hỏi. "Tớ gọi không biết là bao nhiêu lần nữa."

"Cậu có chuyện gì muốn nói à?"

"Chẳng có gì đặc biệt. Tớ chỉ gọi thế thôi."

"Tớ thấy rồi."

"Cậu thấy gì?"

"Chẳng có gì. Tớ chỉ thấy thế thôi," tôi nói. "Vừa rồi có vụ hoả hoạn nào không?"

"Hôm ấy hay thật, hả? Chẳng thiệt hại gì mấy, nhưng khói khiếc lung tung trông đến khiếp. Hay thật."

Midori nốc hết một cốc nước nữa, hít một hơi dài, rồi chăm chú nhìn vào mặt tôi một lúc. "Này, cậu có chuyện gì thế?" cô hỏi. "Mặt cậu cứ thẫn thờ thế này này. Hai mắt cứ đờ ra."

"Tớ không sao," tôi nói. "Tớ mới đi xa về và người vẫn còn mệt."

"Trông cậu như người mới nhìn thấy ma."

"Tớ thấy rồi."

"Mà này, chiều nay cậu có phải đến lớp không?"

"Tiếng Đức và văn học Anh."

"Có bỏ được không?"

"Tiếng Đức thì không được. Hôm nay có kiểm tra."

"Lúc nào thì xong?"

"Hai giờ."

"Ôkê. Đi với tớ xuống phố uống rượu nhé!"

"Vào lúc hai giờ chiều ư?"

"Thì đã sao, cho nó khác đi chứ. Trông cậu đờ đẫn lắm. Nào, đi uống với tớ đi cho nó có sinh khí. Tớ cũng muốn vậy - uống rượu với cậu để lấy lại chút sinh khí cho tớ nữa. Được không nào?"

"Ôkê, đi thì đi," tôi nói và thở dài. "Tớ sẽ tìm cậu ở sân khoa văn lúc hai giờ."

Sau lớp tiếng Đức, chúng tôi lấy xe buyt đến Shinjuku và vào một quán bar ngầm dưới đất gọi là DUG ở sau hiệu sách Kinokuniya. Để bắt đầu, chúng tôi gọi hai cốc vodka pha tonic.

"Lâu lâu tớ lại đến chỗ này," Midori nói. "Họ không làm cho mình thấy lúng túng vì uống rượu ngay từ buổi chiều.

"Cậu có hay uống rượu chiều không?"

"Thỉnh thoảng thôi," cô nói, lắc lanh canh mấy cục nước đá trong cốc. "Thỉnh thoảng, khi đời khó sống quá, tớ lại đến đây làm một cốc vodka pha tonic."

"Đời khó sống quá rồi sao?"

"Thỉnh thoảng thôi," Midori nói. "Tớ có những trục trặc nho nhỏ đặc biệt của mình."

"Ví dụ như gì nào?"

"Như gia đình, như bọn bạn trai, những kì kinh nguyệt không đều. Đại khái thế."

"Vậy thì uống nữa đi."

"Tớ sẽ uống."

Tôi ra hiệu cho bồi bàn và gọi hai vodka pha tonic nữa.

"Cậu nhớ không, hôm Chủ nhật cậu đến chơi, rồi cậu hôn tớ ấy?" Midori hỏi. "Tớ vẫn nghĩ đến nó. Hay thật. Thật là hay."

"Đúng thế."

"Đúng thế," cô nhại lại. "Cậu nói chuyện kỳ thật!"

"Vậy ư?"

"Thôi được rồi, tớ đang nghĩ lúc ấy, tớ đang nghĩ giá đó là lần đầu tiên trong đời tớ được một cậu trai hôn như thế thì tuyệt vời biết bao. Nếu tớ có thể đảo lộn thứ tự cuộc đời mình, tớ sẽ dứt khoát, dứt khoát biến nó thành nụ hôn đầu đời của mình. Và rồi tớ sẽ sống để suốt đời chỉ nghĩ đến những chuyện đại loại như: Này, không biết cái thằng cu tên là Watanabe đã hôn mình lần đầu tiên trên sân phơi ấy bây giờ ra sao, mà nó cũng phải năm mươi tám rồi chứ còn gì nữa? Cậu bảo thế có sướng không?"

"Ờ có thế thực," tôi nói, mải bóp cho vỡ vỏ một hạt hồ trăn.

"Ê, cậu làm sao thế hử? Sao cậu đờ đẫn thế?" Cậu vẫn chưa trả lời tớ."

"Có lẽ tớ vẫn chưa hoàn toàn thích ứng được với cuộc đời" tôi nói sau khi đã nghĩ một lúc. "Tớ không biết, tớ cảm thấy đây không phải là cuộc đời thực. Mọi người, cảnh vật, chúng chăng có vẻ thực tí nào."

Midori tựa một khuỷu tay lên quầy bar và nhìn tôi.

"Có một câu nào giống như thế trong một bài hát của Jim Morrison, tớ nhớ như vậy."

"Người thành lạ khi ta là người lạ."

"Vì Hoà bình," Midori nói.

"Vì Hoà bình," tôi phụ hoạ.

"Chắc cậu phải đi Uruguay cùng với tớ," Midori nói, vẫn tựa trên quầy. "Bồ bịch, gia đình, đại học - vứt mẹ nó hết đi."

"Không phải là một ý kiến tồi đâu," tôi cười.

"Cậu không thấy là sẽ rất tuyệt nếu vứt bỏ hết mọi thứ và mọi người để đến một nơi mà mình không biết một ma nào cả ư? Nhiều lúc mình chỉ thích làm như thế. Thực sự là nhiều lúc mình đã muốn, rất muốn làm như thế. Đấy, giả dụ như tự nhiên cậu tốc tớ đến một nơi thật xa, thật xa, và tớ sẽ sản xuất cho cậu một lũ con khỏe như trâu, và từ ấy chúng mình sẽ mãi sống hạnh phúc, cứ việc lăn lộn dưới sàn nhà."

Tôi cười và uống cốc vodka pha tonic thứ ba của mình.

"Tớ đoán có lẽ cậu chưa thật sự thích có một lũ con khỏe như trâu," Midori nói.

"Tớ thấy tò mò rồi đây," tôi nói. "Tớ cũng thích xem mặt mũi chúng thế nào."

"Không sao, cậu không cần phải muốn chúng đâu,"

Midori nói, miệng nhằn một hạt hồ trăn. "Trông tớ đây này, đang uống rượu chiều, nghĩ sao nói vậy. Tớ muốn vứt mẹ nó mọi thứ đi và chuồn đi đâu đó." Đi Uruguay để làm cái quái gì cơ chứ? Ở đấy chỉ toàn cứt lừa thôi."

"Có thể cậu nói đúng."

"Chỗ nào cũng cứt lừa. Đây một bãi, kia một bãi, cả thế giới là cứt lừa. Ê, tớ không thể cắn được cái hạt này. Cậu lấy nó đi". Midori đưa hạt hồ trăn cho tôi. Tôi loay hoay với nó cho đến khi cắn vỡ được lần vỏ. "Nhưng ôi chao, hôm Chủ nhật trước mới thật nhẹ nhõm làm sao! Lên sân phơi với cậu, xem đám cháy, uống bia, hát nghêu ngao bài này bài khác. Tớ không biết là bao lâu nữa vì tớ hoàn toàn tràn ngập trong một cảm giác nhẹ nhõm. Mọi người lúc nào cũng chỉ có ép buộc tớ chuyện này chuyện kia. Vừa mới thấy tớ là họ bắt đầu sai phái. Ít nhất thì cậu đã không định ép tớ việc gì?"

"Tớ chưa biết cậu đến mức ép được cậu."

"Cậu muốn nói là, nếu cậu quen tớ rồi thì cậu sẽ ép tớ cũng như mọi người khác ấy ư?"

"Có thể lắm," tôi nói. "Người ta sống với nhau như vậy trong thực tế mà: ép buộc nhau chuyện này chuyện nọ."

"Cậu sẽ không thế. Tớ biết chứ. Tớ là chuyên gia trong chuyện ép buộc và bị ép buộc. Cậu không thuộc loại đó. Chính thế mà tớ thấy thoải mái khi ở bên cậu. Cậu có biết thế giới này có bao nhiêu người muốn ép buộc người khác và muốn được người khác ép buộc không? Hàng tấn! Mà sau đó họ lại còn làm rùm beng lên nữa chứ, kiểu như "Tôi đã ép buộc cô ấy, "Anh đã ép buộc tôi!" Họ là như vậy đấy. Nhưng tớ không thích thế. Tớ làm vì tớ phải làm vậy, thế thôi."

"Cậu ép buộc người khác hoặc bị người khác ép buộc cậu đại loại những chuyện gì?"

Midori bỏ một cục nước đá vào miệng và mút nó một lúc.

"Cậu có muốn biết thêm về tớ không?" cô hỏi.

"Ờ cũng đại loại thế."

"Ê, nghe này, tớ vừa mới hỏi "Cậu có muốn biết thêm về tớ không?" Cậu trả lời cái kiểu gì vậy?"

"Có, Midori, tớ muốn biết thêm về cậu," tôi nói.

"Thật chứ?"

"Thật. Đúng thế."

"Ngay cả nếu cậu sẽ không dám nhìn vào những gì cậu sẽ thấy chứ?"

"Cậu tệ đến mức ấy cơ à?"

"À, về một mặt nào đó thôi, Midori nhăn mặt. "Tớ muốn uống nữa."

Tôi gọi bồi và lấy thêm tuần rượu thứ tư. Trong lúc chờ đợi, Midori tựa cằm vào lòng bàn tay đang chống trên mặt quầy. Tôi im lặng nghe Thelonious Monk đang chơi bài "Honeysuckle Rose". Có năm sáu khách nữa đang ngồi trong quán, nhưng chỉ có chúng tôi uống rượu.

Mùi cà-phê thơm nức khiến cho nội thất tôi tối của quán có không khí rất ấm cúng.

"Chủ nhật này cậu rảnh không?" Midori hỏi.

"Hình như tớ đã bảo cậu rồi. Chủ nhật nào tớ cũng rảnh. Cho đến khi phải đi làm vào lúc sáu giờ chiều."

"Ôkê, vậy Chủ nhật này cậu đi chơi với tớ nhé?"

"Nhất định rồi," tôi nói.

"Tớ sẽ đến đón cậu ở khu học xá vào buổi sáng, nhưng tớ vẫn chưa biết chính xác giờ nào. Ôkê không?"

"Ôkê," tôi nói. "Không có vấn đề gì."

"Nào, bây giờ tớ hỏi cậu: cậu có biết tớ đang thích làm gì ngay bây giờ không?"

"Chịu chết."

"Thế này nhé, đầu tiên, tớ muốn nằm xuống một cái giường to, rộng, êm ái. Tớ muốn thật thoải mái và say lơ mơ và xung quanh không có tí cứt lừa nào, và tớ muốn có cậu nằm xuống cạnh tớ. Rồi thì từng tí một, cậu cởi quần áo tớ ra. Thật nhẹ nhàng. Như kiểu mẹ cởi quần áo cho một đứa con nhỏ vậy. Thật là nhẹ nhàng."

"Hừmmm…"

"Còn tớ thì chỉ việc mặc kệ và lơ mơ sung sướng như thế cho đến lúc bỗng nhận ra chuyện gì đang diễn ra và hét lên "Thôi đi, Watanabe!" Và rồi tớ nói "Tớ thực sự thích cậu, Watanabe à, nhưng tớ đang có người khác rồi. Tớ không thể làm chuyện này". Tớ rất nghiêm túc trong những việc như thế này, cậu có tin hay không thì tuỳ, nhưng hay làm ơn dừng lại đi." Nhưng cậu không chịu dừng."

"Đâu, tớ sẽ thôi ngay mà," tôi nói. "Không sao, chỉ là tưởng tượng mà. Rồi sau đó cậu làm ra mặt rất buồn thế này này, và tớ thấy thương cậu quá và cố an ủi cậu. Nào, nào, tội nghiệp chưa này."

"Đó là những cái cậu đang muốn làm ngay bây giờ đấy à?"

"Đúng thế!"

"Thôi chết tôi rồi!"

Chúng tôi rời quán bar sau năm tuần vodka pha tonic.

Lúc tôi định trả tiền, Midori vỗ mạnh tay tôi một cái rồi rút trong ví ra một tờ mười ngàn Yên mới toanh.

"Ôkê đi," cô nói. "Tớ mới lĩnh tiền, và tớ mời cậu kia mà. Tất nhiên, nếu cậu là một thằng phát xít nòi và nhất định không chịu để đàn bà trả tiền rượu cho cậu thì…"

"Không, không, tớ ôkê mà."

"Và tớ cũng có để cậu đút nó vào đâu."

"Vì nó to và cứng quá," tôi nói.

"Đúng rồi" Midori nói. "Vì nó to và cứng quá."

Hơi say, Midori bước hụt một bậc và chúng tôi suýt ngã lộn xuống cầu thang. Lớp mây khiến trời âm u nay đã tan. Nắng muộn buổi chiều nhẹ nhàng tràn ngập đường phố. Midori và tôi lang thang một lúc lâu. Cô nói muốn trèo cây, nhưng không may lại chẳng có cái cây nào trèo được ở Shinjuku, còn công viên Hoàng Gia Shinjuku thì đã đóng cửa.

"Chán thật," Midori nói. "Tớ rất thích trèo cây."

Chúng tôi tiếp tục đi bộ và ngó nghiêng các cửa hàng, và chẳng mấy chốc cảnh đường phố có vẻ đã thực hơn trước đối với tôi.

"Tớ mừng là đã chạm trán cậu," tôi nói. "Hình như tớ đã thích nghi hơn được một tí với thế giới này rồi."

Midori dừng ngay lại và nhìn tôi chăm chú. "Đúng thật," cô nói. "Mắt cậu bớt đờ đẫn hơn nhiều. Thấy chưa? Đi chơi với tớ là tốt cho cậu đấy."

"Chắc chắn rồi," tôi nói.

Đến năm rưỡi Midori nói cô phải về nhà nấu cơm. Tôi bảo sẽ lấy xe buýt về học xá, và tiễn cô ra tận ga tàu điện.

"Biết bây giờ tớ muốn gì không?" Midori hỏi lúc chia tay.

"Tớ tuyệt đối không thể biết cậu có thể đang nghĩ gì," tôi nói.

"Tớ muốn cậu với tớ bị bọn cướp biển bắt. Chúng sẽ lột trần truồng bọn mình, ép tụi mình úp mặt vào nhau rồi lấy dây cuốn chặt hai đứa lại."

"Sao chúng lại làm thế?"

"Bọn cướp bệnh hoạn mà," cô nói.

"Cậu bệnh hoạn thì có," tôi bảo.

"Sau đó chúng nhốt hai đứa mình vào hầm tàu và bảo, "Một tiếng nữa chúng tao sẽ ném bọn bay xuống biển, từ giờ đến đó hãy vui thú với nhau đi."

"Rồi sao nữa?"

"Thì chúng mình vui thú, lăn lộn khắp chỗ đó và giãy giụa với nhau."

"Và đó là cái cậu đang muốn làm ngay bây giờ ư?"

"Đúng thế."

"Chết tôi rồi!" Tôi nói và lắc đầu.

Midori đến gọi tôi lúc chín rưỡi sáng Chủ nhật. Tôi vừa mới thức giấc và còn chưa rửa mặt. Có đứa đập cửa tôi ầm ầm và gào lên "Ê, Watanabe, đàn bà đấy!" Tôi xuống sảnh dưới nhà và thấy Midori đang ngồi đó, bắt chân chữ ngũ và mặc một cái váy vải bò ngắn không thể tưởng tượng được, và đang ngáp. Sinh viên nào đi ăn sáng qua cũng phải chậm bước lại để dán mắt vào đôi chân dài thon thả của cô. Quả thực là cô có đôi chân thật đẹp.

"Tớ đến sớm quá phải không?" Cô hỏi. "Chắc cậu vừa mới dậy."

"Cậu đợi tớ mười lăm phút được không?" Cho tớ rửa mặt cạo râu một cái."

"Đợi thì không sao, nhưng bọn nó đứa nào cũng cứ dán mắt vào chân tớ."

"Thế cậu tưởng thế nào nữa, đến học xá nam mà mặc váy ngắn thế kia? Tất nhiên là chúng nó phải dán mắt rồi."

"Ôi dào, thế cũng chẳng sao. Hôm nay tớ còn mặc đồ lót oách nữa cơ - toàn màu hồng và có tua ten đủ cả."

"Thế lại càng tệ," tôi thở dài nói. Tôi trở về phòng rửa mặt cạo râu thật nhanh, mặc một cái sơ-mi xanh da trời cổ bẻ có khuy với một cái áo tây thể thao xám vải tuýt, rồi chạy xuống áp tải Midori ra cửa, toát mồ hôi lạnh.

"Nói tớ nghe, Watanabe," Midori nói, ngước nhìn các toà nhà trong khu học xá, "bọn con trai ở đây đứa nào cũng thủ dâm xoành xoạch thế à?"

"Có thể," tôi bảo.

"Thế các cậu có nghĩ đến gái lúc làm thế không?"

"Tớ nghĩ là có. Tớ nghĩ có lẽ không ai nghĩ đến thị trường chứng khoán hoặc cách chia động từ hoặc Kênh đào Suez trong lúc xoành xoạch thế đâu. Chắc chắn vậy. Tớ chắc có lẽ tất cả đều nghĩ đến các cô gái thôi."

"Kênh đào Suez ư?"

"Là ví dụ thế."

"Như vậy tớ có thể cho rằng họ nghĩ đến một cô gái cụ thể nào đó, đúng không?"

"Sao cậu không hỏi bồ của cậu chuyện này?" Tôi nói "Sao tớ lại phải giang giải những chuyện như thế này cho cậu vào một buổi sáng Chủ nhật"

"Thì tớ chỉ tò mò thế thôi," cô nói. "Với lại, hắn sẽ phát cáu nếu tớ hỏi hắn những chuyện như thế này. Hắn bảo con gái không được hỏi những chuyện ấy."

"Một quan điểm hoàn toàn bình thường, tớ xin nói như vậy."

"Nhưng mà tớ muốn biết. Đây hoàn toàn chỉ là tò mò thôi. Con trai các cậu có nghĩ đến một cô gái cụ thể nào trong lúc thủ dâm không?"

Tôi đành thua không né tránh được nữa. "Thế này nhé, ít nhất thì tớ là như vậy. Tớ không biết những người khác thế nào."

"Thế cậu đã bao giờ nghĩ đến tớ trong lúc làm thế chưa?" Nói thật xem nào. Tớ sẽ không giận đâu."

"Chưa. Tớ nói thật đấy," tôi thành thật đáp.

"Tại sao chưa?" Tớ không đủ hấp dẫn sao?"

"Ô cậu hấp dẫn quá đi chứ. Cậu xinh xắn, và những bộ cánh sexy rất hợp với cậu."

"Thế sao cậu lại không nghĩ đến tớ?"

"Thế này nhé, trước hết là tớ coi cậu là bạn, nên không muốn lôi kéo cậu vào những mộng tưởng tình dục của tớ, và thứ hai là…"

"Chắc hẳn cậu phải có một ai đó để nghĩ đến rồi."

"Cũng gần như vậy," tôi nói.

"Cậu xử sự rất đàng hoàng trong những chuyện như thế này," Midori nói. "Đó là cái tớ thích ở cậu. Nhưng dù sao, cậu có thể cho tớ xuất hiện chỉ một lần rất nhanh thôi được không?" Tớ muốn được có mặt trong những mộng tình hoặc mơ tưởng hoặc gì gì đó của cậu, muốn gọi là gì cũng được. Tớ đề nghị thế là vì chúng mình là bạn nhau. Tớ còn biết đề nghị ai khác được nữa? Tớ không thể bước đến bất kì ai và nói "Khi ông xoành xoạch đêm nay, xin ông hay nghĩ đến em một giây thôi ông nhé". Chính vì tớ coi cậu là bạn nên tớ mới đề nghị thế. Và tớ muốn cậu sẽ kể lại cho tớ biết nó ra làm sao. Cậu biết đấy, cậu đã làm những gì và đại loại thế."

Tôi thở dài.

"Nhưng cậu không thể cho nó vào được. Bởi vì mình chỉ là bạn. Đúng không? Chỉ cần cậu không cho nó vào thôi, còn thì cậu tha hồ muốn làm gì thì làm, muốn nghĩ gì thì nghĩ."

"Tớ không biết, tớ chưa bao giờ làm chuyện ấy với nhiều hạn chế đến thế," tôi nói.

"Thế cậu chỉ nghĩ đến tớ thôi vậy, được không?"

"Thôi được rồi, tớ sẽ nghĩ đến cậu."

"Cậu biết không, Watanabe, tớ không muốn cậu có ấn tượng sai, ví dụ như tớ là một con dâm nữ hoặc không thoả mãn hoặc trêu ngươi hay gì gì nữa tớ không biêt. Tớ chỉ thấy rất quan tâm đến chuyện ấy thôi. Tớ muốn biết. Tớ lớn lên xung quanh chỉ toàn con gái trong một trường nữ sinh, cậu biết rồi. Tớ muốn biết bọn con trai nghĩ gì và thân thể chúng ra sao. Mà không phải chỉ là những thứ như trong mấy tờ phụ trương của đám tạp chí phụ nữ kia đâu, mà phải thực sự là những nghiên cứu thực tế kia."

"Nghiên cứu thực tế ư?" tôi rên rỉ.

"Cậu chỉ phải làm một lần thôi. Hay nghĩ đến tớ nhé, ôkê"

"Ôkê, tớ sẽ thử xem, lần tới này tôi nói, và nghĩ đến một chiếc khăn tắm."

Chúng tôi lấy tàu điện đi Ochanomizu. Khi đổi tàu ở Shinjuku, tôi mua một cái bánh kẹp mỏng ở quầy nhà ga để ăn thay bữa sáng. Cà-phê bán kèm với cái bánh có mùi vị như mực in đun sôi. Sau sáng Chủ nhật đầy những cặp vợ chồng và gia đình con cái đi dã ngoại. Một bọn trẻ trai mặc đồng phục bóng chày chạy rầm rập trong toa. Nhiều cô gái trên tàu mặc váy ngắn, nhưng không có cái nào ngắn bằng cái của Midori. Thỉnh thoảng cô lại phải kéo nó xuống một tí. Một vài ông cứ dán mắt vào đùi cô khiến tôi thấy rất lúng túng, nhưng Midori có vẻ chẳng thèm để ý.

"Có biết tớ đang thích làm gì bây giờ không?" cô thầm thì khi chúng tôi đã đi được một lúc.

"Chịu chết," tôi nói. "Nhưng xin cậu đừng có nói chuyện ấy ở đây nhé. Người ta nghe thấy đấy."

"Chán thật. Chuyện này mới thật là hoang dại,"

Midori nói với một vẻ thất vọng rõ ràng.

"Thôi nào, tại sao mình đi Ochanimizu?"

"Cứ đi rồi cậu sẽ thấy."

Xung quanh ga Ochanomizu có rất nhiều trường học, và Chủ nhật thì khu vực này đông nghẹt trẻ em đi học luyện thi. Midori đi ào ào qua đám trẻ ấy, một tay túm chặt quai túi khoác, tay kia túm chặt tay tôi.

Rồi tự nhiên cô hỏi:

"Watanabe này, cậu có phân biệt được thể giả định hiện tại với giả định quá khứ của động từ tiếng Anh không?"

"Có lẽ được," tôi nói.

"Vậy tớ xin hỏi cậu, những cái như thế thì có ích quái gì trong cuộc sống hàng ngày"

"Chả có gì cả," tôi nói. "Nó chẳng phục vụ được một mục đích cụ thể nào, nhưng nó cũng cho cậu chút gì đó để giúp cậu nắm được mọi thứ nói chung một cách có hệ thống hơn."

Midori bỏ ra chừng một khoảnh khắc để suy nghĩ nghiêm túc về chuyện đó.

"Cậu tuyệt vời thật," cô nói.

"Tớ chưa bao giờ nghĩ được như thế. Tớ luôn cho những cái như gia định thức động từ hoặc toán vi phân tích phân hoặc các kí hiệu hoá học là toàn toàn vô bổ. Một thứ phiền toái khó chịu. Và bấy lâu nay tớ vẫn phớt lờ chúng. Bây giờ thì tớ không biết là đời mình đã là cả một sai lầm hay chưa đây."

"Cậu phớt lờ chúng?"

"Ờ, Kiểu là, với tớ, chúng hoàn toàn không tồn tại. Tớ không biết tí gì về "sin" hoặc "côsin" là ra làm sao nữa."

"Không thể tin được? Làm sao mà cậu đỗ được phổ thông? Làm sao cậu vào được đại học?"

"Đừng giả bộ ngốc thế," Midori nói. "Không biết hết mọi thứ thì cậu cũng vẫn thi đỗ được như thường! Cậu chỉ cần có một chút trực cảm - mà trực cảm của tớ thì khối. "Hãy chọn câu trả lời đúng trong ba câu dưới đây" Thế là lập tức tớ biết ngay câu nào là đúng."

"Trực cảm của tớ không tốt như của cậu, nên tớ phải có khả năng hệ thống hoá đến một mức nào đó. Giống như con sáo thu nhặt những mảnh thuỷ tinh vào một cái hốc cây vậy."

"Nó có tác dụng gì không?"

"Tớ cũng chưa biết. Có thể nó giúp mình làm một vài thứ gì đó dễ dàng hơn."

"Thứ gì?" Cho tớ một ví dụ xem nào?"

"Như tư duy siêu hình chẳng hạn. Hay học nhiều thứ ngôn ngữ một lúc."

"Thế thì có ích dụng gì?"

"Cũng còn tuỳ người. Nó có thể ích dụng với người này, nhưng lại không ích dụng với người khác. Nhưng chủ yếu nó là chuyện đào luyện. Còn ích dụng gì hay không lại là chuyện khác. Như tớ đã nói."

"Hừmmm," Midori có vẻ rất ấn tượng. Cô dắt tay tôi đi xuống đồi. "Cậu biết không, Watanabe, cậu rất giỏi giảng giải mọi chuyện cho người khác hiểu đấy."

"Tớ cũng không biết," tôi nói.

"Thực đấy. Tớ đã hỏi hàng trăm người về chuyện ích dụng của giả định thức trong tiếng Anh, nhưng không ai trả lời tớ rõ ràng và hay như cậu. Ngay cả mấy thầy dạy tiếng Anh cũng vậy thôi. Hoặc là họ lúng túng, nổi cáu, hoặc cười trừ. Chẳng ai trả lời tớ cho đàng hoàng cả. Giá có ai như cậu đã ở gần tớ lúc tớ có thắc mắc, và giảng giải cho tớ hẳn hoi, có lẽ tớ cũng đã có thể biết quan tâm đến cái giả định thức ấy rồi. Rõ khốn nạn!"

"Hừmmm," tôi nói.

"Cậu đã bao giờ đọc Tư bản luận chưa?"

"Rồi. Không đọc hết đâu, tất nhiên, mà chỉ từng phần thôi, như hầu hết mọi người."

"Cậu có hiểu không?"

"Tớ cũng hiểu được chỗ này chỗ kia, nhưng không hết. Cũng phải có đầu óc thế nào đó mới đọc được một cuốn như Tư bản luận. Nhưng tớ nghĩ tớ cũng hiểu được cái tư tưởng chung của chủ nghĩa Mác.

"Theo cậu, một sinh viên năm thứ nhất vốn ít đọc sách thì có hiểu được Tư bản luận không nếu chỉ đọc nó mà không có ai hướng dẫn?"

"Có lẽ khó tớ có thể nói vậy."

"Cậu biết không, lúc mới vào đại học tớ tham gia một câu lạc bộ nhạc dân gian. Tớ chỉ muốn hát. Nhưng tụi thành viên lại là một lũ bịp bợm. Chỉ nghĩ đến chúng nó là tớ đã nổi da gà. Điều đầu tiên chúng nói với cậu khi cậu gia nhập câu lạc bộ là cậu phải đọc Mác. "Nhớ đọc trang này với trang này cho lần họp mặt sau nhé". Có đứa lên lớp hẳn một bài về chuyện dân ca phải gắn liền với xã hội và phong trào cấp tiến như thế nào. Được rồi, tớ nghĩ bụng, đọc thì đọc sợ chó gì, và hăng hái về nhà làm liền, nhưng chẳng hiểu một tí gì cả. Còn tệ hơn cả giả định thức nữa. Được ba trang thì tớ đầu hàng. Như một hướng đạo sinh "thật thà", tớ đến cuộc họp tuần sau đó và nói tớ đã đọc nhưng không thể hiểu được. Từ đó trở đi chúng nó coi tớ như một con ngốc. Chúng bảo tớ không có ý thức phê phán về đấu tranh giai cấp, rằng tớ là một kẻ tàn tật về mặt xã hội. Nghĩa là nghiêm trọng thật chứ chẳng chơi. Mà tất cả chỉ vì tớ nói tớ không hiểu được một cuốn sách. Cậu thấy chúng có kinh khủng không?"

"Ờ," tôi nói.

"Và những cái gọi là thảo luận của chúng cũng kinh khủng luôn. Ai cũng đao to búa lớn và giả vờ như thông thạo tình hình lắm. Nhưng tớ thì hễ không hiểu cái gì là tớ hỏi luôn. "Tình trạng bóc lột đế quốc mà các cậu đang nói đến ấy là cái gì vậy" Nó có dính dáng gì đến Công ty Đông Ấn không?" "Có phải tiêu diệt tập đoàn công nghiệp-giáo dục có nghĩa là chúng ta sẽ không được làm việc cho một công ty sau khi tốt nghiệp không?" Đại loại những chuyện như thế. Nhưng không đứa nào muốn giai thích gì cho tớ cả. Tệ hơn nữa, chúng lại còn nổi giận nữa chứ. Cậu có tin được không?"

"Có tớ tin được," tôi nói.

"Một thằng quát vào mặt tớ, "Đồ chó cái ngu xuẩn, làm sao mày sống được với một bộ óc rỗng tuếch như thế?" Mẹ kiếp, thế là xong. Tớ không chịu nổi nữa. Ôkê, cứ cho là tớ không thông minh đi. Tớ thuộc giai cấp lao động. Nhưng chính giai cấp lao động làm cho thế giới này tiến lên, và chính giai cấp lao động là người bị bóc lột. Cách mạng kiểu gì mà chỉ biết đao to búa lớn những lời lẽ mà người lao động không thể hiểu được thế? Thứ cách mạng xã hội chó gì vậy? Nghĩa là, tớ cũng thích làm cho thế giới này tốt đẹp hơn chứ. Nếu có ai đó thực sự bị bóc lột, mình sẽ ra tay chấm dứt chuyện đó chứ. Tớ tin chuyện ấy, và vì thế mà tớ mới thắc mắc. Tớ đúng hay sai nào?"

"Cậu đúng."

"Chính thế mà tớ vỡ nhẽ ngay. Lũ khốn kia là rởm hết. Chúng chỉ nhăm nhăm phách lối với tụi con gái mới gặp bằng những từ hoa mỹ trong khi thò tay tốc váy bọn này mà thôi. Và khi tốt nghiệp, chúng sẽ cắt tóc ngắn và xếp hàng đi làm cho Mitsubishi hoặc IBM hoặc Ngân hàng Fuji. Chúng sẽ cưới những cô vợ xinh xắn không bao giờ đọc Mác và đẻ ra những đứa con với những cái tên hoa mỹ nghe phát lộn mửa. Tiêu diệt tập đoàn công nghiệp-giáo dục như vậy ư? Đừng có làm trò cười với tôi! Mà bọn thành viên mới cũng tệ chẳng kém. Chúng cũng chẳng hiểu cái mẹ gì, nhưng cứ giả vờ thế và cười vào mặt tớ. Sau buổi họp, chúng bảo "Đừng có ngốc thế! Cậu không hiểu thì đã làm sao?" Cứ việc đồng ý với mọi người là xong". Mà này, Watanabe, tớ còn có chuyện muốn phát điên hơn thế nữa. Muốn nghe không?"

"Có chứ, sao lại không."

"Ôkê, một lần chúng triệu tập một cuộc họp chính trị vào tối khuya, và bảo mỗi đứa con gái phải làm hai mươi cái bánh bột gạo để ăn đêm hôm đó. Mẹ kiếp, còn nói phân biệt nam nữ chó gì nữa? Nhưng tớ quyết định cứ im mồm một lần ấy xem sao, và đến họp như một con ngoan ngoãn với đủ hai mươi cái bánh, đầy đủ cả nhân trong lẫn ruốc ngoài. Và cậu biết tớ được gì không?" Sau đó chúng nó chê là nhân bánh của tớ không đủ vị, và tớ không mang thêm cái gì để ăn kèm với bánh cả! Bọn con gái khác thì nhồi vào bánh của chúng cả cá hồi với cá tuyết, và chúng đem theo cả những miếng trứng rán dày cộp. Tớ nổi giận đến mức không nói được! Bọn cách mạng cuồng này tưởng chúng là ai mà dám chê bai như vậy chứ? Nhẽ ra chúng phải biết ơn vì đã có bánh mà ăn. Cứ nghĩ đến bọn trẻ con đang chết đói ở Ấn Độ mà xem!"

Tôi phì cười. "Rồi cái câu lạc bộ ấy của cậu ra làm sao?"

"Tháng Sáu thì tớ bỏ, tớ tức quá," Midori nói. "Hầu hết những loại sinh viên ấy đều hoàn toàn rởm hết. Chúng sợ nhất là có ai phát hiện chúng chẳng biết cái mẹ gì cả. Tất cả bọn chúng đều chỉ đọc một loại sách và nỏ mồm một loại khẩu hiệu, và chúng thích nghe nhạc John Coltrane với xem phim Pasolini. Cậu gọi thế là "cách mạng" ư?"

"Ê đừng hỏi tớ, tớ chưa thấy một cuộc cách mạng nào bao giờ."

"Mẹ khỉ, nếu đó là cách mạng thì vứt mẹ nó đi. Chúng có thể sẽ bắn tớ vì đã làm nhân bánh không đủ vị. Chúng cũng có thể bắn cậu vì hiểu được giả định thức."

"Có thể lắm."

"Tin tớ đi, tớ biết tớ đang nói gì. Tớ là giai cấp lao động. Kiểu gì thì giai cấp lao động vẫn cứ sống cơ hàn trong những hố cứt cú mà thôi. Mà cách mạng là cái gì chứ? Chắc chắn là nó không phải chỉ thay cái tên của toà thị chính đâu. Nhưng bọn khốn kia không hiểu chuyện đó bọn khốn to mồm ấy! Nói tớ nghe, Watanabe, đã bao giờ cậu thấy một thằng phòng thuế chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Còn tớ thì rồi. Biết bao nhiêu lần rồi. Chúng xông thẳng vào nhà và phách lối om sòm. "Cuốn sổ cái này là gì đây?" "Tôi muốn xem tất cả hoá đơn của ông ngay bây giờ". Trong khi đó thì gia đình tớ chúi ở một xó, và đến bữa tối thì phải đãi chúng sushi hảo hạng - mang đến tận nhà. Nhưng tớ cũng phải nói với cậu rằng bố tớ không bao giờ gian lận thuế. Ông ấy là vậy đấy, một người cổ lỗ ngay thẳng như một mũi tên. Nhưng đừng có hòng nói điều đó với bọn phòng thuế. Chúng chỉ có một việc là đào bới, đào bới, đào bới. "Thu nhập chỗ này hơi thấp đấy, có phải không?" Mẹ kiếp, không kiếm ra tiền thì thu nhập phải thấp thế chứ làm sao! Tớ những muốn gào lên: "Đi chỗ khác mà kiếm chác đi!" Cậu nghĩ nếu có cách mạng rồi thì thái độ bọn phòng thuế có khác đi không?"

"Tớ nghi lắm, rất nghi."

"Thế là xong. Tớ sẽ không tin bất kì một thứ cách mạng khốn kiếp nào nữa. Tớ sẽ chỉ tin tưởng vào tình yêu thôi."

"Hoà bình," tôi nói.

"Vì Hoà bình," Midori phụ hoạ.

"Mà này, chúng mình đang đi đâu vậy?" tôi hỏi.

"Đến bệnh viện," cô nói. "Bố tớ ở đó. Hôm nay là phiên tớ ở với ông ấy cả ngày."

"Bố cậu? Tớ tưởng ông ấy ở Uruguay?"

"Tớ nói phét đấy," Midori nói bằng một giọng tỉnh khô "Bố tớ suốt đời kêu gào đi Uruguay, nhưng chẳng bao giờ đi được. Đi khỏi Tokyo cũng còn khó với ông ấy nữa là."

"Tình hình ông ấy có tệ lắm không?" Tôi hỏi.

"Chỉ còn là vấn đề thời gian nữa thôi," Midori nói.

Chúng tôi im lặng bước.

"Tớ biết tớ đang nói gì. Mẹ tớ cũng bị như vậy. U não. Cậu có tin được không, mẹ tớ chết mới có hai năm, và bây giờ thì bố tớ cũng bị như vậy."

Hành lang Bệnh viện Đại học ầm ĩ và đầy những người vào thăm cuối tuần cùng những bệnh nhân nhẹ, và chỗ nào cũng thoang thoảng cái mùi đặc biệt của bệnh viện, một hỗn hợp của mùi thuốc khử trùng, mùi hoa của khách vào thăm, mùi nước tiểu và chăn nệm, trong lúc đám hộ lí chạy đi chạy lại với tiếng gót giày khua lóc cóc.

Bố Midori nằm gần phía cửa trong một phòng hai giường. Nằm dán trên giường, trông ông như một con vật nhỏ bé bị tử thương. Ông nằm nghiêng, đờ đẫn, cánh tay trái bỏ thõng bất động và có cắm kim truyền ven. Ông nhỏ và gày gò, và có về chỉ có thể teo tóp nữa mà thôi. Đầu ông cuốn băng trắng, và hai cánh tay nhợt nhạt lỗ chỗ những vết tiêm thuốc hoặc truyền ven. Đôi mắt hé mở của ông dán vào một điểm cố định trong không gian, hai con ngươi đầy những tia máu ấy dịch về phía chúng tôi khi hai đứa bước vào phòng. Chúng tập trung vào chúng tôi chừng mươi giây, rồi lại dịch về chỗ cũ.

Nhìn đôi mắt ấy ta có thể biết ông sắp chết. Da thịt ông không còn dấu hiệu gì của sự sống, chỉ vương lại chút dư âm của nó mà thôi. Thân thể ông như một ngôi nhà cũ ọp ẹp mà đồ đạc bên trong đã dọn hết đi rồi để chờ ngày bị dỡ bỏ hoàn toàn. Xung quanh cặp môi khô nẻ, những đám râu đâm lên tua tủa như cỏ dại. Vậy là, tôi thầm nghĩ, ngay cả sau khi ngần ấy sinh lực của một người đàn ông đã tiêu tan, râu người ấy vẫn cứ mọc.

Midori chào một ông béo nằm trên giường gần cửa sổ ông ta gật đầu và mỉm cười, có vẻ không nói được. Ông ta húng hắng ho, rồi sau khi nhấp mấy ngụm nước trong một cái cốc thuỷ tinh để cạnh gối, ông dịch người nằm nghiêng quay mặt ra cửa sổ. Bên ngoài chiếc cửa sổ ấy có thể nhìn thấy một cái cột điện với mấy đường dây mắc qua, không còn gì khác, ngay cả mây trên trời cũng không có.

"Bố ơi, bố thấy thế nào ạ?" Midori nói, ghé sát vào tai bố như đang thử micro. "Hôm nay bố thấy thế nào ạ?"

Ông bố máp máy môi. "Không tốt", ông nói, nhưng không phát âm thành chữ mà chỉ như ọ ẹ trong cổ họng.

"Đầu" ông nói.

"Bố đau đầu ạ?" Midori hỏi.

"Ờ" ông đáp, rõ ràng không thể phát âm quá hai chớ mỗi lần.

"Cũng phải thôi ạ," Midori nói, "Bố vừa mới mổ cả đầu ra mà. Tất nhiên là phải đau rồi. Khổ thật, nhưng phải ráng thôi bố ạ. Đây là bạn con, Watanabe."

"Cháu chào bác ạ," tôi nói. Bố Midori hé môi rồi lại ngậm miệng lại.

Midori chỉ về phía một cái ghế nhựa dưới chân giường và bảo tôi ngồi. Tôi làm theo. Midori cho bố uống nước rồi hỏi ông có muốn ăn một tí hoa quả hoặc mứt không. "Không" ông nói, và khi Midori nài ông phải ăn cái gì đó thì ông nói "ăn rồi."

Trên cái bàn đêm cạnh đầu giường có một cái chai, một cái cốc, một cái đĩa và một cái đồng hồ nhỏ. Midori lấy từ trong một túi giấy to dưới gầm bàn ra mấy bộ quần áo ngủ, đồ lót và vài thứ khác, vuốt phẳng chúng và cất vào cái tủ ở cạnh cửa. Dưới đáy túi là thức ăn cho bệnh nhân: hai quả bưởi, thạch hoa quả, và ba củ dưa chuột.

"Dưa chuột! Sao lại có dưa chuột ở đây nhỉ?" Midori hỏi. "Không biết chị tớ nghĩ gì nữa. Tớ đã dặn trên điện thoại là phải mua những gì, và chắc chắn tớ không nói đến dưa chuột! Đáng nhẽ chị ấy phải mua kiwi kia."

"Có thể chị cậu nghe nhầm," tôi nói.

"Ờ có thể, nhưng nếu bà ấy suy nghĩ một tí thì biết ngay là không nên mua dưa chuột. Bệnh nhân mà ngôi trên giường gặm dưa chuột sống ư?" Bố ơi, bố có ăn dưa chuột không?"

"Không," bố Midori nói.

Midori ngồi cạnh đầu giường kể cho bố nghe những mẩu tin tức ở nhà. Cái màn ảnh TV bị nhiễu và cô đã gọi thợ đến chữa; bà cô ở Takaido mấy hôm nữa sẽ đến thăm; ông nha sĩ Miyawaki bị ngã xe đạp; những chuyện như vậy ông bố ậm ừ nghe.

"Bố không muốn ăn gì thật à?"

"Không?", ông đáp.

"Thế cậu thì sao, Watanabe, ăn mấy múi bưởi nhé"

"Không?", tôi nói.

Mấy phút sau, Midori dẫn tôi ra phòng TV và ngồi trên sô-pha hút thuốc. Ba bệnh nhân mặc quần áo ngủ cũng đang hút thuốc ở đó và xem một chương trình đàm luận chính trị gì đó.

"Này," Midori thì thầm với một cái nháy mắt. "Lão già có cặp nạng kia đã nhìn chân tớ suốt từ lúc mình mới vào. Cái lão đeo kính mặc bộ đồ màu xanh nước biển ấy."

"Cậu mặc cái váy như thế thì còn mong gì nữa nào?"

"Nhưng mà thế mới thích. Tớ cuộc là bọn họ đều đang chán chường cả. Thế này có khi lại tốt cho họ. Biết đâu bị kích thích lại giúp họ nhanh khá hơn."

"Với điều kiện nó không có tác dụng ngược lại."

Midori dán mắt vào làn khói bốc lên từ điếu thuốc của mình.

"Cậu biết không," cô nói, "bố tớ không phải là người xấu như thế đâu. Nhiều khi tớ cáu với ông ấy vì ông ấy nói những điều thật kinh khủng, nhưng tận đáy lòng thì ông ấy rất trung thực và rất yêu mẹ tớ. Theo lối riêng của mình, ông ấy sống với tất cả nhiệt tình và sức lực của ông ấy. Có thể là ông ấy hơi yếu đuối, và không hề có tí đầu óc làm ăn nào, và mọi người cũng không ưa ông ấy lắm, nhưng ông ấy còn tốt bằng vạn những kẻ lừa đảo và dối trá chỉ biết đi quanh mơn trớn mọi thứ bởi vì chúng cứ trơn như lươn thế thôi. Cũng như ông ấy, tớ có tật đã nói cái gì thì không chịu nuốt lời, nên hai bố con cãi nhau nhiều lắm, nhưng quả thật ông ấy không phải là người xấu."

Midori cầm lấy tay tôi như nhặt cái gì đó ai đánh rơi ngoài phố và đặt nó vào lòng cô. Nửa bàn tay tôi nằm trên váy, nửa còn lại chạm lên đùi cô. Cô nhìn vào mắt tôi một lúc lâu.

"Xin lỗi đã đem cậu đến một chỗ như thế này," cô nói, "nhưng cậu có thể ở lại đây với tớ một lúc nữa không?"

"Tớ sẽ ở với cậu cả ngày nếu cậu muốn," tôi nói.

"Cho đến năm giờ. Tớ thích có cậu ở cạnh, va lại tớ cũng chẳng có việc gì khác."

"Chủ nhật cậu thường làm những gì?"

"Giặt giũ," tôi nói, "và là quần áo."

"Tớ chắc cậu không muốn kể cho tớ nhiều về cô ấy, bạn gái của cậu ấy."

"Ờ có lẽ vậy. Rắc rối lắm, với lại, có lẽ tớ cũng chẳng giải thích được đâu."

"Ôkê mà. Cậu không phải giải thích gì cả," Midori nói. "Nhưng cậu có cho phép tớ nói ra những điều tớ tưởng tượng về chuyện của cậu không?"

"Có sao đâu, cậu nói đi. Tớ nghĩ cậu tưởng tượng chuyện gì cũng hay cả."

"Tớ nghĩ đó là một bà đã có chồng."

"Thế à?"

"Ừ, bà ấy băm hai băm ba gì đó, giàu có, đẹp đẽ, mặc áo lông, đi giày hiệu Charles Jourdan, đồ lót lụa, thèm khát tình dục và thích làm đủ những trò lạ lẫm. Hai người các cậu gặp nhau các buổi chiều trong tuần và nuốt chửng thân xác nhau. Nhưng chồng bà ấy lại ở nhà Chủ nhật nên cậu không thể gặp được nàng. Có đúng không nào?"

"Hay! Rất thú vị đấy."

"Bà ấy bắt cậu phải trói và bịt mắt bà ấy lại rồi liếm hết từng xăng-ti-mét vuông trên thân thể bà ấy. Rồi bà ấy còn bảo cậu đút cả những thứ kì lạ vào bà ấy nữa và bà ấy làm đủ những tư thế kì dị không khác gì một diễn viên uốn dẻo rồi cậu thì chụp ảnh bà ấy bằng một cái máy Polaroid lấy ảnh ngay."

"Nghe vui nhỉ."

"Bà ấy thèm khát chuyện ấy suốt ngày đêm, và nghĩ ra trò gì là phải làm cho bằng được. Và ngày nào bà ấy cũng chỉ nghĩ có thế. Bà ấy rỗi việc, nên lúc nào cũng dự tính: Hừmm, lần sau Watanabe đến, mình sẽ làm thế này, làm thế nọ. Cậu lên giường và thế là bà ấy phát cuồng lên, thử đủ mọi tư thế và mỗi tư thế phải sướng đến ba lần. Và bà ấy nói với cậu, "Chẳng phải là tôi có một tấm thân tuyệt cú đó hay sao?" Cậu không thể thoả mãn với bọn gái trẻ được nữa đâu. Gái trẻ không làm thế này với cậu, đúng không?" Hoặc thế này nữa. Sướng chưa nào" Nhưng mà cậu vẫn chưa ra!"

Tôi phì cười: "Cậu xem phim con heo nhiều quá rồi!"

"Cậu biết tớ thích nhất cái gì khi xem phim con heo không?"

"Không dám đoán đâu."

"Mỗi lần bắt đầu một cảnh làm tình, cậu có thể nghe thấy tiếng "Uạp!" một cái khi tất cả mọi người trong rạp đều nhất loạt nuốt nước bọt," Midori nói. "Tớ yêu cái tiếng "Uạp!" ấy! Nghe nó thật ngọt ngào!"

Trở lại phòng bệnh, Midori lại tuôn ra một tràng với bố cô, và ông ta lại ậm ừ đáp hoặc nằm lặng thinh. Quãng mười một giờ, bà vợ ông béo đến thay quần áo cho ông ta, bóc quả cho ông ta ăn và những thứ linh tinh khác. Bà có bộ mặt tròn trịa trông có vẻ rát tốt bụng. Bà và Midori rì rầm to nhỏ với nhau đủ thứ chuyện. Một hộ lí đem một lọ truyền ven mới vào và trao đổi chút ít với Midori và bà vợ trước khi rời khỏi phòng. Tôi để mắt mình thơ thẩn nhìn quanh phòng rồi ra ngoài cửa sổ về phía cái cột điện. Thỉnh thoảng lại có chim sẻ bay đến đậu trên dây điện. Midori nói chuyện với bố, lau mồ hôi trán cho ông, giúp ông khạc đờm vào khăn giấy tán dóc với bà vợ ông bệnh nhân cùng phòng và chị hộ lí, thỉnh thoảng lại nói với tôi mấy câu, và để mắt đến cái van truyền ven.

Bác sĩ đến kiểm tra tình trạng bệnh nhân lúc mười một rưỡi. Tôi với Midori ra đợi ngoài hành lang. Khi ông bác sĩ ra khỏi phòng, Midori hỏi ông về tình trạng của bố.

"À, ông cụ vừa mổ xong, lại phải dùng thuốc giảm đau, nên phải nói thật là cụ hơi kiệt sức," ông bác sĩ nói. "Phải hai ba ngày nữa tôi mới đánh giá được kết quả của ca mổ này. Nếu tốt thì cụ sẽ ôkê, còn không thì lúc đó chúng tôi sẽ phải có quyết định khác."

"Bác sĩ sẽ không mổ đầu bố tôi ra nữa chứ ạ?"

"Bây giờ thì tôi chưa thể nói được," ông bác sĩ nói.

"Trời đất, cái váy cô đang mặc kia mới thật là váy!"

"Hay chứ, phải không ạ?"

"Thế trên cầu thang thì cô làm gì?" ông bác sĩ hỏi.

"Chẳng có gì đặc biệt. Cháu cứ phơi cả ra thế thôi,"

Midori nói. Chị hộ lí cười khẩy một tiếng sau lưng ông bác sĩ

"Lạ thật. Cô phải đến để chúng tôi mổ đầu cô ra xem đang có gì ở trong mới được. Hãy làm ơn giúp tôi một việc: cô hay dùng thang máy khi còn ở bệnh viện này. Tôi không thể có thêm bệnh nhân nữa được. Tôi đã bận lắm rồi."

Sau chuyến đi tua của bác sĩ một lúc thì đến giờ ăn trưa. Một hộ lí đi đến từng phòng, đẩy theo một chiếc xe xếp đầy các suất ăn. Bố Midori được một suất có cháo, hoa quả, cá luộc rút xương, và rau nghiền thành một món như tương thạch. Midori lật cho ông nằm ngửa ra rồi dựng ông lên bằng cách quay một cái tay quay ở phía chân giường. Cô cho ông ăn cháo bằng thìa. Được năm sáu thìa thì ông quay mặt đi và nói "thôi."

"Bố phải ăn ít nhất cho hết chỗ này," Midori nói.

"Để sau," ông bảo.

"Bố này! Nếu bố không ăn hẳn hoi thì làm sao lại sức được" cô nói. "Bố đã muốn đi đái chưa?"

"Chưa," ông nói.

"Ê Watanabe, mình xuống nhà ăn đi."

Tôi đồng ý, nhưng thực tình không thấy muốn ăn tí nào. Nhà ăn đông nghẹt những bác sĩ hộ lí và khách đến thăm. Những dãy bàn ghế kéo dài chật hết cả gian hầm ngầm khổng lồ không cửa sổ và tất cả những cái miệng kia đều như đang mải ăn mải nói, tất nhiên là toàn chuyện bệnh tật, giọng người vang vang như trong một con đường hầm. Thỉnh thoảng loa phóng thanh lại phá tan bầu không khí ấy bằng mấy lời gọi bác sĩ hoặc hộ lí đi có việc. Trong lúc tôi đi tìm và giữ chỗ ngồi, Midori đi mua hai suất ăn và đem tới trên một chiếc khay nhôm. Chả cá với nước xốt kem, rau trộn khoai tây, bắp cải thái chỉ, rau luộc, cơm trắng và súp đậu tương: những món này xếp trên khay trong những cái đĩa nhựa trắng hệt như suất cơm của bệnh nhân. Tôi ăn khoảng nữa suất thì bỏ. Midori có vẻ rất ngon miệng cho đến tận miếng cuối cùng.

"Không đói à?" Cô hỏi, miệng nhấp trà nóng.

"Không đói thật," tôi nói.

"Bệnh viện đấy mà," cô nói, mắt nhìn khắp xung quanh. "Ai chưa quen cũng đều thế cả. Mùi mẽ, âm thanh, không khí tù đọng, mặt mũi bệnh nhân, lo âu, cáu bẳn, thất vọng, đau đớn, mệt mỏi - đó là nguyên nhân. Chúng thắt lấy bụng và làm mất hết dịch vị. Nhưng khi đã quen thì không có vấn đề gì. Với lại, cậu không thể chăm người ốm nếu không ăn uống tử tế. Thật đấy! Tớ biết tớ đang nói gì vì tớ đã phải chăm ông tớ, bà tớ, mẹ tớ, và bây giờ là bố tớ. Không thể biết lúc nào mình sẽ không kịp ăn nữa, nên hễ ăn được là phải ăn cho hẳn hoi."

"Tớ hiểu điều cậu nói," tôi bảo.

"Họ hàng đến thăm và họ đều ăn với tớ ở đây, và họ luôn bỏ mứa đến nữa suất, hệt như cậu. Và họ luôn mồm bảo "Ôi chao, Midori, thật tuyệt là cháu ăn ngon miệng được thế. Bác buồn quá không thể ăn được". Nhưng đừng có vớ vẩn thế nghe chưa, tớ mới là người thực sự phải chăm sóc bệnh nhân! Họ chỉ ghé qua để bày tỏ chút cảm tình mà thôi. Tớ mới là đứa chùi đít, lấy đờm và lau trán. Nếu tình cảm có thể chùi đít được thì tớ còn tình cảm gấp năm mươi lần mấy người kia! Ấy thế mà khi họ thấy tớ ăn hết suất thì họ nhìn tớ bằng con mắt như thế và nói "Ôi chao, Midori, cháu ăn uống khỏe thật đấy!" Họ tưởng tớ là cái gì hả? Một con lừa kéo xe chăng? Họ đều đủ già để hiểu đời là thế nào, mà sao còn ngu đến thế? Đao to búa lớn thì dễ lắm, nhưng quan trọng là có dọn cứt được không kia. Tớ có thể bị tổn thương, cậu biết không? Tớ cũng kiệt sức như bất kì ai. Và tớ cũng buồn đến mức phát khóc nữa. Cậu hiểu không? Cậu hãy thử nhìn một lu bác sĩ xúm vào mổ đầu người ta ra khi chẳng còn hy vọng gì cứu được người ấy nữa, rồi chọc chọc ngoáy ngoáy ở trong đó, rồi làm đi làm lại, và lần nào cũng chỉ làm cho người ta tồi tệ hơn và điên rồ hơn, thì cậu mới hiểu tâm trạng của tớ! Và chưa hết, cậu còn phải thấy tiền dành dụm của cậu cứ hao đi tửng ngày. Tớ không biết mình có đủ sức học thêm ba năm rưỡi đại học nữa không đây còn chị tớ thì chắc chắn là không thể làm đám cưới trong cảnh này được nữa rồi."

"Mỗi tuần cậu đến đây mấy ngày?" tôi hỏi.

"Thường là bốn," Midori nói. "Chỗ này vẫn nói là họ có dịch vụ hộ lí toàn phần, và hộ lí của họ cũng tốt, nhưng họ có quá nhiều bệnh nhân. Gia đình phải có người vào lo những việc họ không làm xuể mới được. Chị tớ thì phải trông cửa hàng, tớ thì phải học. Thế mà chị ấy vẫn đến đây được ba ngày một tuần, còn tớ thì bốn. Rồi thì bọn tớ cũng tranh thủ vào thêm lúc này lúc khác nữa. Cứ tin tớ đi, lịch bọn tớ kín mít hết cả!"

"Cậu bận như thế mà sao vẫn đi chơi được với tớ?"

"Vì tớ thích đi chơi với cậu," Midori nói, tay nghịch cái cốc nhựa.

"Cậu ra ngoài đi dạo lấy một hai tiếng đi," tôi nói. "Tớ sẽ trông ông cụ cho cậu."

"Tại sao?"

"Cậu cần ra khỏi bệnh viện và thư giãn một mình – đừng nói gì với ai cả, để đầu óc sảng khoái ra thôi."

Midori nghĩ một lúc rồi gật đầu. "Hừmm, có lẽ cậu nói phải. Nhưng cậu có biết làm không? Chăm bố tớ ấy?"

"Tớ đã quan sát rồi. Tớ đã hiểu kha khá công việc ấy. Kiểm tra van truyền này, cho cụ uống nước này, lau mồ hôi này, và để cho cụ khạc đờm ra nữa. Cái bô thì ở dưới gầm giường, và nếu cụ đói thì tớ sẽ cho cụ ăn nốt suất cơm trưa. Còn có cái gì tớ không biết thì tớ sẽ hỏi hộ lí."

"Tớ nghĩ thế là được rồi," Midori nói với một nụ cười "Còn có một thứ nữa thôi. Ông cụ bắt đầu lẩn thẩn rồi, nên thỉnh thoảng sẽ nói linh tinh những thứ không ai hiểu được. Cậu đừng phiền nếu cụ làm vậy."

"Tớ không sao mà," tôi nói.

Trở lại phòng, Midori bảo bố rằng cô phải lo mấy việc và rằng tôi sẽ trông cụ trong lúc cô đi vắng. Ông cụ có vẻ chẳng có gì để nói về việc này. Cũng có thể nó chẳng có nghĩa gì với ông. Ông chỉ nằm ngửa ở đó, mắt dán lên trần nhà. Nếu thỉnh thoảng mắt ông không chớp thì người ta có thể nghĩ là ông đã chết. Mắt ông đỏ ngầu như thể vừa uống rượu say, và mỗi lần ông hít một hơi dài thì hai cánh mũi lại nở ra một chút. Ngoài ra thì ông không động cựa tí gì hết, và cũng chẳng cố sức đáp lại Midori lời nào. Tôi không thể đoán biết ông đang nghĩ gì hoặc cảm thấy gì trong những tầng sâu thẳm của cõi thức.

Sau khi Midori đã đi, tôi tưởng mình có thể thử chuyện trò với bố cô, nhưng tôi không biết nói gì và nói như thế nào, nên đành giữ im lặng. Chẳng mấy chốc, ông cụ nhắm mắt lại và ngủ thiếp đi. Tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cạnh đầu giường và theo dõi những động đậy thi thoảng cửa cánh mũi ông, hy vọng miên man rằng ông sẽ không chết lúc bấy giờ. Sẽ lạ lùng biết bao, tôi nghĩ bụng, nếu người đàn ông này thở hơi cuối cùng khi có tôi bên cạnh. Dù sao thì tôi cũng mới gặp ông lần đầu tiên trong đời và cái duy nhất đem chúng tôi lại với nhau là Midori, một cô gái tôi tình cờ gặp gỡ trong lớp Lịch sử sân khấu.

Nhưng ông cụ không chết, chỉ ngủ yên ở đó. Ghé sát tai vào mặt cụ, tôi có thể nghe tiếng thở yếu ớt của cụ.

Tôi không căng thẳng nữa và quay sang hỏi chuyện bà vợ ông giường bên cạnh. Bà ta chỉ nói về Midori, cho rằng tôi là bạn trai của cô.

"Cô ấy là một cô gái thực sự tuyệt vời," bà nói. "Cô ấy chăm sóc bố rất chu đáo; cô ấy tốt bụng, dịu dàng, nhạy cảm và chắc chắn, và cô ấy lại xinh đẹp nữa. Cậu hãy đối xử với cô ấy cho đúng đắn. Đừng bao giờ để mất cô ấy. Cậu không thể tìm thấy ai như cô ấy nữa đâu."

"Cháu sẽ đối xử tốt với cô ấy," tôi nói, không muốn đi sâu hơn.

"Tôi có một con trai và một con gái ở nhà. Thằng con trai mười bảy, con gái hai mốt, thế mà không đứa nào nghĩ đến chuyện đến bệnh viện thăm bố bao giờ. Hễ tan học là chúng nó tếch đi lướt ván hoặc bồ bịch hoặc gì gì đó ai biết được. Chán thế đấy. Chúng chỉ biết moi tiền mẹ rồi biến."

Một giờ rưỡi thì bà ta ra ngoài đi mua sắm vài thứ. Cả hai người đàn ông đều ngủ say. Nắng chiều dìu dịu tràn ngập gian phòng, và tôi cảm thấy như mình có thể bập bềnh trôi đi bất kì lúc nào khi ngồi vắt vẻo trên chiếc ghế đẩu ấy. Những bông cúc vàng và trắng trong chiếc bình trên bàn cạnh cửa sổ nhắc nhở rằng trời đã sang thu. Trong không khí có mùi thơm của món cá luộc còn lại từ bữa trưa. Đám hộ lí vẫn lóc cóc lên xuống ngoài hành lang, nói chuyện với nhau bằng những giọng khúc triết dễ nghe. Thỉnh thoảng họ lại ngó vào phòng rồi nở với tôi một nụ cười khi thấy cả hai bệnh nhân đều đang ngủ. Tôi ước có cái gì để đọc, nhưng trong phòng không có sách báo tạp chí gì, chỉ có mỗi một tờ lịch treo trên tường.

Tôi nghĩ đến Naoko. Tôi tưởng đến lúc nàng trần trụi, chỉ có dải buộc tóc trên đầu. Tôi nhớ đến đường cong chỗ thắt lưng nàng và bóng tối chỗ lông mu nàng. Tại sao nàng lại phô bày cho tôi xem như thế? Nàng mộng du chăng? Hay đó chỉ là ảo mộng của tôi? Thời gian cứ trôi đi và cái thế giới nhỏ bé ấy lại lùi xa dần ra, và tôi càng không chắc chuyện đêm ấy có thực diễn ra hay không. Nếu tôi tự nhủ nó là thực thì tôi tin là nó có thực. Nếu tôi tự nhủ đó chỉ ảo mộng, nó lại có vẻ là ảo mộng thật. Nó quá rõ và quá chi tiết để có thể ảo mộng, mà lại quá hoàn chỉnh và đẹp đẽ để có thể là thực: Tấm thân của Naoko và ánh trăng ấy.

Bố Midori bỗng nhiên thức dậy và bắt đầu ho, khiến giấc mộng ngày của tôi chấm dứt. Tôi giúp ông khạc đờm vào một miếng giấy lau mặt, và lấy khăn lau trán cho ông.

"Ông có muốn uống nước không ạ?" Tôi hỏi, và được đáp lại bằng một cái gật đầu chừng bốn mi-li-mét.

Tôi giữ cái chai nước thuỷ tinh nhỏ để ông có thể nhấp từng tí một, cặp môi khô run run, cổ họng lẩy bẩy. Ông uống hết sạch chỗ nước âm ấm trong chai.

"Ông uống thêm tí nữa không ạ?" Tôi hỏi. Ông có vẻ muốn nói, nên tôi ghé tai lại gần hơn.

"Đủ rồi," giọng ông nhỏ và khô, còn nhỏ và khô hơn trước."

"Ông ăn chút gì nhé? Chắc ông đói rồi." Ông đáp bằng một thoáng gật đầu. Như Midori đã làm, tôi xoay cái cần dựng đầu giường lên rồi bón cho ông từng thìa rau nghiền và cá luộc thay đổi nhau. Rất lâu mới cho ông ăn hết được độ nửa phần thức ăn, và đến đó thì ông hơi lắc đầu ra hiệu thôi không ăn nữa. Động tác của ông gần như không nhìn thấy được, rõ ràng cử động mạnh vẫn còn làm ông đau.

"Còn hoa quả thì sao ạ?" Tôi hỏi ông.

"Thôi", ông nói. Tôi lau hai bên mép cho ông bằng khăn và hạ đầu giường xuống như cũ rồi dọn chỗ bát đĩa ra ngoài hành lang.

"Có ngon không ông?" tôi hỏi.

"Kinh lắm", ông đáp.

"Vâng," tôi mỉm cười với ông. "Trông cũng chán thật." Bố Midori có vẻ không biết nên mở mắt ra thêm hay nhắm lại khi ông nằm đó và nhìn tôi chằm chằm. Không biết ông có biết tôi là ai không. Ông có vẻ thoải mái với tôi một mình thế này hơn lúc có Midori. Có thể ông tưởng tôi là ai đó. Hoặc giả đấy là tôi thích nghĩ vậy.



"Ngoài kia trời đẹp lắm ạ," tôi nói, ngồi bắt chéo chân trên chiếc ghế đẩu. "Mùa thu rồi, Chủ nhật, thời tiết tuyệt vời, đi đâu cũng thấy đông người ông ạ. Những hôm như hôm nay thì cứ nghỉ ngơi ở trong nhà thế này là tốt nhất. Ra đám đông mệt người lắm. Mà không khí cũng không tốt. Chủ nhật cháu chủ yếu chỉ giặt giũ thôi sáng thì đi giặt, mang lên nóc nhà học xá phơi, chiều thì lại cất hết xuống trước khi trời tối, rồi là chúng thật kĩ. Cháu chẳng ngại là quần áo tí nào. Là cho mọi thứ nhàu nhĩ phẳng ra cho ta một cảm giác thoả mãn đặc biệt. Và cháu làm việc đó khá giỏi. Tất nhiên lúc đầu thì lung tung lắm. Cháu còn làm quần áo bị nhầu thêm nữa. Nhưng sau một tháng thì cháu biết phải làm gì. Cho nên Chủ nhật là ngày cháu giặt giũ và là quần áo. Hôm nay thì cháu không làm được, tất nhiên rồi. Chán thật: mất một ngày giặt là lí tưởng. "Nhưng không sao ông ạ. Mai cháu sẽ dậy sớm và làm bù những việc ấy. Ông đừng lo. Cháu cũng chẳng có việc gì khác vào Chủ nhật.

"Sáng mai, sau khi đã giặt và phơi quần áo, cháu sẽ đến lớp lúc mười giờ. Đấy là lớp cháu cùng học với Midori: Lịch sử sân khấu. Cháu đang học về Euripides. Ông có biết Euripides không ạ? Đó là một người Hy Lạp cổ đại, một trong "Tam Hùng" của bi kịch Hy Lạp, cùng với Aeschylus và Sophocles. Hình như ông ta chết vì bị một con chó cắn ở Macedonia, nhưng không phải ai cũng tin chuyện đó. Đại khái đó là Euripides. Cháu thích Sophoaes hơn, nhưng chắc đó chỉ là vấn đề thị hiếu thôi. Thực sự là cháu không biết ông nào hay hơn ông nào.

"Điều làm cho kịch của ông ta được mọi người chú ý là cái cách ông ấy làm rối tinh sự việc lên và khiến cho các nhân vật bị mắc kẹt trong hoàn canh. Ông có nghe thủng không ạ?" Rất nhiều nhân vật khác nhau xuất hiện, và tất cả đều có hoàn cảnh riêng, lí do riêng và lí lẽ riêng, và người nào cũng đang theo đuổi lí tưởng công bằng hoặc hạnh phúc của mình. Kết quả là chẳng ai làm được gì hết. Rõ ràng rồi. Cháu muốn nói là về cơ bản thì không thể nào có chuyện công lí của ai cũng thắng thế hoặc hạnh phúc của ai cũng thắng thế, và thế là xảy ra hỗn loạn. Rồi thì ông có biết chuyện gì xảy ra sau đó không?" Rất đơn giản - một vị thần xuất hiện vào cuối vở kịch và bắt đầu điều khiển xe cộ trên đường. "Anh này đi ra kia, còn chị này đi ra đây, và cậu thì về với cô ấy, còn cô này thì hãy ngồi yên ở đấy đã". Như vậy đấy. Kiểu như một người đến để giải quyết mọi chuyện, và cuối cùng thì hoàn hảo đâu vào đấy cả. Họ gọi thế là thủ pháp "deus ex machina"<4>. Trong kịch của Euripides hầu như lúc nào cũng dùng thủ pháp, và chính vì thế mà giới phê bình có những ý kiến khác hẳn nhau về ông ta.

"Nhưng thử nghĩ mà xem, giá có được một cái "deus ex machina" ở ngoài đời thực thì ra sao?" Mọi chuyện sẽ dễ dàng biết mấy! Nếu ta thấy bế tắc và mắc kẹt, một vị thần nào đó sẽ từ trên kia lượn xuống và giải quyết mọi vấn đề cho ta. Còn gì dễ hơn thế nữa. Đấy, đại khái Lịch sử sân khấu là như vậy ông ạ. Những cái bọn cháu học ở đại học đại loại cũng như vậy cả."

Bố Midori không nói gì, nhưng ông hướng cặp mắt trống rỗng về phía tôi trong suốt lúc tôi nói. Tất nhiên tôi không thể đoán từ đó xem ông có hiểu tí gì những điều tôi nói.

"Vì Hoà bình," tôi nói.

Sau câu chuyện dông dài ấy, tôi thấy đói cồn cào.

Tôi đã hầu như không ăn sáng và đã chỉ ăn nửa suất cơm trưa. Bây giờ thì tôi hối hận đã không ăn nhiều hơn, nhưng hối cũng chẳng được gì. Tôi ngó vào tủ xem có gì ăn được không, nhưng chỉ thấy một hộp rong biển, vài viên thuốc ho Vicks và xì-dầu. Cái túi giấy vẫn ở đó với mấy củ dưa chuột và quả bưởi.

"Cháu ăn một ít dưa chuột có được không ạ?" tôi nói với bố Midori. Ông cụ không đáp. Tôi rửa ba củ dưa chuột trong bồn nước và rót một ít xì-dầu ra một cái đĩa. Rồi tôi cuốn ít rong biển quanh một củ dưa chuột, chấm nó vào xì-dầu và nhồm nhoàm ăn.

"Ừ ừ, ngon tuyệt!" tôi nói với bố Midori. "Tươi, đơn giản, sực nức mùi đời. Dưa ngon thật ông ạ. Có lí hơn quả kiwi nhiều."

Tôi ăn nhẵn một củ và đánh tiếp củ nữa. Tiếng tôi nhai rau ráu vang khắp cả gian phòng. Ăn xong củ thứ hai tôi mới chịu nghỉ nhai. Tôi ra đun ít nước sôi chỗ cái bếp gas ngoài hành lang để pha trà.

"Ông có muốn uống gì không ạ? Nước nhé? Hay là nước quả?" Tôi hỏi bố Midori.

"Dưa chuột", ông nói.

"Tuyệt!" Tôi mỉm cười. "Với rong biển chứ ạ?"

Ông hơi gật đầu. Tôi lại quay đầu giường lên. Rồi tôi cắt một miếng dưa chuột vừa miệng, cuốn một rẻo rong biển lên nó, cắm một cái tăm, chấm vào xì-dầu, rồi đưa lên miệng bệnh nhân đang chờ. Vẻ mặt hoàn toàn không đổi, bố Midori nhai miếng dưa từng nhát một và cuối cùng nuốt được nó.

"Sao ạ?" Ngon chứ ạ?"

"Ngon", ông nói.

"Ăn thấy ngon là tốt lắm đấy," tôi nói. "Chứng tỏ là mình vẫn còn sống đấy."

Cuối cùng ông cụ ăn hết cả một củ dưa chuột. Ăn xong, ông muốn uống nước, và tôi lại cho ông uống từ cái chai ấy. Mấy phút sau, ông nói ông cần đi đái, thế là tôi lấy cái bô nước giải ở dưới gầm giường ra và hứng cho ông đi. Sau đó tôi đổ bô vào chuồng xí và rửa nó sạch sẽ. Rồi tôi trở lại phòng bệnh và uống nốt chỗ trà.

"Ông thấy trong người thế nào?" tôi hỏi.

"Đầu tôi," ông nói.

"Đau hả ông?"

"Một chút" ông nói và nhăn mặt một tí.

"Không sao đâu ông ạ, ông vừa mổ xong mà. Tất nhiên là cháu không biết được, cháu chưa bị mổ bao giờ."

"Vé" ông nói.

"Vé hả ông?" Vé gì ạ?"

"Midori", ông nói. "Vé."

Không thể hiểu ông định nói gì, tôi chỉ biết im lặng.

Ông cũng nằm yên một lúc. Rồi ông có vẻ như đang muốn nói "Làm ơn". Ông mở to mắt và nhìn tôi rất chăm chú. Tôi đoán ông đang cố nói với tôi điều gì đó mà chịu không thể tưởng tượng ra được. "Ueno" ông nói. "Midori"

"Ga Ueno ấy ạ?"

Ông hơi gật đầu.

Tôi cố tóm lại những cái ông đang cố nói ra: "Vé, Midori, làm ơn, ga Ueno," nhưng vẫn không hiểu ý nghĩa của chúng là gì. Tôi đồ chừng đầu óc ông còn lẫn lộn, nhưng so với trước thì mắt ông bây giờ trông tinh khủng khiếp ông giơ cánh tay không bị tiêm truyền lên và với về phía tôi. Chắc ông phải cố sức lắm, bàn tay ông run lẩy bẩy trong không trung. Tôi đứng lên và nắm lấy bàn tay nhăn nheo yếu ớt ấy. Ông đáp lại bằng một cái nắm tay mà chắc ông đã phải dồn hết sức bình sinh và lại nói "Làm ơn."

"Ông đừng lo," tôi nói. "Cháu sẽ thu xếp cái vé, và cả Midori nữa."

Ông để bàn tay rơi phịch xuống giường rồi nhắm mắt. Sau đó, ông trút một hơi thở nghe như một tiếng kêu to rồi bặt đi vào giấc ngủ. Tôi vội kiểm tra để biết chắc là ông vẫn sống, rồi ra ngoài đun thêm nước pha trà. Trong khi nhấp nháp trà nóng, tôi bỗng thấy lòng mình vừa nảy sinh một tình cảm gần như yêu mến với ông già bé nhỏ đang cận kề cái chết này.

Ít phút sau thì bà vợ ông bệnh nhân kia trở về và hỏi mọi việc có ổn cả không. Tôi nói ổn cả. Chồng bà cũng đang ngủ say với những nhịp thở sâu.

Sau ba giờ thì Midori về.

"Tớ ở ngoài công viên, nằm thượt suốt," cô nói. "Tớ theo lời cậu, không nói chuyện với ai, chỉ để đầu óc trống rỗng đi thôi."

"Cậu thấy thế nào?"

"Cám ơn, tớ thấy khá hơn nhiều. Vẫn còn cảm giác mệt mỏi trì trệ, nhưng tớ thấy người nhẹ nhõm hơn trước nhiều. Có lẽ tớ mệt lắm mà không biết."

Ông cụ còn đang ngủ say, chúng tôi cũng chẳng có việc gì, nên hai đứa mua cà-phê ở một máy bán tự động và đem vào phòng TV ngồi uống. Tôi báo cáo tình hình lúc Midori đi vắng, rằng bố cô đã ngủ tốt, rồi thức dậy và ăn một ít đồ còn lại của bữa trưa, sau đó thấy tôi ăn dưa chuột và đòi ăn một củ, rồi ăn hết một củ và đi đái.

"Watanabe, cậu thật tuyệt vời," Midori nói. "Bọn tớ đến phát điên lên mà không thể cho ông ấy ăn được gì, thế mà cậu cho cụ ăn hết cả một quả dưa chuột! Không thể tin được!"

"Tớ không biết, có lẽ vì cụ thấy tớ ăn ngon lành quá"

"Hoặc có lẽ cậu có tài làm người khác thấy thoai mái."

"Không có đâu," tôi cười. "Sẽ có nhiều người nói với cậu ngược lại về tớ đấy."

"Cậu thấy bố tớ thế nào?"

"Tớ thích ông ấy. Chẳng phải vì người cháu nói gì nhiều với nhau. Nhưng, tớ không biết nữa, ông cụ có vẻ hay lắm."

"Cụ cứ im thin thít phải không?"

"Cậu phải thấy ông ấy tuần trước cơ. Khủng khiếp". Midori lắc đầu. "Như hoàn toàn mất trí và phát cuồng lên. Ném cả một cái cốc vào tớ và gào lên nhưng câu ghê gớm như "Sao mày không chết đi hả con ngu xuẩn kia!" Cái bệnh này nó làm người ta ra như vậy. Họ không biết tại sao, nhưng đùng một cái nó có thể làm người ta thành xấu xa đểu cáng. Mẹ tớ cũng thế! Cậu có biết bà ấy nói gì với tớ không? "Mày không phải con tao! Tao căm thù cái bụng dạ mày!" Cả thế giới đen ngòm mất một giây khi bà ấy nói thế với tớ. Nhưng những chuyện như thế là một đặc điểm của căn bệnh đặc biệt này. Một chỗ nào đó trên não bộ bị chèn ép và khiến người ta mở mồm nói đủ mọi thứ xấu xa. Biết là bệnh thật, nhưng vẫn thấy đau. Biết làm sao được! Như tớ đây này, hầu hạ họ đến lòi cả xương ra mà vẫn phải nghe họ mắng chửi thậm tệ đủ thứ."

"Tớ hiểu," tôi nói. Rồi chợt nhớ những từ kì lạ mà bố Midori đã lẩm nhẩm với tôi.

"Vé" Ga Ueno" "Midori nói. "Là cái gì thế nhỉ?"

"Và cụ còn nói Làm ơn, và "Midori."

"Làm ơn chăm sóc Midori ư?"

"Hoặc cụ muốn cậu đến ga Ueno mua vé chăng?"

"Thứ tự bốn từ ấy loạn xì ngậu cả, ai mà biết cụ muốn nói gì? Ga Ueno có ý nghĩa gì đặc biệt với cậu không?"

"Hừmm, Ga Ueno." Midori nghĩ ngợi một lúc. "Tớ chỉ có thể nghĩ đến hai lần tớ bỏ nhà đi, lần lên tám và lần lên mười. Lần nào tớ cũng đi tàu từ Ueno đi Fukushima. Mua vé bằng tiền tớ lấy ở quầy thu ngân. Có người ở nhà làm tớ rất tức, và tớ bỏ đi để trả thù. Tớ có bà bác ở Fukushima, tớ cũng thích bà ấy, và thế là tớ tìm đến nhà bà. Bố tớ là người đã đi tìm và đưa tớ về. Đi đến tận Fukushima để tìm tớ - hàng trăm dặm chứ ít đâu! Hai bố con ăn cơm hộp trên chuyến tàu về Ueno. Bố tớ kể đủ thứ chuyện trong lúc đi đường, từng mẩu ngắn một và rất rời rạc. Ví dụ chuyện động đất lớn hồi 1923, chuyện hồi chiến tranh, hoặc hồi tớ mới đẻ, những chuyện mà rất ít khi ông ấy nói đến. Nghĩ cũng lạ, đó là những lần bố và tớ nói chuyện tử tế được với nhau, chỉ có hai bố con. Này, cậu có tin được không? - bố tớ ở ngay giữa Tokyo khi xảy ra một trong những trận động đất lớn nhất trong lịch sử mà ông ấy không biết gì cả!"

"Làm gì có chuyện ấy?"

"Thật mà! Ông ấy đang đạp xe qua khu Koishikawa, đèo một cái xe đẩy ở đằng sau, và ông ấy không cảm thấy gì hết. Khi về đến nhà, tất cả ngói trên mái nhà trong khu phố đều đã rơi đầy đường và mọi người trong nhà đang ôm cột run lẩy bẩy hết cả. Thế mà ông ấy vẫn không hiểu chuyện gì đã xảy ra. Theo lời bố tớ thì ông ấy còn hỏi "ở đây có chuyện quái gì thế này" Đó là "hồi ức âu yếm của bố tớ về trận động đất Kanto vĩ đại!" Midori cười. "Tất cả những câu chuyện ngày xưa của ông ấy đều như thế cả. Không có một tí kịch tính nào. Tất cả chúng đều có vẻ lệch trọng tâm. Tớ không biết, khi ông ấy kể những chuyện ấy, người nghe có cảm giác như nước Nhật trong năm mươi hoặc sáu mươi năm vừa qua đã chẳng có chuyện quái gì quan trọng. Vụ nổi dậy của các sĩ quan trẻ năm 1936, cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương, tất cả đều chỉ là kiểu "ồ phải rồi, đúng thế đấy, có lẽ có chuyện đại loại thế đã xảy ra thật". Buồn cười thế đấy!"

"Bây giờ quay lại chuyện hai bố con trên tàu hoả nhé, ông ấy cứ kể từng mẩu rời rạc những chuyện như thế trong lúc đi từ Fukushima về Ueno. Cuối cùng thì bao giờ ông ấy cũng bảo, "Con đã thấy chưa, Midori, con đi đâu thì cũng thế thôi à". Còn bé tí thế mà tớ cũng đã có ấn tượng về những chuyện như vậy rồi."

"Đó là "hồi ức âu yếm của cậu về Ga Ueno đấy à?" tôi hỏi.

"Ờ" Midori nói. Watanabe, cậu đã bao giờ bỏ nhà đi chưa?"

"Chưa bao giờ."

"Tại sao?"

"Thiếu trí tưởng tượng. Tớ chưa bao giờ có ý định bỏ nhà."

"Cậu lạ thật!" Midori nói, nghếch đầu lên như thể ngạc nhiên thật sự.

"Tớ cũng không biết nữa," tôi nói.

"Thôi được rồi, mà này, tớ nghĩ bố tớ định nói ông ấy muốn cậu chăm sóc tớ thì phải."

"Thật ư?"

"Thật chứ! Tớ hiểu những chuyện như vậy. Trực cảm mà. Vậy nói tớ nghe, cậu đã trả lời ông ấy thế nào?"

"À tớ không hiểu ông cụ nói gì, nên chỉ bảo ôkê, đừng lo, tớ sẽ thu xếp ổn thoả cả cậu lẫn cái vé."

"Cậu hứa với bố tớ thế à?" Cậu bảo cậu sẽ chăm sóc tớ thật à?" Cô nhìn thẳng vào mắt tôi với vẻ mặt nghiêm chỉnh chết người.

"Không phải thế," tôi vội chữa. "Thực là tớ không hiểu ông cụ nói gì, nên…"

"Đừng lo, tớ chỉ đùa thôi mà," cô nói và mỉm cười. "Tớ thích cái tính ấy của cậu."

Midori và tôi uống nốt chỗ cà-phê rồi trở lại phòng bệnh. Bố cô vẫn ngủ say. Nếu ghé sát lại, có thể nghe tiếng ông thở đều. Càng về chiều, ánh sáng ngoài cửa sổ càng đượm vẻ thu nhẹ nhàng dịu ngọt. Một bày chim đậu trên dây điện ở ngoài đó một lúc rồi lại bay đi.

Midori và tôi ngồi trong góc phòng rì rầm trò chuyện. Cô bói tay cho tôi và tiên đoán tôi sẽ sống đến một trăm linh năm tuổi, lấy vợ ba lần, và chết vì tai nạn xe cộ.

"Không đến nỗi tệ," tôi nói.

Khi ông bố tỉnh giấc vào lúc sau bốn giờ, Midori đến ngồi cạnh gối ông, lau trán cho ông, cho ông uống nước và hỏi ông còn đau đầu nữa không. Một cô hộ lí đến cặp nhiệt độ cho ông, ghi lại số lần ông đi giải, kiểm tra thiết bị tiêm truyền. Tôi sang phòng TV và xem một ít chương trình bóng đá.

Năm giờ thì tôi bảo Midori là tôi phải đi. Tôi phân bua với ông cụ rằng mình phải đi làm. "Cháu bán đĩa hát ở Shinjuku từ sáu đến mười rưỡi."

Ông đưa mắt nhìn tôi và hơi gật đầu.

"Watanabe này, tớ không biết phải nói thế nào, nhưng tớ thực lòng cám ơn cậu về ngày hôm nay," Midori nói khi chia tay với tôi dưới sảnh tiếp tân.

"Tớ chẳng làm gì được mấy," tôi nói. "Nhưng nếu tớ có thể giúp cậu thì tuần sau tớ lại đến. Tớ muốn gặp lại ông cụ."

"Thật ư?"

"Thì ở học xá tớ cũng có làm gì đâu, mà đến đây thì lại còn được ăn dưa chuột."

Midori khoanh tay và giậm giậm gót chân xuống sàn nhà trải vải nhựa.

"Tớ thích đi uống rượu nữa với cậu," cô nói, hơi nghếch đầu.

"Thế còn phim con heo thì sao?"

"Mình sẽ xem phim trước rồi mới đi uống rượu. Và mình sẽ nói đủ mọi chuyện kinh tởm thông thường."

"Tớ không phải là người nói những chuyện kinh tởm," tôi phản đối. "Mà là cậu."

"Thôi được rồi, mình sẽ nói những chuyện như thế và đều máu lên rồi rủ nhau lên giường."

"Rồi cậu có biết chuyện gì sau đó không," tôi nói với một tiếng thở dài. "Tớ sẽ định làm chuyện ấy nhưng cậu nhất định không cho. Đúng không nào?"

Cô cười qua giọng mũi.

"Nhưng không sao," tôi nói, "đến đón tớ sáng Chủ nhật tới nhé. Mình sẽ cùng đến đây."

"Tớ sẽ mặc váy dài hơn một tí nhé?"

"Nhất định phải thế đấy," tôi nói.

Nhưng tôi không đến bệnh viện Chủ nhật sau đó. Bố Midori mất vào sáng thứ Sáu.

Cô gọi cho tôi lúc sáu rưỡi sáng để báo tin ấy.

Tiếng chuông cửa báo cho tôi biết có người gọi cho tôi và tôi chạy ù xuống sảnh đợi, chỉ kịp khoác một cái áo len ra ngoài bộ quần áo ngủ. Trời đang mưa âm thầm và rất lạnh.

"Bố tớ vừa đi được mấy phút," Midori nói với một giọng rất lặng lẽ và khẽ khàng. Tôi hỏi tôi có thể giúp gì được không. "Cám ơn," cô nói. "Thực chẳng có việc gì đâu. Bọn mình đã qucn việc tang ma rồi. Tớ chỉ muốn báo tin để cậu biết."

Tôi có thể nghe thấy tiếng thở dài bật ra ở đầu dây bên cô.

"Đừng đến đám ma nhé, ôkê! Tớ ghét thế lắm. Tớ không muốn thấy cậu ở đó."

"Tớ hiểu rồi, tôi nói.

"Cậu sẽ đưa tớ đi xem phim con heo thật chứ?"

"Tất nhiên rồi."

"Một phim thật kinh tởm chứ?"

"Tớ sẽ nghiên cứu vấn đề này thật kĩ"

"Tốt. Tớ sẽ gọi cho cậu," cô nói rồi gác máy.

Một tuần trôi qua và Midori vẫn biệt tăm. Không có cú điện thoại nào, cũng không thấy bóng dáng cô ở giảng đường. Lần nào trở về học xá tôi cũng mong có tin cô, mà chẳng có gì. Một đêm, tôi đã định giữ lời hứa sẽ nghĩ đến cô trong lúc thủ dâm, nhưng không ăn thua. Tôi cố chuyển sang nghĩ đến Naoko, nhưng ngay cả hình ảnh của Naoko cũng chẳng giúp gì được tôi lần ấy. Tôi cảm thấy nực cười và đành bỏ cuộc. Tôi nốc một ngụm whisky, đánh răng, rồi đi ngủ.

Sáng Chủ nhật tôi viết thư cho Naoko. Một chuyện tôi kể cho nàng nghe là chuyện ông bố của Midori. Mình đến bệnh viện thăm bố của một cô gái học cùng một lớp và ăn mấy quả dưa chuột trong phòng ông ấy. Lúc nghe tiếng mình nhai dưa, ông cụ cũng muốn ăn, và ăn quả dưa của ông ấy cũng rau ráu như thế. Nhưng năm ngày sau thì ông ấy chết. Mình vẫn nhớ như in cái tiếng rau ráu nho nhỏ của ông ấy lúc nhai dưa. Sau khi chết, người ta để lại những kí ức nho nhỏ lạ lùng về họ như thế đấy. Rồi tôi viết tiếp:

Mình nghĩ đến cậu và Reiko và nhà nuôi chim trong lúc vừa tỉnh dậy trên giường vào buổi sáng. Mình nghĩ đến con công, bầy bồ câu, lũ vẹt và mấy con gà tây - và cả bầy thỏ nữa. Mình nhớ những cái áo mưa vàng mà cậu và Reiko mặc có mũ chùm đầu buổi sáng trời mưa ấy. Thật dễ chịu khi nghĩ đến cậu lúc nằm ấm áp trên giường. Mình cảm thấy như cậu đang cuộn tròn bên cạnh và ngủ rất say. Và mình nghĩ giá được thế thì hay biết mấy.

Có đôi khi mình nhớ cậu kinh khủng, nhưng nói chung mình vẫn tiếp tục sống với tất cả sức lực có được của mình. Cũng như sáng nào cậu cũng chăm bầy chim và làm ruộng, sáng nào mình cũng lên bộ dây cót của mình. Hễ dậy một cái là mình vặn nó đủ ba mươi sáu vòng, nào đánh răng, cạo mặt, ăn sáng, thay quần áo, rồi ra khỏi khu học xá để đến trường. Mình tự nhủ, "Ôkê, hãy cứ làm cho ngày hôm nay thành một ngày tốt lành nữa đã nào." Trước đây mình không để ý, nhưng mọi người bảo với mình là dạn này mình rất hay nói một mình. Có lẽ đó là lúc mình đang lên dây cót chăng.

Không được gặp cậu thật khổ, nhưng cuộc sống của mình ở Tokyo sẽ còn khổ sở hơn nhiều nếu không có cậu. Chính vì nghĩ đến cậu mỗi sáng trên giường mà mình mới có thể lên dây cót cho mình và tự nhủ hãy sống thêm một ngày tốt lành nữa. Mình biết rằng mình phải cố gắng hết sức ở đây, cũng như cậu đang cố gắng ở nơi ấy.

Hôm nay Chủ nhật, và là ngày mình không lên dây cót. Mình vừa giặt giũ xong, và bây giở thì đang ngồi trong phòng viết thư cho cậu. Viết xong mình sẽ dán tem và đi bỏ nó vào thùng thư, và sẽ chẳng có gì phải làm nữa cho đến lúc mặt trời lặn xuống. Mình không học bài vào Chủ nhật. Trong tuần mình đã học trong thư viện giữa những giờ lên lớp đủ rồi và đến Chủ nhật thì chẳng còn gì phải làm nữa. Chiều Chủ nhật thật im ắng, yên bình, và với mình thì cũng thật cô liêu. Mình đọc sách hoặc nghe nhạc. Đôi khi mình nhớ lại những con đường khác nhau mà bọn mình thường lang thang trong những ngày Chủ nhật ở khắp chốn Tokyo. Mình có thể nhớ lại tương đối ro cả những bộ quần áo cậu đã mặc trong những chuyến đi ấy. Chiều Chủ nhật là lúc mình nhớ lại đủ thứ chuyện.

Cho mình gửi lời thăm Reiko. Mình thực sự nhớ tiếng ghi-ta của chị ấy vào ban đêm.

Viết xong lá thư, tôi đi bộ mấy đoạn phố đến một thùng thư, rồi vào cửa hàng bánh gần đó mua một chiếc bánh kẹp trứng và một hộp coca ăn thay bữa trưa trong lúc ngồi trên một chiếc ghế băng nhìn mấy đứa trẻ chơi bóng chày ở sân chơi bên cạnh. Mùa thu đang chín đã khiến bầu trời xanh hơn và thăm thẳm hơn. Tôi ngẩng lên và thấy hai dải khói máy bay trắng phau đang song song vạch ngang trời về phía Tây như một cặp ray tàu hoả. Một trái bóng đi chệch lăn đến chỗ tôi, và khi tôi ném nó lại cho bọn trẻ, chúng đều nhấc mũ và lễ phép nói "Cám ơn ông." Như hầu hết những trận bóng chày thiếu niên, tôi thấy bọn trẻ chạy qua chạy lại và để lỡ cơ hội rất nhiều.

Qua giờ trưa thì tôi trở về phòng đọc sách nhưng không thể tập trung nổi. Và tôi thấy mình chỉ dán mắt lên trần nhà và nghĩ đến Midori. Không biết bố cô có thực sự xin tôi hãy chăm sóc cô sau khi ông mất hay không. Tôi không có cách nào đoán được những ý nghĩ của ông. Có thể ông đã tưởng tôi là ai đó khác. Dù sao thì ông cũng đã ra đi vào một sáng thứ Sáu khi trời đang mưa lạnh, và bây giờ thì không thể biết được nữa rồi. Tôi tưởng tượng khi chết ông còn teo tóp đi nhiều nữa, và rồi họ đã thiêu ông trong lò cho đến lúc chẳng còn gì nữa ngoài mấy nhúm tro. Ông đã để lại những gì? Một hiệu sách tầm tầm trong một khu phố tầm tầm với hai cô con gái mà ít nhất là tôi biết có một cô còn hơn cả hơi là lạ một chút. Một cuộc đời kiểu gì vậy? Tôi tự hỏi. Khi nằm trên giường bệnh với cái đầu đã bị mổ toang và bộ óc mờ mịt, ông đã nghĩ gì khi nhìn tôi?

Nghĩ mãi những ý nghĩ như thế về bố Midori khiến tôi lâm vào tâm trạng khổ sở đến nỗi chưa tối tôi đã lên nóc nhà cất hết quần áo còn chưa khô xuống rồi đến Shinjuku lang thang đi bộ giết thời giờ. Những đám đông ngày Chủ nhật khiến tôi thấy nhẹ nhõm được một chút. Hiệu sách Kinokuniya đông nghẹt như một đoàn tàu giờ cao điểm. Tôi mua một cuốn Ánh sáng tháng Tám của Faulkner và tìm đến một tiệm cà-phê ồn ào nhất mà tôi biết, vừa đọc cuốn sách mới mua vừa nghe nhạc Ornette Coleman và Bud Powell và uống cà-phê nóng đặc quánh với mùi vị chẳng ra gì. Đến năm rưỡi thì tôi gập sách lại, ra ngoài ăn một bữa tối nhẹ. Còn bao nhiêu Chủ nhật, bao nhiêu trăm Chủ nhật nữa như thế này ở trước mặt tôi? "Im ắng, yên bình, và cô liêu," tôi nói to lên với chính mình. Tôi không lên dây cót vào những ngày Chủ nhật.
 

root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
5,106
Reaction score
125
Points
9,999
Chương 8
Giữa tuần lễ ấy thì tôi tự làm mình bị cứa đứt giữa lòng bàn tay vì một miếng kính vỡ. Tôi đã không để ý có một tấm kính vỡ trên giá đĩa hát. Tôi không thể tin sao mình lại có thể chảy nhiều máu đến thế, đỏ ối cả sàn nhà dưới chân. Ông chủ tiệm lấy mấy cái khăn bông buộc chặt quanh vết thương. Rồi ông gọi điện đến dịch vụ cứu thương. Bình thường thì ông ta là một gã vô tích sự, thế mà lúc ấy ông ta hành động rất hiệu quả. Cũng may là bệnh viện ở gần đó, nhưng khi tôi đến được nơi thì khăn buộc đã sũng hết cả và máu cứ thế rỏ cả xuống lối đi. Mọi người dạt ra nhường đường cho tôi. Có vẻ họ tưởng tôi bị thương vì đánh nhau. Tôi không thấy gì gọi là đau, nhưng máu thì không cầm lại được.

Ông bác sĩ vẫn tỉnh bơ khi tháo khăn buộc sũng máu ra, dùng garô thắt chặt cố tay tôi để cầm máu, khử trùng vết thương rồi khâu lại, và dặn tôi hôm sau lại đến.

Về đến tiệm thì ông chủ bảo tôi về nhà nghỉ, ông ấy sẽ vẫn chấm đủ ngày công. Tôi lấy xe buýt về học xá và đến thẳng phòng của Nagasawa. Vẫn còn căng thẳng vì vết thương, tôi rất muốn có ai để nói chuyện, và cũng lâu rồi tôi chưa gặp Nagasawa.

Tôi thấy hắn trong phòng, đang uống một hộp bia và xem chương trình dạy tiếng Tây Ban Nha trên TV.

"Chuyện quái gì xảy ra với cậu thế?" Hắn hỏi khi thấy chỗ băng bó của tôi. Tôi bảo bị đứt tay nhưng không có gì nghiêm trọng cả. Hắn mời tôi bia nhưng tôi bảo thôi cảm ơn.

"Đợi tớ tí! Một phút nữa là xong thôi," Nagasawa nói, và tiếp tục tập phát âm tiếng Tây Ban Nha. Tôi đun ít nước và pha cho mình một cốc trà gói. Một bà Tây Ban Nha đang đọc to những câu mẫu: "Tôi chưa bao giờ thấy mưa khung khiếp thế?" "Nhiều cây cầu đã bị cuốn trôi ở Barcelona." Nagasawa đọc to theo. "Câu với chả cú!" Hắn nói. "Họ chỉ biết nhồi cho mình những đồ cứt này."

Khi chương trình đã hết, hắn tắt TV và lấy một hộp bia nữa ở trong cái tủ lạnh nhỏ của hắn.

"Thật là tớ không làm phiền cậu chứ?" Tôi hỏi.

"Làm gì có chuyện ấy. Tớ đang buồn đến phát điên. Cậu nhất định không uống bia à?"

"Ừ, tớ không uống đâu," tôi nói.

"À này, hôm trước họ đã niêm yết kết quả thi rồi đấy. Tớ đỗ rồi!"

"Cuộc thi vào Bộ Ngoại giao ấy à?"

"Đúng thế. Chính thức nó gọi là "Thi tuyển Cán bộ Công vụ Hạng Nhất ngành Ngoại Giao". Thật nực cười!"

"Xin chúc mừng?" Tôi nói và đưa bàn tay trái ra bắt tay hắn.

"Cám ơn!"

"Tất nhiên tớ chẳng ngạc nhiên khi thấy cậu đỗ đâu"

"Ô tớ cũng vậy," Nagasawa cười. "Nhưng chính thức rồi vẫn thấy khoái."

"Cậu sẽ ra hải ngoại ngay khi vào chương trình chứ?"

"Chưa đâu, trước hết họ bắt qua một năm huấn luyện đã. Rồi mới cử ra nước ngoài một thời gian."

Tôi nhấp nháp nước trà, trong khi hắn uống bia với vẻ thoả mãn ra mặt.

"Tớ sẽ cho cậu cái tủ lạnh này nếu cậu thích lúc tớ đi khỏi đây," Nagasawa nói. "Cậu thích nó chứ, phải không nào" Để bia thì tuyệt vời đấy."

"Ờ, tớ thích đấy, nhưng cậu không cần đến nó à? Cậu cũng phải sống trong một căn hộ hay gì chứ?"

"Đừng có ngốc thế! Khi thoát khỏi nơi này, tớ sẽ mua cho mình một cái tủ lạnh bự. Tớ sẽ sống đời sang trọng đấy! Bốn năm ở cái chuồng chồ này là quá đủ rồi. Tớ sẽ không còn muốn nhìn thấy bất kì thứ gì tớ đã dùng ở đây nữa. Cậu thích gì tớ cũng cho cậu tất - TV, phích, đài…"

"Tớ sẽ lấy tất những gì cậu cho tớ," tôi nói. Tôi nhặt cuốn giáo khoa tiếng Tây Ban Nha trên bàn lên và nhìn nó chằm chằm. "Cậu bắt đầu học tiếng Tây Ban Nha à?"

"Ờ. Biết càng nhiều ngoại ngữ càng tốt. Mà tớ có khiếu học tiếng lắm. Tớ tự học tiếng Phảp mà có thể nói là hoàn hảo ra phết. Ngôn ngữ cũng như trò chơi. Học được quy luật của một trò là biết chơi các trò khác ngay. Cũng như đàn bà."

"Á a…, biết suy tư đấy!" Tôi nói, hơi có giọng giễu nhại.
"Mà này, mình sẽ sớm đi ăn với nhau nhé."

"Cậu muốn nói là đi mò gái hả?"

"Không, đi ăn tối hẳn hoi. Cậu, tớ, và Hatsumi, ở một tiệm ăn hảo hạng. Để mừng nghề mới của tớ. Ông già tớ sẽ trả tiền, nên mình sẽ đến một chỗ nào đó thật đắt"

"Có lẽ chỉ nên có cậu với Hatsumi thôi."

"Không. Cả cậu nữa thì hay hơn. Tớ sẽ thấy thoải mái hơn, và cả Hatsumi cũng vậy."

Trời đất, lại như Kizuki, Naoko với tôi nữa đây!

"Sau đó tớ sẽ qua đêm ở chỗ Hatsumi, nên cậu chuẩn bị chỉ ăn tối với bọn tớ thôi nhá."

"Ôkê, nếu cả hai các cậu đều muốn thế," tôi nói.

"Nhưng này, cậu sẽ dự định thế nào về Hatsumi? Cậu sẽ được thuyên chuyển ra hai ngoại sau khi kết thúc huấn luyện, và có thể sẽ đi vắng hàng nhiều năm liền. Cô ấy sẽ ra sao?"

"Đấy là vấn đề của cô ấy."

"Tớ không hiểu," tôi nói.

Chân gác lên bàn, Nagasawa nốc một ngụm bia rồi ngáp dài.

"Nghe này, tớ không có dự định lấy vợ. Tớ đã nói rất rõ chuyện này với Hatsumi. Nếu cô ấy muốn lấy ai đó thì cứ việc. Tớ sẽ không can. Nếu cô ấy muốn đợi tớ, thì cứ để cô ấy đợi. Tớ muốn nói vậy đấy."

"Tớ phải tra thì cậu mới nói đấy chứ," tôi bảo.

"Cậu nghĩ tớ là đồ cứt, phải không?"

"Phải."

"Nghe đây, thế giới là một chốn bất công cố hữu. Tớ không bày ra luật lệ. Nó vẫn như thế từ lâu rồi. Tớ chưa hề lừa dối Hatsumi một lần nào. Cô ấy biết tớ là đồ cứt và biết cô ấy có thể bỏ tớ bất cứ lúc nào cô ấy thấy không thể chịu nổi nữa. Ngay từ đầu tớ đã nói thẳng với cô ấy như thế."

Nagasawa uống nốt chổ bia rồi châm một điếu thuốc lá.

"Trên đời này không có gì làm cậu sợ ư?" tôi hỏi.

"Ê, tớ không phải là một thằng hoàn toàn ngu ngốc," Nagasawa nói. "Tất nhiên là cuộc đời đôi khi có làm tớ sợ hãi. Nhưng tớ không tự nhiên coi sợ hãi là tiền đề của mọi chuyện. Tớ sẽ sống hết mình một trăm phần trăm và hết sức đi thật xa. Tớ sẽ lấy cái tớ muốn và bỏ cái tớ không muốn. Tớ định sống như vậy đấy, còn nếu mọi chuyện chẳng ra sao thì tớ sẽ dừng lại và xem xét sau. Nếu nghĩ cho kĩ, ta sẽ thấy là xã hội bất công là một xã hội có thể tạo điều kiện cho ta khai thác hết những năng lực của mình."

"Nghe có vẻ là một cách sống hơi vị kỉ," tôi nói.

"Có lẽ thế, nhưng tớ không muốn chỉ nhìn trời và đợi quả rụng. Bằng cách riêng của mình, tớ đang làm việc cật lực. Tớ làm việc còn gấp mười lần cậu."

"Cái đó có vẻ đúng thật," tôi nói.

"Đôi khi tớ nhìn quanh và thấy phát buồn nôn. Vì lí do quái gì mà lũ mất dạy này không chịu làm một việc gì đó đi nhỉ? Tớ tự hỏi thế. Chúng không làm một việc mẹ gì hết, và rồi chúng lại rên rỉ vì chuyện ấy."

Rất ngạc nhiên vì giọng điệu gay gắt của Nagasawa, tôi nhìn hắn và nói: "Theo cách nhìn của tớ thì mọi người đều làm việc cật lực cả đấy chứ. Họ làm đến nát xương lòi da còn gì. Hay là tớ nhìn nhầm?"

"Đấy không phải là làm việc cật lực. Đấy chỉ là lao lực chân tay," Nagasawa nói bằng một giọng khẳng định không thể tranh cãi được. "Cái làm việc cật lực mà tớ nói đến nó chủ động và có tính mục đích mạnh mẽ hơn."

"Cậu muốn nói là, như việc học tiếng Tây Ban Nha trong lúc mọi người khác đều tà tà ư?"

"Đúng thế? Tớ sẽ thành thạo tiếng Tây Ban Nha vào mùa xuân sang năm. Tớ đã học xong tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Đức, và sắp xong tiếng Ý. Cậu cho rằng những cái như thế có được mà không phải làm việc cật lực ư?"

Nagasawa rít thuốc lá trong lúc tôi nghĩ đến bố Midori. Có một người có lẽ đã chưa từng bao giờ nghĩ đến chuyện học tiếng Tây Ban Nha trên TV. Và có lẽ ông cũng chưa từng bao giờ nghĩ đến cái khác nhau giữa làm việc cật lực và lao lực chân tay. Có lẽ ông đã quá bận rộn không thể nghĩ đến những chuyện như thế - bận công việc, và bận đi tìm đứa con gái đã bỏ nhà chạy đến tận Fukushima.

"Này, về bữa ăn tối của chúng mình ấy mà," Nagasawa nói.

"Liệu thứ Bảy này có ôkê với cậu không?"

"Ôkê," tôi nói.

Nagasawa chọn một tiệm ăn Pháp sang trọng trong một phố nhỏ yên tĩnh trong khu Azabu. Hắn xưng tên ở cửa và hai chúng tôi được dẫn vào một phòng riêng kín đáo.

Có mười lăm bức tranh in treo trên tường trong gian phòng nhỏ ấy. Trong lúc đợi Hatsumi, Nagasawa với tôi nhấp nháp rượu vang hảo hạng và tán dóc về những tiểu thuyết của Joseph Conrad. Hắn vận một bộ com-lê xám trông rất đắt tiền. Tôi vẫn mặc cái áo tây bình thường màu xanh nước biển.

Mười lăm phút sau thì Hatsumi đến. Cô trang điểm cẩn thận và đeo hoa tai vàng, mặc một bộ váy áo xanh nước biển xẫm rất đẹp, với một đôi giày đỏ rất có duyên.

Khi tôi khen bộ đồ của cô, Hatsumi bảo tôi đó là màu xanh nửa đêm.

"Nhà hàng này lịch sự quá?" Cô nói.

"Mỗi khi về Tokyo ông già tớ đều đến ăn ở đây," Nagasawa nói. "Tớ đã đến đây với ông ấy một lần. Tớ cũng chẳng mấy say mê những chỗ điệu đà thế này đâu."

"Lâu lâu được ăn ở một chỗ như thế này cũng chẳng sao," Hatsumi nói. Quay sang tôi, cô hỏi, "Cậu có đồng ý không?"

"Chắc là có. Nếu tớ không phải trả tiền."

"Ông già tớ thường mang bà nhân tình của ông ấy đến đây," Nagasawa nói. "Ông ấy có một bà ở Tokyo, các cậu biết không."

"Thật à?" Hatsumi hỏi.

Tôi nhấp một ngụm vang và làm như không nghe thấy gì.

Cuối cùng một người hầu bàn đến để chúng tôi gọi món.

Sau khi chọn món khai vị và súp, Nagasawa kêu món vịt còn Hatsumi và tôi gọi cá vược biển. Các món được dọn ra rất đủng đỉnh để chúng tôi còn có thì giờ thưởng thức rượu vang và chuyện trò. Nagasawa nói trước hết về cuộc thi tuyển của Bộ Ngoại giao. Hắn nói hầu hết thí sinh đều là hạng cặn bã đáng ném xuống vực thẳm cả, mặc dù cũng có thể có vài đứa đàng hoàng trong số đó. Tôi hỏi hắn tỉ lệ xấu tốt trong đám đó so với ngoài xa hội thì thế nào.

"Cũng rứa cả thôi," hắn đáp. "Tất nhiên rồi". Chỗ nào và ở đâu cũng vậy hết, hắn nói thêm: đó là một qui luật không thay đổi được.

Nagasawa gọi thêm một chai vang nữa với một suất đúp whisky cho riêng hắn.

Sau đó Hatsumi bắt đầu nói đến một cô gái mà cô muốn gán ghép cho tôi. Đây là chủ đề muôn thuở mỗi khi ba chúng tôi gặp nhau. Lần nào cô cũng nói với tôi về một "cô gái xinh lắm ở cùng câu lạc bộ với tớ", và lần nào tôi cũng chạy mất dép.

"Nhưng cô này thì hay thật cơ, và cũng xinh thật là xinh. Lần sau tớ sẽ đem cô ta đi cùng. Tớ chắc thể nào cậu cũng phải thích cô ấy."

"Chỉ phí thời gian thôi, Hatsumi à," tôi bảo. "Tớ quá nghèo không thể đánh đu được với những cô ở trường đại học của cậu đâu. Tớ không thể chuyện trò gì được với họ."

"Đừng có ngốc thế," cô nói. "Cô này giản dị và tự nhiên lắm, chẳng điệu bộ tí nào."

"Thôi nào, Watanabe," Nagasawa nói. "Thì cứ gặp nó cái đã. Cậu có phải dùi nó ngay đâu mà lo."

"Này này, tớ nghĩ chuyện ấy thì không nên đâu nhé," Hatsumi nói, "Con bé vẫn đồng trinh mà."

"Cũng như em ngày xưa," Nagasawa nói.

"Chính xác," Hatsumi nói với một nụ cười rạng rỡ. "Như tớ ngày xưa vậy. Nhưng thật đấy" cô nói với tôi, "đừng có nói với tớ cái giọng "quá nghèo" nữa đi. Chuyện ấy chẳng có liên quan gì ở đây cả. Đúng là năm học nào cũng có một ít bọn siêu-kênh-kiệu, nhưng ngoài ra thì bọn tớ đều bình thường cả thôi. Tất cả chúng tớ đều ăn ở nhà ăn tập thể môi suất có hai trăm rưỡi Yên…"

"Gượm đã Hatsumi," tôi nói, cắt ngang lời cô. "Ở trường tớ nhà ăn có ba loại suất ăn trưa: A, B, và C. Suất A là một trăm hai mươi Yên, suất B một trăm Yên, và suất C có tám mươi Yên thôi. Mọi người đều hằn học nhìn tớ mỗi khi tớ ăn suất A, còn ai không đủ tiền ăn suất C thì chén mì ăn liền sáu mươi Yên một bát. Tớ học ở một nơi như vậy đấy. Cậu còn nghĩ tớ có thể nói chuyện với đám con gái ở trường cậu nữa hay thôi?"

Hatsumi cười phá ra và mãi mới nín lại được. "Rẻ đến thế cơ à!" Cô nói. "Có khi tớ phải đến đó ăn trưa mất thôi! Nhưng nói thật đấy, Toru à, cậu là một anh chàng hay thế nên tớ tin cậu sẽ hợp với cô này. Có thể cô ta còn thích bữa trưa một trăm hai mươi Yên nữa cũng nên."

"Không có chuyện đó đâu," tôi cười. "Không ai ăn cái của ấy vì thích cả; họ ăn nó vì không có khả năng ăn cái gì khác."

"Nhưng thôi," Hatsumi nói, "đừng nhìn bìa mà đánh giá sách. Đúng là chúng tớ học ở cái trường kênh kiệu điệu đà ấy, nhưng rất nhiều người chúng tớ vẫn là những người nghiêm chỉnh biết suy nghĩ nghiêm chỉnh về cuộc đời Không phải ai cũng tìm bồ trai có xe ôtô thể thao đâu."

"Hẵng cứ biết thế," tôi nói.

"Watanabe có một cô rồi. Hắn đang yêu," Nagasawa nói. "Nhưng hắn không nói một lời nào về cô ấy cả. Hắn im như thóc. Một câu đố gói trong bí hiểm."

"Thật thế ư?" Hatsumi hỏi tôi.

"Thật," tôi nói. "Nhưng chẳng liên quan đến câu đố nào cả. Chỉ vì nó rắc rối, và cũng khó nói, vậy thôi."

"Một mối tình vụng trộm à? Ối giời ơi? Cậu có thể kể với tớ!"

Tôi nhấp một ngụm rượu vang để khỏi phải trả lời.

"Thấy chưa?" Nagasawa nói, đang uống cốc whisky thứ ba của hắn. "Im như thóc. Khi thằng cha này đã định không nói gì thì không ai có thể cậy răng hắn."

"Xấu hổ chưa," Hatsumi nói trong khi cắt một miếng patê mỏng đưa lên miệng. "Giá cậu công khai được với cô ấy có phải là chúng mình đi chơi tay bốn được không."

"Ờ, và chúng mình sẽ uống say rồi đổi bồ với nhau một tí," Nagasawa nói.

"Thôi đừng nói kiểu ấy nữa đi," Hatsumi nói.

"Thế nào là "nói kiểu ấy"? Watanabe chẳng để mắt đến cô là gì?" Nagasawa nói.

"Chuyện ấy chẳng liên quan gì đến điều em đang nói," Hatsumi lí nhí. "Cậu ấy không phải loại người như thế. Cậu ấy trung thực và chân tình. Em biết chứ. Nên em mới cố tìm bạn cho cậu ấy."

"Vâng, cậu chàng trung thực. Như cái lần tụi mình đổi gái với nhau ngày trước ấy phải không Watanabe?"

Nagasawa nói với một vẻ mặt chán chường, rồi nốc cạn chỗ whisky còn lại và gọi một cốc khác.

Hatsumi đặt dao dĩa xuống và dùng khăn ăn chấm chấm lên miệng. Sau đó, cô vừa nhìn tôi vừa hỏi "Toru, cậu có làm thế thật à?"

Tôi không biết trả lời cô thế nào, đành không nói gì.

"Nói cho cô ấy biết đi," Nagasawa nói. "Có cái quái gì đâu."

Không khí trở nên khó chịu. Nagasawa có thể rất xấu tính lúc say rượu, nhưng đêm nay thì hắn đang chĩa tính xấu ấy vào Hatsumi chứ không phải vào tôi. Biết thế rồi, tôi thấy mình rất khó ngồi mãi ở đó.

"Tớ muốn nghe chuyện ấy," Hatsumi nói. "Có vẻ rất thú vị đây."

"Bọn tớ đều say cả," tôi nói.

"Không sao, Toru. Tớ không trách móc gì cậu đâu. Tớ chỉ muốn cậu kể cho tớ biết chuyện gì đã xảy ra."

"Hai đứa tớ đang uống rượu trong một quán bar ở Shinjuku, và bọn tớ làm quen với một cặp gái ở đó. Chúng cũng là sinh viên đại học, và cũng đang hứng tình như chúng tớ. Thế rồi thì là, chúng tớ, cả bọn rủ nhau đến một khách sạn và ngủ với nhau. Hai phòng liền vách. Đến nửa đêm thì Nagasawa gõ cửa phòng tớ và bảo hai thằng nên đổi gái cho nhau, thế là tớ sang phòng hắn và hắn sang phòng tớ."

"Mấy cô gái có phản đối không?"

"Không, họ cũng say cả."

"Nhưng mà tớ có lí do chính đáng để làm thế," Nagasawa nói.

"Lí do chính đáng ư?"

"Thế này nhé, hai đứa con gái ấy rất khác nhau. Một đứa thì thật đẹp, còn đứa kia thì xấu như ma lem. Tớ thấy thế không công bằng. Tớ đã cặp luôn với đứa đẹp còn Watanabe thì chết kẹt với đứa kia. Đấy là lí do tại sao hai thằng phải đổi lại cho nhau. Đúng chưa hả, Watanabe?"

"Ờ, chắc là thế," tôi nói. "Nhưng thực tế là tôi lại thích cái cô xấu xí hơn. Cô ta nói chuyện có duyên và là một người tốt. Sau khi làm tình, chúng tôi đang thích thú nằm nói chuyện trên giường thì Nagasawa xuất hiện và đề nghị đổi bạn tình. Tôi hỏi cô gái có chịu không, và cô ta nói nếu chúng tôi muốn thế thì cô ấy cũng ôkê. Có thể cô ấy đã tưởng tôi muốn làm một chầu với cô đẹp gái kia.

"Cậu có vui không?" Hatsumi hỏi tôi.

"Cậu hỏi chuyện đổi chác ấy à?"

"Tất cả."

"Cũng chẳng có gì vui lắm. Chỉ là cái gì đó mình phải làm vậy thôi. Ngủ nghê kiểu ấy thì cũng chẳng vui thú gì nhiều."

"Thế sao cậu vẫn làm thế?"

"Là vì anh đây," Nagasawa nói.

"Em đang nói chuyện với Toru," Hatsumi vặc lại Nagasawa. "Tại sao cậu lại làm một việc như thế?"

"Vì đôi khi tớ thèm được ngủ với một cô gái khủng khiếp"

"Nếu cậu đang yêu ai đó, chẳng nhẽ cậu không thể đến với cô ấy cách này hay cách khác ư?"

"Nó phức tạp lắm."

Hatsumi thở dài.

Đúng lúc đó cửa phòng mở ra và người ta đem thức ăn vào. Nagasawa có cả một con vịt quay, còn Hatsumi và tôi có món cá vược biển. Mấy người hầu bàn xếp rau vừa luộc chín tới lên đĩa chúng tôi, rưới nước xốt lên chúng rồi rút lui ra khỏi phòng. Nagasawa cắt một lát thịt vịt và ăn ngấu nghiến, rồi lại uống whisky. Tôi cho lên miệng cả một gắp đầy rau spinach. Hatsumi không động đến đồ ăn của cô.

"Cậu biết không, Toru," cô nói, "tớ không biết cái gì khiến cho chuyện của cậu lại rắc rối đến vậy, nhưng tớ vẫn nghĩ loại chuyện như cậu vừa kể là không đúng với cậu. Cậu không phải là loại người như thế. Cậu nghĩ sao?" Cô đặt cả hai tay lên bàn và nhìn vào mắt tôi.

"Nói thật," tôi nói, "Đôi khi tớ cũng tự cảm thấy như vậy."

"Thế tại sao cậu không dừng lại được?"

"Bởi vì nhiều lúc tớ rất thèm mùi người ấm áp," tôi chân thành đáp. "Có những lúc, nếu tớ không có được cái ấm áp như của da thịt đàn bà, tớ thấy cô đơn đến mức không thể chịu nổi."

"Đây này, để anh tóm tắt tất cả những chuyện ấy theo cách hiểu của anh nhé," Nagasawa chen vào.

"Watanabe hắn có cô gái mà hắn thích, nhưng vì một số lí do rắc rối nào đó, hai đứa không thể làm chuyện ấy được. Thế là hắn tự nhủ "Tình dục là tình dục", và liền thoả mãn nhu cầu của mình với người khác. Thế thì có gì sai nào? Hoàn toàn hợp lí là đằng khác. Hắn không thể chỉ ở trong phòng và thủ dâm suốt ngày được, phải không nào?"

"Nhưng nếu cậu thực sự yêu cô ấy, Toru, liệu cậu có thể tự kiềm chế được không?"

"Cũng có thể," tôi nói, đưa một miếng cá vược có xốt kem lên miệng.

"Cô chẳng hiểu gì về nhu cầu tình dục của đàn ông," Nagasawa nói với Hatsumi. "Cứ xem tôi đây này. Tôi đã cặp với cô ba năm nay rồi, và trong thời gian đó tôi cũng ngủ với khối đàn bà. Nhưng tôi chẳng nhớ mẹ gì về họ hết. Tôi không biết tên họ, tôi không nhớ mặt mũi họ ra sao. Tôi chỉ ngủ với mỗi người đúng một lần thôi. Gặp, rồi làm chuyện đó, rồi vĩnh biệt. Có thế thôi. Thế thì có gì là sai nào?"

"Cái mà tôi không thể chịu được là thái độ ngạo mạn của anh," Hatsumi nói bằng giọng nhẹ nhàng. "Anh có ngủ với đàn bà khác hay không chẳng có liên quan gì trong chuyện này. Tôi cũng chưa bao giờ thật sự giận anh vì chuyện anh ngủ lang như thế, phải không nào?"

"Cô không thể gọi việc tôi làm là ngủ lang được. Đó chỉ là một trò chơi. Chẳng ai bị tổn thương cả?" Nagasawa nói.

"Tôi bị tổn thương chứ," Hatsumi nói. "Tôi không đủ với anh sao?"

Nagasawa giữ im lặng một lúc và lắc tròn cốc whisky trong tay.

"Không phải chuyện cô không đủ với tôi. Đó là một giai đoạn khác, một vấn dề khác. Mà là cái thèm khát trong con người của tôi kia. Nếu tôi đã làm cô tổn thương thì tôi xin lỗi. Nhưng nó không phải chuyện cô có đủ cho tôi hay không. Tôi không thể sống với nỗi thèm khát ấy. Con người tôi nó vậy. Đó là cái làm cho tôi chính là tôi. Tôi không thể làm gì được, cô có thấy không?"

Cuối cùng Hatsumi cầm dao dĩa lên và bắt đầu ăn món cá vược của mình. "Ít ra thì anh cũng không nên lôi kéo Toru vào những trò chơi ấy của anh."

"Nhưng chúng tôi có nhiều cái giống nhau, Watanabe và tôi," Nagasawa nói. "Cả hai chúng tôi đều không quan tâm đến bất kì chuyện gì khác ngoài bản thân mình, nói tóm lại là vậy. Ôkê, thì tôi ngạo mạn còn hắn thì không, nhưng cả hai chúng tôi đều chỉ có khả năng cảm thấy thú vị về những cái mà chính mình suy nghĩ, cảm xúc và tạo tác. Chính vì thế mà chúng tôi có thể suy nghĩ về mọi chuyện một cách hoàn toàn khác biệt với mọi người. Đó là cái tôi thích ở hắn. Chỉ có một cái khác nhau là hắn còn chưa nhận thức được chính mình, và do vậy mà hắn còn lưỡng lự và vẫn còn bị tổn thương."

"Có con người nào mà không lưỡng lự và không bị tổn thương" Hatsumi chất vấn. "Có phải anh đang nói rằng bản thân anh chưa bao giờ cảm thấy những cái đó?"

"Tất nhiên là có, nhưng tôi đã rèn luyện mình đến mức có thể hạn chế chúng đến tối đa. Ngay cả chuột cũng sẽ chọn con đường ít đau đớn nhất nếu ta làm nó choáng váng đủ độ."

"Nhưng chuột không biết yêu?"

"Chuột không biết yêu," Nagasawa nhìn sang tôi. "Hay tuyệt! Chúng ta nên có nhạc nền cho câu nói này - một dàn nhạc đầy đủ với hai cây thụ cầm và…"

"Đừng có chế giễu tôi. Tôi nói nghiêm chỉnh đấy."

"Chúng ta đang ăn mà, Nagasawa nói. "Và Watanabe đang ở đây. Có lẽ sẽ lịch sự hơn nếu hai ta để dành câu chuyện nghiêm chỉnh ấy cho một dịp khác.

"Tớ có thể về," tôi bảo.

"Không được," Hatsumi nói. "Xin cậu hãy ở lại. Có cậu ở đây thì tốt hơn."

"Ít nhất cũng ăn tráng miệng đã," Nagasawa nói.

"Tớ thế nào cũng được mà, thật đấy."

Ba chúng tôi im lặng ăn một lúc lâu. Tôi ăn hết món cá của mình. Hatsumi bỏ mứa một nửa. Nagasawa đã chén sạch món vịt của hắn từ lâu và đang tập trung vào whisky.

"Món cá vược tuyệt lắm," tôi lên tiếng, nhưng không ai buồn tiếp lời. Giống như tôi vừa ném một viên sỏi xuống giếng sâu vậy.

Mấy người hầu bàn dọn đĩa đi và mang vào nước chanh ép ướp lạnh và cà-phê vào. Nagasawa hầu như không động đến món tráng miệng với cà-phê, mà lấy luôn thuốc lá ra hút. Hatsumi phớt lờ món nước chanh.

"Thế là chết rồi," tôi nghĩ thầm trong lúc uống hết phần nước chanh và cà-phê của mình. Hatsumi dán mắt vào hai bàn tay cô đặt trên bàn. Cũng như mọi thứ trên người cô, hai bàn tay ấy trông sành điệu, thanh lịch và đắt tiền. Tôi nghĩ đến Naoko và Reiko. Bây giờ họ đang làm gì? tôi tự hỏi. Naoko có lẽ đang nằm trên sô-pha đọc sách, còn Reiko có lẽ đang chơi bài "Rừng Na-uy" bằng ghi-ta. Tôi cảm thấy một thèm khát mãnh liệt được trở lại gian phòng nhỏ ấy của họ. Tôi đang làm cái quái gì ở đây thế này?

"Cái giống nhau giữa Watanabe và tôi là ở chỗ chúng tôi chẳng thèm bận tâm cái cứt gì nếu không có ai hiểu mình," Nagasawa nói. "Đó là cái khiến chúng tôi khác với mọi người. Tất cả bọn họ đều lo không biết mọi người xung quanh có hiểu họ hay không. Tôi thì không thế, và Watanabe cũng vậy. Chúng tôi coi chuyện đó như cứt. Bản ngã và tha nhân là cách biệt."

"Có thật thế không?" Hatsumi hỏi tôi.

"Không," tôi nói. "Tớ không mạnh mẽ thế đâu. Tớ không thấy ôkê nếu chẳng có ai hiểu mình. Tớ có những người mà tớ muốn hiểu và được họ hiểu mình. Nhưng ngoài vài người ấy ra, thì nói thật, tớ cảm thấy như tuyệt vọng hoàn toàn. Tớ không đồng ý với Nagasawa. Tớ có quan tâm đến việc được người khác hiểu mình."

"Điều đó thực ra cũng chính là điều tôi vừa nói," Nagasawa nói, tay nhặt cái thìa khuấy cà-phê lên. "Hệt như nhau! Chỉ là sự khác nhau giữa một bữa điểm tâm muộn và một bữa trưa sớm. Thời gian như nhau, thức ăn giống nhau, chỉ khác có cái tên."

Bây giờ thì Hatsumi nói với Nagasawa. "Anh có quan tâm đến việc tôi có hiểu anh hay là không?"

"Cô vẫn chưa hiểu, phải không nào?" Người A hiểu người B bởi vì đã đến đúng thời điểm để chuyện đó diễn ra, chứ không phải vì người B muốn được người A hiểu mình."

"Như vậy là tôi sai lầm khi cảm thấy tôi muốn ai đó hiểu mình - ví dụ là anh chẳng hạn"

"Không, đó không phải là sai lầm," Nagasawa đáp. "Hầu hết mọi người sẽ gọi đó là tình yêu, nếu cô nghĩ cô muốn hiểu tôi. Hệ thống sống của tôi khác hẳn với những hệ thống sống của mọi người."

"Như vậy điều anh đang nói có nghĩa là anh không yêu tôi, có phải thế không?"

"Thế này nhé, hệ thống của tôi và hệ thống của cô…"

"Vứt mẹ cái hệ thống mắc dịch của anh đi!"

Hatsumi quát lớn. Đó là lần đầu và cũng là lần cuối cùng tôi nghe cô quát lớn như vậy.

Nagasawa bấm nút chuông cạnh bàn, và người hầu bàn trở lại với giấy tính tiền. Nagasawa đưa cho ông ta cái thẻ tín dụng.

"Xin lỗi vì chuyện này, Watanabe," Nagasawa nói.

"Tớ sẽ đưa Hatsumi về nhà. Cậu đi một mình về khu học xá nhé, được không?"

"Cậu không phải xin lỗi tớ làm gì. Bữa ăn ngon tuyệt," tôi nói, nhưng chẳng ai đáp lại câu nào.

Người hầu bàn đem cái thẻ tín dụng và hoá đơn tới, và Nagasawa dùng bút bi kí vào đó sau khi đã kiểm tra số tiền. Sau đó ba chúng tôi đứng dậy và ra khỏi quán.

Nagasawa định bước xuống phố vẫy taxi nhưng Hatsumi ngăn anh ta lại.

"Cám ơn, nhưng hôm nay tôi không muốn ở cạnh anh thêm một tí nào nữa. Anh không phải đưa tôi về nhà đâu. Cám ơn về bữa tối."

"Thế nào cũng xong," Nagasawa nói.

"Tôi muốn Toru đưa tôi về nhà."

"Thế nào cũng xong," Nagasawa nói. "Nhưng Watanabe thực tế chẳng khác gì tôi. Hắn có thể là một anh chàng hay đấy, nhưng tận đáy lòng hắn cũng không thể yêu ai được đâu. Lúc nào hắn cũng có một phần ở đâu đó rất tỉnh táo và hoàn hoàn xa lánh. Và hắn cũng bị cái thèm khát kia giày vò khôn nguôi. Cứ tin tôi đi, tôi biết mình đang nói gì mà."

Tôi vẫy một cái taxi và để Hatsumi lên xe trước.

"Thôi được rồi," tôi nói với Nagasawa, "Tớ cam đoan sẽ đưa cô ấy về tận nhà."

"Xin lỗi đã đưa cậu vào chuyện này," Nagasawa nói, nhưng tôi có thể thấy là hắn đã đang nghĩ sang chuyện khác rồi.
Khi đã ngồi trong xe, tôi hỏi Hatsumi, "Cậu muốn đi đâu? Về Ebisu nhé". Căn hộ của cô ở Ebisu.

Cô lắc đầu.

"Ôkê. Thế đi uống ở đâu đã nhé!"

"Ờ" cô gật đầu.

"Đến Shibuya," tôi bảo lái xe.

Khoanh tay và nhắm mắt, Hatsumi ngồi lọt thỏm vào góc ghế. Bộ hoa tai vàng của cô phản chiếu ánh đèn và lấp lánh khi chiếc xe lượn qua lượn lại. Bộ đồ màu xanh nửa đêm của cô có vẻ như đã được thửa riêng để hoà hợp với bóng tối ở trong xe. Thỉnh thoảng, cặp môi tuyệt đẹp được trang điểm nhẹ nhàng của cô lại hơi rung rung như thể cô sắp sửa nói điều gì đó với chính mình.

Ngắm nhìn cô, tôi có thể thấy tại sao Nagasawa đã chọn cô làm bạn đồng hành đặc biệt. Không thiếu những người đàn bà còn đẹp hơn Hatsumi, và Nagasawa có thể cặp với bất kì ai mà hắn muốn. Nhưng Hatsumi có một phẩm chất gì đó có thể làm rung động đến tận đáy lòng ta. Nó không khiên cưỡng tí nào. Cái sức mạnh của cô là một thứ tinh tế, nhưng nó gây nên những cộng hưởng sâu thẳm. Tôi ngắm nhìn cô suốt quãng đường đến Shibuya và tự hỏi mà vẫn không tìm được câu trả lời, rằng cái rung động tình cảm mà tôi đang trải nghiệm ấy có thể là cái gì?

Hàng chục năm sau tôi mới tìm thấy câu trả lời ấy. Lúc ấy tôi đến Santa Fe phỏng vấn một hoạ sĩ và đang ngồi trong một tiệm pizza địa phương, uống bia, ăn pizza và ngắm vẻ đẹp thần tiên của cảnh chiều tà ở đó. Mọi vật thấm đậm một màu đỏ rực - bàn tay tôi, cái đĩa, cái bàn, toàn thế giới như thể một thứ nước quả gì đặc biệt đã trút đầy xuống tất cả mọi thứ. Giữa cảnh hoàng hôn choáng ngợp ấy, hình ảnh Hatsumi bỗng loé lên trong tâm trí tôi, và ngay lúc ấy tôi chợt hiểu ra cơn rung động tận đáy lòng ấy là gì. Nó là một thứ khao khát ấu thơ chưa bao giờ và sẽ không bao giờ thực hiện được. Trước đó tôi quên mất sự tồn tại của nỗi khát khao ngây thơ và gần như ghi xương khắc cốt ấy, đã quên mất trong bao nhiêu năm rằng mình đã từng có những tình cảm như thế. Cái mà Hatsumi đã khuấy động lên trong tôi là một phần của chính bản ngã tôi đã thiếp ngủ bấy lâu.

Và khi niềm phát ngộ ấy ập đến, nó đánh thức một nỗi buồn đau đớn đến mức tôi suýt khóc oà lên ngay lúc ấy. Cô đã là một người đàn bà đặc biệt như vậy đấy. Nhẽ ra đã phải có ai làm cái gì đó - bất kì cái gì - để cứu cô ấy.

Nhưng cả Nagasawa lẫn tôi đều không thể làm được điều đó. Giống như bao nhiêu người khác mà tôi đã biết, Hatsumi đã đạt đến một giai đoạn nào đó của cuộc sống và đã quyết định - hầu như hoàn toàn bất ngờ kết thúc nó. Hai năm sau khi Nagasawa đi sang Đức, cô lấy chồng, và hai năm sau đó cô đã dùng dao cạo cứa đứt cổ tay mình.

Chính Nagasawa, tất nhiên rồi, là người báo tin cho tôi biết. Bức thư của hắn gửi từ Bonn viết như sau: "Cái chết của Hatsumi đã làm tiêu tan một cái gì đó. Chuyện này thật đau buồn không thể chịu nổi, ngay cả đối với tớ". Tôi đã xé nát bức thư ấy và ném nó đi. Từ đó tôi không bao giờ thư từ với hắn nữa.

Hatsumi và tôi đến một quán bar nhỏ và nốc cạn nhiều tuần rượu. Cả hai chúng tôi chẳng nói gì nhiều. Như một cặp vợ chồng già buồn chán, chúng tôi ngồi đối diện nhau, im lặng uống và nhai lạc. Khi chỗ đó đã đông nghẹt, chúng tôi bỏ ra ngoài đi dạo phố. Hatsumi nói cô sẽ trả tiền, nhưng tôi cương quyết không cho vì chính tôi nghĩ ra chuyện đi uống rượu.

Không khí ban đêm giá buốt căm căm. Hatsumi khép chặt chiếc áo len mặc ngoài và im lặng bước bên tôi. Tôi không biết đi đâu khi chúng tôi lang thang qua các con phố trong đêm, hai tay tôi thọc sâu vào túi quần.

Rất giống những lần tôi đi bộ với Naoko, tôi chợt nhận ra thế.

"Cậu có biết chỗ nào mình có thể chơi bi-a gần đây không?" Hatsumi đột ngột hỏi.

"Bi-a ư?" Cậu biết chơi à?"

"Ô, khá là đằng khác. Cậu thì sao?"

"Tớ chơi được chút chút. Không giỏi."

"Ôkê, mình đi chơi nào."

Chúng tôi tìm ra được một phòng chơi bi-a gần đó.

Một quán nhỏ ở mãi cuối ngõ. Hai chúng tôi - Hatsumi trong bộ đồ sành điệu và tôi với cái áo tây xanh và cà-vạt cà tẩm - trông chẳng ăn nhập gì với quán bi-a nhộn nhạo ấy, nhưng có vẻ như Hatsumi chẳng hề bận tâm đến chuyện ấy khi cô chọn và thoa sáp vào mũi gậy. Cô rút một cái dải buộc đầu trong túi ra và buộc túm một bên tóc lên để khỏi vướng lúc chơi. chúng tôi chơi hai ván. Hatsumi chơi khá như lời cô nói, còn tôi thì lúng ta lúng túng vì một bàn tay còn băng bó dày cộp. Cô hạ tôi thảm hại.

"Cậu giỏi thật," tôi khâm phục nói.

"Cậu muốn nói nhìn bề ngoài không thể biết được người, đúng không?" Cô hỏi khi vừa ngắm một cú thọc vừa mỉm cười.

"Cậu học chơi như vậy ở đâu thế?"

"Ông tớ - bố của bố tớ - là một tay chơi già đời. Cụ có bàn bi-a ở nhà. Tớ thường chơi với anh tớ cho vui thôi, nhưng khi lớn hơn một tí thì ông tớ dạy tớ chơi với những nước đi có bài bản hẳn hoi. Ông cụ là một gã tuyệt vời rất đúng mốt, và đẹp trai. Nhưng cụ mất rồi. Cụ vẫn thưởng khoe đã từng gặp Deanna Durbin ở New York."

Cô đi trúng ba nước liền, rồi trượt nước thứ tư. Tôi loay hoay mãi mới ăn được một điểm, rồi lại hỏng mất một nước rất ngon.

"Tại cái băng tay đấy," Hatsumi nói để an ủi tôi.

"Không, tại tớ đã lâu rồi không chơi," tôi nói, "hai năm và năm tháng rồi."

"Sao cậu nhớ rõ thế?"

"Bạn tớ chết đúng cái đêm chúng tớ chơi ván cuối cùng với nhau," tôi nói.

"Thế là cậu không chơi nữa à?"

"Không, cũng không hẳn thế," tôi nói sau khi đã nghỉ một tí. "Chỉ là vì sau đó tớ chẳng có cơ hội nào để chơi nữa. Vậy thôi."

"Bạn cậu chết như thế nào?"

"Tai nạn xe cộ."

Cô đi nhiều nước nữa, ngắm rất nghiêm túc và điều chỉnh lực của từng nước rất chính xác. Ngắm nhìn cô chơi - mái tóc chải cẩn thận buộc lên để khỏi vướng mắt, bộ hoa tai vàng óng ánh, đôi giày đỏ vững vàng trên sàn nhà, những ngón tay mảnh dẻ đáng yêu ép chặt lên mặt nỉ xanh nâu khi cô động thủ nước đi - tôi có cảm giác như phần quán bi-a có cô đứng chơi đã biến thành một sự kiện xã hội tao nhã nào đó. Trước đó tôi chưa bao giờ được một mình với cô, và đó là một trải nghiệm tuyệt vời đối với tôi như thể tôi đã được kéo lên một tầng cao hơn của cuộc đời. Đến cuối ván thứ ba - mà tất nhiên là cô lại hạ tôi - thì vết thương của tôi bắt đầu đau phập phồng, và chúng tôi dừng chơi.

"Tớ xin lỗi," cô nói với vẻ quan tâm rất thực lòng, "nhẽ ra tớ không nên gợi ý chuyện này."

"Không sao mà," tôi nói. "Tớ đứt tay thường thôi mà, và tớ thích chơi. Thật đấy."

Khi chúng tôi rời quán bi-a, bà chủ gày gò nói với Hatsumi, "Cô có con mắt tinh đời đấy, em gái ạ."

Hatsumi nở một nụ cười ngọt ngào với bà ta và cám ơn bà khi trả tiền.

"Có đau không?" Cô hỏi khi chúng tôi đã ra bên ngoài.

"Không đau lắm," tôi nói.

"Cậu nghĩ nó có bị toác lại không?"

"Không, chắc không sao đâu."

"Tớ biết rồi? Cậu nên đến chỗ tớ. Tớ sẽ thay băng cho cậu. Tớ có thuốc sát trùng và đủ mọi thứ. Nào, tớ ở ngay đằng kia kìa."

Tôi nói không có gì đáng lo và rằng tôi không sao, nhưng cô khăng khăng phải kiểm tra xem vết cắt có bị toác lại hay không.

"Hay là cậu không muốn ở bên cạnh tớ nữa" Cậu muốn về phòng cậu càng sớm càng tốt phải không nào?" cô nói với một nụ cười ranh mãnh.

"Không có chuyện đó đâu," tôi nói.

"Được rồi, vậy thì đừng đứng nghiêm ra như vậy nữa. Đi mấy bước nữa thôi mà."

Chỗ Hatsumi ở cách khu Shibuya chừng mười lăm phút đi bộ về phía Ebisu. Không phải là một cao ốc sang trọng hào nhoáng, nhưng vẫn hơn mức đàng hoàng, với một sảnh chờ nho nhỏ rất hay và một cầu thang máy.

Hatsumi bảo tôi ngồi bên cái bàn trong bếp rồi vào phòng ngủ thay đồ. Cô trở lại với một cái áo chui đầu Princeton có mũ chùm, quần vải bông, và không đeo hoa tai nữa. Đặt một bộ đồ cấp cứu xuống bàn, cô tháo băng, kiểm tra xem vết cắt đã liền da chưa, bôi một ít thuốc sát trùng vào quanh đó và quấn một cái băng mớí lên vết thương. Cô làm mọi thứ như một chuyên gia vậy.

"Sao cậu giỏi nhiều thứ thế?" Tôi hỏi.

"Tớ thường làm tình nguyện ở một bệnh viện. Kiểu như chơi trò hộ lí. Vì thế tớ học được những việc này."

Khi đã xong việc băng bó, Hatsumi đi kiếm hai hộp bia trong tủ lạnh. Cô uống nửa hộp, còn tôi uống hết hộp của mình và cả chỗ còn lại của cô. Sau đó cô cho tôi xem ảnh các cô gái trong câu lạc bộ của mình. Cô nói đúng: một vài cô trong bọn thật xinh.

"Bất kì lúc nào cậu quyết định có một cô bạn gái, hãy đến tớ," cô nói. "Tớ sẽ giải quyết ngay cho cậu."

"Vâng, thưa quí cô."

"Thôi được rồi, Toru, nóí thật đi, cậu cho tớ là một mụ mối già phải không?"

"Ở một mức độ nào đó thôi," tôi nói thật, nhưng với một nụ cười. Hatsumi cười theo. Cô cười trông rất hay.

"Nói tớ nghe nữa nhé, Toru," cô nói. "Cậu nghĩ thế nào về tớ với Nagasawa"

"Tớ nghĩ thế nào nghĩa là sao?" Về cái gì?"

"Về chuyện tớ phải làm gì. Từ nay trở đi."

"Tớ có nghĩ gì thì cũng vậy thôi," tôi nói, tợp một ngụm bia lạnh.

"Thì có sao đâu. Cứ nói đúng ý nghĩ của cậu xem nào?"

"Thế này nhé, nếu tớ là cậu, tớ sẽ bỏ hắn. Tớ sẽ tìm một ai đó có cách nhìn sự vật bình thường hơn và sống với vui vẻ đến trọn đời. Có xuống đến địa ngục cậu cũng không thể hạnh phúc với hắn được đâu. Cái lối hắn sống, hắn không bao giờ nghĩ đến chuyện làm cho chính hắn hoặc người khác được hạnh phúc. Ở với hắn chỉ tổ làm thần kinh cậu phát loạn lên thôi. Tớ thấy cậu chơi với hắn được ba năm vừa rồi thì cũng thật là kì lạ. Tất nhiên, tớ rất mến hắn theo cách riêng của tớ. Hắn rất quấy, rất nhiều phẩm chất. Hắn có những sức mạnh và năng lực mà tớ không thể hy vọng có được. Nhưng cuối cùng thì quan niệm của hắn về mọi chuyện cũng như cách hắn sống là không bình thường. Đôi khi nói chuyện với hắn tớ cảm thấy như mình đang chạy vòng vo mãi xung quanh. Hắn leo lên cao cũng theo một quá trình vòng vo như thế. Tớ thấy rất trống rỗng! Phải nói là hệ thống của hai đứa hoàn toàn khác nhau. Cậu hiểu tớ nói gì không?"

"Có," Hatsumi nói khi lấy trong tủ lạnh ra cho tôi một hộp bia nữa.

"Hơn nữa, sau khi hắn vào Bộ Ngoại giao và xong một năm huấn luyện, hắn sẽ ra nước ngoài. Cậu sẽ làm gì lúc đó? Đợi hắn ư? Hắn không có ý định lấy ai cả."

"Tớ cũng biết điều đó."

"Vậy thì tớ chẳng có gì phải nói nữa."

"Tớ thấy rồi," Hatsumi nói.

Tôi rừ từ rót bia ra cốc.

"Cậu biết không, khi bọn mình chơi bi-a lúc nẫy, tớ bỗng nhận ra một điều," tôi nói. "Tớ là con một, nhưng tớ lớn lên mà không bao giờ thấy thiếu thốn hoặc ước ao được có anh có chị. Tớ sung sướng được một mình. Nhưng đột nhiên, khi chơi bi-a với cậu, tớ có cảm giác mình ước ao có một người chị gái giống như cậu - thật sành điệu và choáng ngợp trong một bộ đồ màu xanh nữa đêm với hoa tai vàng với cây gậy bi-a điệu nghệ"

Hatsumi tặng tôi một nụ cười rạng rỡ. "Đấy đúng là một điều tốt đẹp nhất tớ được nghe về mình trong suốt cả năm qua," cô nói. "Thật đấy."

"Tất cả những gì tớ mong muốn cho cậu," tôi đỏ bừng mặt, "là mong cậu được hạnh phúc. Nghe có vẻ điên. Vì hình như cậu là người có thể hạnh phúc với bất kì ai, mà tại sao cuối cùng lại vướng vào Nagasawa"

"Những chuyện như vậy vẫn xảy ra mà. Và có lẽ mình chẳng làm gì được. Trường hợp của tớ là thế đấy. Tất nhiên, Nagasawa sẽ bảo đó là trách nhiệm của tớ chứ không phải của anh ta."

"Tớ cũng nghĩ thế."

"Nhưng dù sao thì tớ cũng chẳng phải là đứa con gái thông minh nhất thế giới, Toru à. Mà thực ra, tớ còn thuộc loại ngu đần và cổ lỗ nữa. Tớ không thể để ý đến những trò "hệ thống" hay "trách nhiệm" này nọ. Tớ chỉ muốn lấy chồng và được người tớ yêu ôm ấp mỗi đêm và sinh con đẻ cái mà thôi. Với tớ thế là nhiều lắm rồi. Trên đời này tớ chỉ muốn có vậy."

"Còn cái mà Nagasawa muốn ở đời này lại chẳng liên quan gì đến chuyện ấy."

"Nhưng người ta còn thay đổi, phải không hả cậu?" Hatsumi hỏi.

"Cậu muốn nói là họ sẽ ra đời rồi ăn đòn và lớn lên hay sao?"

"Ơ, và nếu anh ấy xa tớ một thời gian, tình cảm của anh ấy với tớ có thể sẽ khác, có phải không?"

"Cũng có thể, nếu hắn là một anh chàng bình thường," tôi nói. "Nhưng hắn khác. Hắn cực kì sắt đá - hơn cậu với tớ tưởng nhiều. Và hắn sẽ chỉ sắt đá hơn theo thời gian mà thôi. Nếu có chuyện gì khiến hắn phải ăn đòn, hắn sẽ dùng ngay chuyện đó để rèn cho mình sắt đá hơn. Hắn đã nuốt cả ốc sên trước khi nhượng bộ. Cậu có thể mong đợi gì ở một con người như thế?"

"Nhưng tớ không thể làm được gì trừ việc chờ đợi anh ấy," Hatsumi nói, tay chống cằm.

"Cậu yêu hắn đến thế ư?"

"Đúng vậy," cô nói, không hề lưỡng lự chút nào.

"Chao ôi," tôi thở dài nói, rồi uống nốt chỗ bia của mình. "Tin chắc là mình yêu ai đến thế hẳn phải là một cảm giác tuyệt vời lắm."

"Tớ là một con bé ngu xuẩn và cổ lỗ," cô nói. "Uống thêm bia nữa nhé"

"Thôi, cám ơn, tớ phải đi thôi. Cám ơn cậu đã thay băng và cho tớ uống bia."

Trong lúc tôi đứng chỗ cửa vào để đi giày thì có tiếng điện thoại reo. Hatsumi nhìn tôi, rồi nhìn cái phôn, rồi lại nhìn tôi.
"Ngủ ngon nhé," tôi chào rồi bước ra ngoài. Lúc đóng cửa, tôi còn thoáng thấy Hatsumi nhấc điện thoại.

Đó là lần cuối cùng tôi nhìn thấy cô. Về đến khu học xá thì đã là mười một rưỡi, tôi đi thẳng đến phòng Nagasawa và gõ cửa. Gõ đến lần thứ mười tôi mới nhớ ra bấy giờ đang là đêm thứ Bảy. Nagasawa bao giờ cũng lấy giấy phép qua đêm vào thứ Bảy với lí do về ở nhà họ hàng.

Tôi về phòng mình, tháo cà-vạt, treo áo tây và quần lên mắc, thay đồ mặc nhà, rồi đánh răng. Ôi chao, tôi nghĩ bụng, mai đã lại là Chủ nhật rồi! Hình như cứ bốn ngày đã lại đến Chủ nhật. Hai Chủ nhật nữa thôi là tôi sẽ tròn hai mươi tuổi. Tôi nằm dài trên giường và dán mắt vào tờ lịch trong lúc những cảm giác âm u cứ thế tràn tới như những đợt sóng.

Tôi ngồi bên bàn học để viết bức thư Chủ nhật cho Naoko, uống cà-phê bằng một cái cốc to và nghe nhạc Miles Davis. Trời đang mưa nhẹ ở bên ngoài, còn trong phòng thì lạnh cóng như một cái bể cá. Mùi băng phiến thoang thoảng ở chiếc áo len dày tôi vừa lấy từ trong một hộp chứa đồ ra. Tít trên cao tấm kính cửa sổ có một con nhặng to đùng đang bám chặt không động đậy. Không có gió, lá cờ Mặt Trời Mọc ủ rũ trên cột như dải áo của một nghị viên La Ma. Một con chó nâu gày nhom nhút nhát không biết từ đâu lạc vào sân học xá đang hít hít ngửi ngửi từng bông hoa một trong luống. Tôi không thể tưởng tượng tại sao lại có con chó đi loanh quanh ngửi hoa như thế dưới trời mưa.

Bức thư của tôi dài. Mỗi khi bàn tay phải bị cứa của tôi bắt đầu thấy đau vì cầm bút, tôi lại ngồi nhìn ra cửa sổ và đưa mắt xuống sân nhà ướt dưới mưa.

Mở đầu thư, tôi kể cho Naoko chuyện bị đứt tay ở tiệm đĩa hát, rồi đến chuyện Nagasawa, Hatsumi và tôi đã có một bữa ăn mừng đêm hôm nọ vì Nagasawa đã đỗ kì thi tuyển vào Bộ Ngoại giao. Tôi mô tả tiệm ăn và món ăn. Thức ăn thì tuyệt, tôi viết, nhưng nửa chừng bữa ăn thì không khí bắt đầu khó chịu.

Tôi tự hỏi không biết có nên nhắc đến Kizuki khi viết về lúc chơi bi-a với Hatsumi hay không, rồi quyết định cứ làm vậy. Tôi cảm thấy mình phải viết chuyện đó.

Mình vẫn nhớ nước đi cuối cùng của Kizuki ngày hôm ấy - ngày mà cậu ấy chết. Đó là một nước bật tường rất khó mà mình không nghĩ là cậu ấy có thể thực hiện được. Nhưng hình như vận may đang đến với cậu ấy: nước đi ấy thật hoàn hảo, và hai trái bóng trắng và đỏ hầu như không gây nên tiếng động nào khi chúng chỉ khẽ chạm vào nhau trên nền nỉ xanh nâu và ghi điểm cho tỉ số cuối cùng của ván ấy. Đó quả là một nước đi tuyệt đẹp, mình vẫn còn nhớ nó như in cho đến tận hôm nay. Trong suốt hai năm rưỡi sau đó, mình không sờ đến cây gậy bi-a một lần nào.

Đêm mình chơi bi-a với Hatsumi, mãi đến cuối ván thứ nhất mình mới nhớ đến Kizuki, và hoàn toàn bị choáng. Mình vẫn đinh ninh là hễ đã chơi bi-a là mình sẽ nhớ đến Kizuki. Thế mà mãi đến hết ván thứ nhất rồi mình đã mua một hộp Pepsi ở máy tự động và bắt đầu uống thì mình mới chợt nhớ đến cậu ấy.

Chắc là nhờ có cái máy tự động ấy. Ở chỗ mình với Kizuki chơi với nhau cũng có một cái máy như thế, và chúng mình thường cuộc thắng thua bằng đồ uống mua ở đó.

Mình cảm thấy có lỗi đã không nhớ ngay đến Kizuki, như thể mình đã bỏ rơi cậu ấy. Nhưng khi về đến nhà rồi thì mình lại nghĩ thế này: chuyện xảy ra đã được hai năm rưỡi rồi, và Kizuki thì vẫn mười bảy tuổi. Không phải điều đó có nghĩa là kí ức về cậu ấy của mình đã phai mờ. Những thứ mà cái chết của cậu ấy đã gợi lên vẫn còn đó, sáng sủa rõ ràng, ngay bên trong mình, và một số còn rõ ràng hơn cả lúc đầu.

Điều mình muốn nói ở đây là: mình sắp tròn hai mươi tuổi. Một phần những gì Kizuki và mình đã chia sẻ với nhau lúc hai đứa còn mười sáu, mười bay tuổi đã biến mất rồi, và không thể cứ khóc lóc mai mà lấy lại được chúng. Mình không thể giải thích rõ hơn được nữa, nhưng mình nghĩ có thể cậu sẽ hiểu cảm giác của mình và điều mình đang nói đây. Và có lẽ cậu là người duy nhất trên đời có thể hiểu được những chuyện này.

Mình đang nghĩ đến cậu nhiều hơn bao giờ hết. Hôm nay mưa. Chủ nhật mưa là rất khổ cho mình. Khi trời mưa, mình không thể giặt giũ, tức là cũng không thể là quần là áo được. Mình không thể di dạo, mà cũng chẳng lên nằm trên mái nhà được. Mình chỉ có thể để máy quay đã ở chế độ tự động và nghe đi nghe lại chương trình Kind of Blue trong khi nhìn mưa rơi dưới sân ngoài kia. Như mình đã viết cho cậu trước đây, mình không lên dây cót cho bản thân vào Chủ nhật. Chính vì vậy mà thư này mới dài dòng như thế. Mình dừng bút đây. Mình đi ăn trưa dưới nhà ăn.

Tạm biệt.
 

root

Very handsome
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
5,106
Reaction score
125
Points
9,999
Chương 9
Giờ học ngày hôm sau tôi vẫn không thấy bóng dáng Midori đâu. Cô có chuyện gì vậy? Mười ngày đã trôi qua kể từ lần chúng tôi nói chuyện với nhau trên điện thoại. Tôi đã định gọi cô, nhưng lại thôi. Cô đã nói rằng cô sẽ gọi cho tôi.

Thứ Năm tuần ấy tôi gặp Nagasawa trong nhà ăn. Hắn ngồi xuống cạnh tôi với một khay đầy ụ thức ăn và xin lỗi đã làm cho buổi "liên hoan" hôm trước thành ra không vui như vậy.

"Không sao," tôi nói. "Tớ mới phải cám ơn cậu vì bữa ăn thịnh soạn đến thế. Nhưng cũng phải công nhận là kiểu ăn mừng nghề nghiệp mới của cậu như thế thật buồn cười."

"Cậu có thể nói lại câu ấy."

Vài phút trôi qua và chúng tôi vẫn lăng lặng ăn.

"Tớ làm lành với Hatsumi rồi," hắn nói.

"Tớ không ngạc nhiên đâu."

"Tớ cũng đã căng thẳng cả với cậu nữa, nếu tớ nhớ không nhầm."

"Xin lỗi xin lủng thế này là thế nào?" tôi hỏi. "Cậu ốm à?"

"Có lẽ," hắn nói, gật gật đầu máy cái nhè nhẹ.

"Hatsumi bảo tớ cậu khuyên cô ấy bỏ tớ."

"Có lí cả thôi," tôi nói.

"Ừ, tớ cũng nghĩ thế," Nagasawa nói.

"Cô ấy tuyệt như vậy," tôi nói, húp súp xoàn xoạt.

"Tớ biết," hắn nói và thở dài. "Hơi tuyệt quá đối với tớ"


***


Đang ngủ như chết thì có tiếng chuông báo tôi có điện thoại dưới nhà. Nó đem tôi từ cái lõi tận cùng của giấc ngủ ra và ném tôi vào tâm trạng ngơ ngác hoàn toàn. Tôi cảm thấy như mình đã ngủ cắm đầu xuống nước cho đến lúc cả bộ óc sưng vù lên. Đồng hồ chỉ sáu giờ mười lăm nhưng tôi không biết là đang sáng hay chiều, và cũng không biết hôm nay là thứ mấy nữa. Tôi nhìn ra cửa sổ và không thấy có cờ treo trên cột. Chắc là chiều rồi. Vậy là cuối cùng thì cái lê kéo cờ kia cũng có tác dụng của nó.

"Ê, Watanabe, cậu có rỗi bây giờ không?" Midori hỏi.

"Tớ không biết, hôm nay là thứ mấy?"

"Thứ Sáu."

"Đang là sáng hay chiều?"

"Chiều chứ còn gì nữa! Cậu lạ thế! Xem nào, bây giờ… là sáu giờ mười tám phút chiều."

Vậy là chiều rồi! Đúng thế, tôi đã nằm trên giường đọc sách rồi ngủ thiếp đi. Thứ Sáu. Đầu óc tôi bắt đầu làm việc. Tôi không phải đi làm ở tiệm đã hát vào các thứ Sáu.

"Ờ, tớ rỗi. Cậu đang ở đâu?"

"Ga Ueno. Cậu gặp tớ ở Shinjuku có được không?"

"Tớ đi luôn bây giờ đây."

Chúng tôi hẹn giờ và nơi gặp nhau, rồi gác máy.

Khi tôi đến quán DUG, Midori đang ngồi ở cuối quầy bar với một cốc rượu. Cô mặc một áo khoác ngoài đàn ông màu trắng nhàu nhĩ một áo len vàng, quần bò xanh, và một cổ tay có đeo hai cái vòng.

"Cậu đang uống gì thế?" tôi hỏi.

"Tom Collins."

Tôi gọi whisky pha soda, rồi mới nhìn thấy một chiếc vali to nằm dưới chân Midori.

"Tớ đi xa," cô nói. "Vừa về đến đây."

"Cậu đi đâu?" "Xuống phía nam đến Nara và lên phía bắc đến Aomori."

"Một mạch ư?"

"Ngốc ạ. Tớ có thể lạ, nhưng không thể lên bắc xuống nam cùng một lúc. Tớ xuống Nara với bồ, rồi bỏ lên Aomori một mình."

Tôi nhấm nháp whisky với soda, rồi đánh diêm châm điếu Marlboro Midori đang ngậm trên miệng.

"Thời gian qua chắc kinh khủng với cậu lắm, còn ma chay với đủ thứ khác nữa."

"Không đâu, đám ma thì dễ ợt. Bọn tớ làm nhiều quá rồi. Cứ việc khoác bộ kimono đen rồi ngồi đó như một phu nhân và mọi người sẽ lo tất mọi chuyện - một ông bác, một ông hàng xóm, kiểu thế. Họ đem rượu sakê đến, đặt làm sushi, nói những lời an ủi, khóc lóc, rồi lại tiếp tục công việc, chia nhau thứ này thứ nọ. Nhẹ nhàng ấy mà. Như đi pích-níc thôi. So với việc chăm sóc một người ngày này qua ngày khác thì đó đúng là một cuộc pích-níc. Bọn tớ thì mệt, tớ với chị tớ. Bọn tớ còn không khóc nổi. Chẳng còn nước mắt nữa. Thật đấy. Chỉ mỗi tội đã thế mọi người còn xầm xì rằng "Mấy cô này thật ghẻ lạnh như băng". Nhưng chúng tớ vẫn cứ không khóc, chúng tớ là vậy đấy. Tớ biết chúng tớ có thể vờ khóc, nhưng không đời nào chúng tớ làm như vậy. Bọn mất dạy. Chúng càng muốn chúng tớ khóc thì chúng tớ lại càng không khóc. Hai chị em tớ rất khác nhau, nhưng đến những chuyện như thế này thì chúng tớ lại tuyệt đối đồng điệu."

"Chưa?"

"Được rồi, không sao," Midori nói, nhấp một ngụm Tom Collins, rồi cậy vỏ một hạt hồ trăn, "suốt thời gian đi chơi một mình như thế, tớ toàn nghĩ đến cậu. Tớ nghĩ giá có cậu đi cùng thì hay biết mấy?"

"Sao lại thế?"

"Sao lại thế!" Midori nhìn tôi với đôi mắt chăm chú vào một nơi vô định. "Sao lại thế nghĩa là thế nào?"

"Thì là thế chứ sao nữa! Sao cậu lại nghĩ đến tớ?"

"Có thể vì tớ thích cậu, chứ còn làm sao nữa! Còn lí do gì nữa nào? Có ai mong người nào mà mình không thích đâu cơ chứ?"

"Nhưng cậu có bạn trai rồi mà," tôi nói. "Cậu không phải nghĩ đến tớ làm gì". Tôi chậm rãi nhấp một ngụm whisky pha soda.

"Nghĩa là tớ không được phép nghĩ đến cậu nếu tớ đã có bồ?"

"Không, không phải thế, tớ chỉ…"

"Này Watanabe, hãy nghe cho thủng đây," Midori nói, chỉ tay vào mặt tôi. "Tớ cảnh cáo cậu đây này, tớ đã bị đủ thứ khổ sở dồn nén cả tháng qua rồi và sẵn sàng tá hoả tam tinh đây. Cho nên cậu hay cẩn thận lời nói nghe không. Còn thêm một tí gì nữa nhưng lời kiểu ấy là tớ sẽ khóc lụt hết chỗ này cho mà xem. Cậu sẵn sàng chuyện ấy chưa? Hễ đã khóc là tớ thành con vật chính cống đấy, bất kể là tớ đang ở đâu! Tớ không đùa đâu."

Tôi gật đầu và im thin thít. Tôi gọi cốc whisky soda thứ hai và ăn mấy hạt hồ trăn. Đâu đó đằng sau âm thanh của một cái bình lắc rượu và tiếng li cốc lanh canh xen với tiếng lạo xạo của máy làm nước đá, Sarah Vaughan đang hát một ban tình cả theo kiểu ngày xưa.

"Mọi chuyện vẫn lung tung cả giữa tớ với bồ tớ kề từ sau sự kiện tăm-pông."

"Sự kiện tăm-pông"

"Ờ một tháng trước đây tớ đi uống rượu với hắn và mấy thằng bạn của hắn. Đang uống thì tớ kể chuyện một bà hàng xóm khi hắt xì đã làm bắn cả cái tăm-pông của mụ ra ngoài. Buồn cười chứ, phải không?"

"Quấy thật," tôi phì cười.

"Đấy, và tất cả lũ bạn ấy của hắn cũng nghĩ thế. Nhưng hắn phát điên và nói rằng tớ không được nói những chuyện nhơ bẩn như thế. Rõ dơ dáy quá!"

"Uao!"

"Hắn là một thằng cha rất hay, nhưng có thể rất hẹp hòi trong những chuyện như vậy," Midori nói. "Ví dụ như, hắn phát khùng ngay nếu tớ không mặc đồ lót màu trắng. Cậu có nghĩ thế là hẹp hòi không?"

"Có thể," tôi nói, "nhưng đó chỉ là vấn đề thị hiểu thôi." Tôi không thể tin một thằng cha như thế lại có thể thích một bạn gái như Midori, nhưng không dám nói ra.

"Rồi, còn cậu, vừa rồi cậu làm những gì?" cô hỏi.

"Chẳng có gì. Vẫn vậy thôi," tôi nói, nhưng rồi chợt nhớ lần tôi định thủ dâm với ý nghĩ về Midori như đã hứa. Tôi hết sức thấp giọng kể chuyện ấy với cô để mọi người xung quanh không thể nghe được.

Mắt Midori sáng lên và cô búng ngón tay đến tách một cái. "Thế nào? Tốt đẹp không?"

"Không, được nửa chừng thì tớ lúng túng quá nên đành phải thôi."

"Cậu muốn nói là cậu bị xỉu đi à?"

"Gần như thế?"

"Mẹ kiếp," cô nói, ném cho tôi một cái nhìn khó chịu. "Cậu không thể để mình lúng túng như thế được. Nghĩ đến cái gì đó thật sexy vào. Không sao đâu, tớ cho phép cậu mà. Ê, tớ biết rồi? Lần sau tớ sẽ ở trên phôn với cậu: "Ô, ô, sướng quá… ô, đấy, đấy… Thôi nào, tớ sắp ra… ô, đừng làm thế!" Tớ sẽ nói với cậu những thứ như thế trong lúc cậu loay hoay với nó."

"Điện thoại khu học xá ở dưới sanh chờ ngoài cửa, lúc nào cũng có người qua lại," tôi giải thích. "Lão trưởng khu sẽ vặn cổ tớ nếu thấy tớ loay hoay ở một nơi như thế?"

"Ồ, chán nhỉ."

"Không sao đâu," tôi nói. "Tớ sẽ thử lại một mình một ngày gần đây."

"Cố hết sức nhé," Midori nói.

"Tớ sẽ cố," tôi bảo.

"Tớ đang nghĩ không biết có phải tại tớ không," cô nói. "Có thể tớ không sexy từ trong bản chất."

"Không phải đâu," tôi khẳng định. "Có lẽ chỉ là vấn đề thái độ."

"Cậu biết không," cô nói, "tớ có cái lưng cực kì nhạy cảm này. Chỉ cần mơn man ngón tay lên nó là… mmmmm.

"Tớ sẽ ghi nhớ điều này."

"Ê, sao mình lại không đi xem một bộ phim nhơ nhớp bây giờ nhỉ? Midori nói. "Một thứ bạo tình thực bẩn thỉu vào."

Cô ta nói cũng có lí thật.

Chúng tôi tìm một quán bar khác và gọi rượu uống.

Tôi lấy whiskv, còn Midori uống ba bốn cái cốc-tay không biết pha phách những gì trong đó. Ra lại bên ngoài, Midori nói cô muốn trèo cây.

"Quanh đây chẳng có cái cây nào," tôi nói. "Mà nếu có thì cậu cũng choáng váng rồi không trèo leo gì được đâu!"

"Cậu lúc nào cũng tỉnh táo như quỉ, cậu làm hỏng mẹ nó mọi việc. Tớ say là vì tớ thích say. Có gì sai nào? Và ngay cả khi say tớ cũng vẫn có thể trèo cây được như thường. Cứt thật, tớ sẽ trèo mãi lên tít tận ngọn một cái cây cổ thụ rõ cao và tớ sẽ tè xuống dầu tất cả mọi người cho mà xem!"

"Này, cậu có cần đi toa-lét không thế?"

Tôi đưa Midori đến một nhà vệ sinh trả tiền ở Ga Shinjuku, nhét một đồng kẽm vào khe thu ngân và ấn cô vào trong đó, rồi mua một số buổi tối ở quầy báo bên cạnh và đọc nó trong khi chờ cô ra. Nhưng cô không ra.

Mười lăm phút sau thì tôi bắt đầu lo và sắp sửa vào xem ra sao thì thấy cô ló ra, mặt mũi tái mét.

"Xin lỗi," cô nói, "tớ ngủ thiếp đi mất."

"Cậu có sao không?" tôi hỏi, khoác cái áo ngoài của tôi lên vai cô.

"Không sao mà," cô nói.

"Để tớ đưa cậu về. Cậu phải về nhà, tắm một cái thật lâu, thật thích, rồi đi ngủ. Cậu kiệt sức rồi."

"Tớ không về nhà đâu. Đề làm cái gì chứ? Chẳng có ma nào cả. Tớ không muốn ngủ một mình ở một nơi như thế?"

"Tuyệt lắm," tôi nói. "Vậy cậu tính sẽ làm gì đây?"

"Đến một nhà nghỉ tình yêu ở đâu đây và ngủ trong vòng tay cậu cả đêm nay. Như một súc gỗ. Sáng mai mình sẽ cùng ăn sáng ở dâu đó rồi cùng đến lớp với nhau."

"Cậu đã dự định chuyện này ngay từ đầu rồi phải không? Thế mà cậu mới gọi tớ."

"Tất nhiên rồi."

"Nhẽ ra cậu phải gọi bồ cậu chứ không phải tớ. Như thế mới hợp lí. Bồ trai chỉ để làm những việc như vậy thôi mà."

"Nhưng tớ muốn ở với cậu."

"Cậu không thể ở với tớ," tôi nói. "Trước hết là tớ phải về học xá trước nửa đêm. Nếu không sẽ vi phạm lệnh giới nghiêm. Bị thế một lần thôi là tha hồ mà trả giá địa ngục. Thứ hai là nếu tớ lên giường với một cô gái, tớ sẽ phải làm chuyện ấy, tớ ghét nhất phải nằm đó mà cố nhịn. Tớ không đùa đâu, tớ có thể cùng đường phải ép uổng cậu đấy."

"Nghĩa là cậu sẽ đánh tớ và trói tớ và hiếp tớ từ đằng sau á?"

"Ê nghe đây, tớ nói nghiêm chỉnh đấy."

"Nhưng tớ cô đơn quá! Tớ muốn được ở với ai đó! Tớ biết mình đang làm những trò khủng khiếp với cậu, toàn những đòi hỏi mà chẳng đáp lại được gì, rồi nghĩ bậy nghĩ bạ gì cũng nói ra tuốt tuột, kéo cậu ra khỏi nhà rồi bắt cậu đưa đi khắp chốn cùng nơi, nhưng cậu là người duy nhất mà tớ có thể cùng làm những chuyện ấy! Tớ chưa bao giờ được làm theo ý mình với bất kì ai, chưa một lần nào trong suốt hai mươi năm mà tớ đã sống qua. Bố tớ, mẹ tớ, họ không bao giờ để ý một tí gì đến tớ, còn bạn trai của tớ ư, mẹ kiếp, hắn không phải loại trai tráng như vậy. Hắn nổi cáu nếu tớ định làm theo ý riêng của tớ. Nên chúng tớ mới cãi nhau. Cậu là người duy nhất tớ có thể nói những điều như thế này. Còn bây giờ thì tớ mệt, mệt, mệt mỏi lắm rồi và tớ chỉ muốn lên giường đi ngủ và nghe ai đó nói với tớ rằng họ thích tớ biết chừng nào và tớ xinh đẹp biết nhường nào và đại loại thế. Tớ chỉ thèm có vậy thôi. Và khi thức dậy, tớ sẽ lại tràn đầy sinh lực và sẽ không bao giờ dám vòi vĩnh ích kỉ thế này nữa. Tớ xin thể. Tớ sẽ là một bé gái ngoan mà."

"Tớ nghe cậu rồi, tin tớ đi, nhưng tớ không thể làm gì được."

"Ôi tớ xin cậu đấy! Nếu không, tớ sẽ ngồi xuống ngay dưới đất đây và khóc cả đêm cho đến lúc vỡ đầu vỡ mặt thì thôi. Và tớ sẽ ngủ với thằng cha đầu tiên nào nói gì đó với tớ."


"Tớ cũng vậy," tôi nói. "Lâu lâu tớ lại ngẫm nghĩ về mình một lần, và tớ lại tự nhủ "Phải rồi, mình sợ đếch gì cơ chứ?"

"Ê, tớ không muốn nói theo ý xấu đâu. Tớ không giỏi diễn đạt những cảm xúc của mình ra bằng lời. Chính thế mà mọi người hiểu lầm tớ. Tớ chỉ muốn nói là tớ thích cậu. Tớ bao cậu thế rồi, đúng không?"

"Rồi," tôi nói.

"Tớ định nói là, không phải chỉ có tớ mới là người gặp khó khăn khi muốn tìm hiểu xem đàn ông thực chất là thế nào. Nhưng tớ đã và sẽ làm được việc đó, dần dần từng tí một."

Midori mang ra một bao Marlboro và châm một điếu "Bắt đầu từ số không thì cứ tha hồ mà học."

"Cũng phải thôi."

"Ô tí nữa thì quên! Cậu có muốn thắp cho bố tớ một nén nhang không?"

Tôi theo Midori vào căn phòng có bàn thờ Phật, thắp một nén nhang trước bức ảnh chụp ông bố, và chắp tay.

"Biết hôm trước tớ đã làm gì không?" Midori hỏi. "Tớ cởi trần truồng hết trước bức ảnh bố tớ. Cởi đến mảnh vải cuối cùng và để ông ấy nhìn thật lâu, thật kĩ. Kiểu như một tư thế Yoga. Giống như bảo "Bố ơi, này là đứa con gái mà bố đã làm ra."

"Lí do quái quỉ gì mà cậu lại làm thế?" tôi hỏi.

"Tớ không biết, tớ chỉ muốn cho ông ấy xem. Nghĩ coi một nửa tớ là tinh khí của ông ấy, đúng không? Sao lại không cho ông ấy xem? Lúc ấy tớ cũng hơi say. Có lẽ cũng vì thế nữa."

"Tớ cũng nghĩ vậy."

"Chị tớ bước vào và tí nữa thì ngã bổ chửng. Tớ đang ở đó, trước bức ảnh thờ bố, trần như nhộng. Tớ đoán chắc cậu cũng phải ngạc nhiên."

"Tớ cũng nghĩ thế?"

"Tớ giải thích tại sao mình đang làm vậy và bảo, "Nào, Momo (tên chị ấy là Momo) chị cũng cởi quần áo ra đi, rồi ngồi cạnh em đây cho bố xem, nhưng chị ấy không dám. Chị ấy choáng váng bỏ đi. Rõ thật là bảo thủ."

"Nói cách khác thì nghĩa là chị ấy tương đối bình thường, phải không?"

"Nói tớ nghe, Watanabe, cậu nghĩ gì về bố tớ?"

"Tớ không thoải mái lắm với những ai mới gặp, nhưng không thấy khó chịu gì lúc có một mình với ông cụ. Tớ thấy khá thoải mái. Và nói với cụ đủ thứ chuyện."

"Những chuyện gì vậy?

"Euripides," tôi đáp.

Midori cười ầm lên. "Cậu thật lạ! Không ai nói chuyện Euripides với một người hấp hối vừa mới gặp cả!"

"Nào, cũng không có cô gái nào lại ngồi tênh hênh trước ảnh thờ của bố mình cả!"

"Chẳng sợ tí nào. Tớ chưa làm chuyện gì xấu cả," tôi mỉm cười nói.

"Nhưng cậu sẽ nằm cạnh và ôm tớ cho đến lúc tớ ngủ đã chứ, đúng không?"

"Đúng rồi," tôi nói.

Chỉ chực ngã lăn khỏi mép cái giường hẹp của Midori, tôi ôm cô trong lòng. Mũi chúi vào ngực tôi, cô đặt cả hai tay lên hai bên hông tôi. Cánh tay phải tôi vòng qua lưng cô trong khi bàn tay trái tôi cứ phải bám chặt lên khung đầu giường để cho mình khỏi ngã.

Không phải là một tư thế có thể dẫn đến hứng khởi tình dục. Mũi tôi sát ngay trên đầu cô và mái tóc ngắn của cô cứ cù vào nó suốt.

"Nào, nói gì với tớ đi chứ," Midori nói, vùi mặt vào ngực tôi.

"Cậu muốn tớ nói gì đây?"

"Gì cũng được. Cái gì làm tớ thích ấy?"

"Cậu thật xinh," tôi nói.

"Midori," cô nói. "Nói tên tớ ấy."

"Cậu thật xinh, Midori à," tôi chỉnh lại.

"Thật xinh nghĩa là sao?"

"Xinh đến nỗi núi non mềm sụm xuống và đại dương khô hết đi."

Midori ngẩng lên nhìn tôi. "Cậu thật đặc biệt với ngôn từ."

"Tớ có thể cảm thấy lòng mình dịu đi khi cậu nói thế," tôi nói và mỉm cười.

"Nói cái gì hay hơn nữa đi."

"Tớ thực sự thích cậu, Midori à. Thích lắm."

"Lắm là bao nhiêu"

"Là như một chú gấu mùa xuân," tôi nói.

"Một chú gấu mùa xuân ư?" Midori lại ngẩng lên.

"Thế nghĩa là sao? Một chú gấu mùa xuân."

"Cậu đang bước đi trên một cánh đồng, chỉ có một mình, vào một ngày xuân, và chú gấu con bé nhỏ đáng yêu ấy với bộ lông mượt như nhung và cặp mắt nhỏ sáng ngời chạy tới đi cùng với cậu. Và nó nói "Xin chào tiểu thư. Có muốn lộn nhào với tôi không?" Thế là cậu với chú gấu chơi với nhau cả ngày hôm đó, quấn quít trong tay nhau, lăn mình xuống triền đồi phủ đầy hoa cỏ ở đó. Hay chưa nào?"

"Ờ. Thật là hay."

"Tớ thích cậu đến như vậy đấy."

"Đó là điều tốt đẹp nhất mà tớ từng được nghe,"

Midori nói, nép mãi vào ngực tôi. "Nếu cậu thích tớ đến thế, cậu sẽ làm mọi thứ tớ bảo cậu chứ? Cậu sẽ không nổi cáu chứ?"

"Không đâu, tất nhiên là không rồi."

"Và cậu sẽ luôn luôn chăm sóc tớ chứ, luôn luôn chứ?"

"Ừ, tất nhiên rồi," tôi nói, vuốt ve mái tóc mềm mà ngắn như tóc con trai của cô. "Đừng lo, mọi chuyện rồi sẽ ổn cả mà."

"Nhưng mà tớ sợ," cô nói.

Tôi nhẹ nhàng ôm cô, và chẳng mấy chốc đôi vai cô đã nhô lên hạ xuống đều đặn theo nhịp thở có thể nghe thấy được của giấc ngủ. Tôi tuồn ra khỏi giường và vào bếp lấy một hộp bia. Tôi chẳng buồn ngủ chút nào, nên nghĩ đến chuyện đọc sách, nhưng chẳng tìm được cuốn nào đáng đọc ở quanh đổ. Tôi đã định vào phòng Midori để tìm, nhưng lại không muốn lục lọi nhớ làm cô thức giấc.

Tôi ngồi đó nhìn vào không trung một lúc lâu, nhấp nháp bia, rồi chợt nhớ là mình đang ở trong một hiệu sách. Tôi xuống nhà, bạt đèn và bắt đầu nhìn lướt các giá để sách bìa mềm. Chẳng có gì hấp dân, và nếu có thì phần lớn là tôi đã đọc cả rồi, nhưng thể nào tôi cũng phải tìm ra cái gì đó để đọc. Tôi nhặt được một cuốn Dưới Bánh xe của Hermann Hesse đã bạc màu, chắc đã không bán được từ lâu lắm rồi, và để tiền trả vào chỗ quầy thu ngân. Đó là đóng góp nhó nhoi của tôi để giảm nhẹ nợ nần của nhà sách Kobayashi.

Tôi ngồi chỗ cái bàn trong bếp, vừa uống bia vừa đọc Dưới Bánh xe. Tôi đã đọc cuốn này lần đầu lúc mới vào trung học. Và bây giờ, tám năm sau, tôi lại ngồi đây, đọc lại nó trong bếp ở nhà một cô gái, mặc bộ đồ ngủ chật ních của ông bố mới chết của cô ta. Lạ lùng thật.

Nếu không có những hoàn cảnh kì lạ thế này, có lẽ tôi chẳng bao giờ đọc lại Dưới Bánh xe.

Cuốn sách quả là có những đoạn đã lỗi thời, nhưng là tiểu thuyết thì nó cũng không tồi. Tôi đọc chầm chậm, thưởng thức từng dòng một, trong một hiệu sách im lìm giữa đêm khuya. Một chai rượu mùi bụi bặm đứng trên một cái giá trong bếp. Tôi rót một ít vào một cái cốc dùng để uống cà-phê rồi nhấm nháp tí một. Nó làm tôi ấm người nhưng chẳng giúp tôi buồn ngủ được tí nào.

Tôi vào xem Midori ra sao trước lúc ba giờ một tí, nhưng cô vẫn đang ngủ say. Chắc hẳn cô phải mệt mỏi lắm. Đèn từ dãy phố đầy những cửa hàng dưới cửa sổ hắt vào một thứ ánh sáng trắng nhè nhẹ, giống như ánh trăng, tràn ngập gian phòng. Midori ngủ quay lưng ra phía có ánh đèn. Cô nằm thật im, gần như đã đóng băng.

Cúi xuống gần, tôi nghe được tiếng thở của cô. Cô ngủ giống hệt như ông bố.

Chiếc vali vừa đi cùng với cô nay để cạnh giường. Chiếc áo choàng trắng vắt trên lưng một cái ghế. Mặt bàn học của cô gọn gàng ngăn nắp, và trên tường có treo một cuốn lịch có hình chú chó Snoopy trong phim hoạt hoạ.
Tôi hé rèm nhìn xuống dãy cửa hàng vắng ngắt. Hàng nào cũng đóng, hạ kín những tấm cửa cuốn mặt tiền. Chỉ có những cái máy bán hàng tự động là hình như đang phủ phục chờ một ngày mới nữa. Thỉnh thoảng không khí lại rung lên khi sóng âm thanh của những chiếc xe tải hạng nặng nghiến lốp xe xuống mặt đường từ rất xa ào đến. Tôi trở lại bếp, rót thêm rượu mùi và tiếp tục đọc Dưới Bánh xe.
Khi tôi đọc hết cuốn sách thì trời đã rạng sáng. Tôi pha một ít cà-phê tan rồi lấy giấy với bút bi tìm thấy trên bàn viết cho Midori mấy chữ: Tớ uống một ít rượu mùi của cậu. Tớ mua một cuốn Dưới Bánh xe. Ngoài trời sáng rồi, nên tớ phải về. Tạm biệt. Sau một chút lưỡng lự, tôi viết thêm: Trông cậu lúc ngủ thực xinh. Tôi rửa cốc cà-phê, tắt đèn bếp, xuống nhà, khe khẽ nhấc cái cửa cuốn rồi bước ra phố. Tôi đã lo hàng xóm có thể thấy tôi đáng ngờ, nhưng ngoài đường chưa có ai lúc mới năm giờ năm mươi gì đó vào buổi sáng. Chỉ có lũ quạ vẫn đậu ở chỗ quen thuộc của chúng trên mái nhà và nhìn chằm chằm xuống phố. Tôi liếc nhìn lên tấm màn cửa màu hồng nhạt ở phòng Midori rồi đi ra trạm tàu điện, lên tàu ngồi cho đến cuối đường, rồi đi bộ về học xá. Trên đường tôi thấy một tiệm cà-phê đã mở cửa liền ăn một bữa điểm tâm có cơm với súp đậu tương, rau muối và trứng rán. Đi vòng ra sau khu học xá, tôi gõ gõ vào cửa sổ tầng trệt của phòng Nagasawa. Hắn mở cho tôi trèo vào ngay lập tức.
"Cà phê không?" hắn hỏi.
Tôi cám ơn hắn, lên phòng mình, đánh răng, cởi quần dài, chui vào chăn và nhắm chặt mắt lại. Cuối cùng, một giấc ngủ không mộng mị gì khép lại trên tôi như một cánh cửa bằng chì nặng trịch.
Tuần nào tôi cũng viết thư cho Naoko, và nàng thường viết trả lời. Những bức thư của nàng không bao giờ quá dài. Chẳng mấy chốc đã thấy có những đoạn viết về những buổi sáng và buổi tối lạnh lẽo tháng Mười một.
Cậu về Tokyo đúng vào lúc mùa thu bắt đầu tàn, nên nhiều lúc mình không biết cái hố đang mở ra trong lòng mình là do nhớ cậu hay là vì chuyển mùa. Reiko và mình nói đến cậu suốt. Chị ấy nhắc không được quên bảo là chị ấy có lời hỏi thăm cậu. Chị ấy vẫn tốt với mình như thế. Mình nghĩ nếu không có chị ấy chắc mình không thể chịu được nơi này. Khi thấy cô đơn mình vẫn khóc. Reiko bảo mình khóc thế là tốt.
Nhưng cô đơn quả thật là một cảm giác đau đớn. Khi cô đơn trong đêm, mình thấy có người nói với mình từ trong bóng tối. Họ nói với mình như kiểu cây cối vẫn rền rĩ trong gió lúc ban đêm vậy. Kizuki; chị mình: họ vẫn nói chuyện như thế với mình suốt. Họ cũng cô đơn, và muốn tìm người trò chuyện.
Mình thường đọc lại những lá thư của cậu trong đêm khi thấy cô đơn và đau đớn. Mình thấy hoang mang về rất nhiều chuyện nghe được từ bên ngoài, nhưng những đoạn cậu mô tả mọi thứ xung quanh cậu giúp mình thấy nhẹ nhõm tuyệt vời. Lạ thế đấy!
Mình không hiểu tại sao lại thế. Thế là mình cứ phải đọc đi đọc lại chúng, và Reiko cũng thế. Rồi chúng mình nói chuyện về những điều cậu đã kể cho mình trong thư. Mình rất thích đoạn về ông bố của cô gái Midori ấy. Chúng mình mong thư cậu hàng tuần như một trong những niềm vui giải trí vậy - đúng thế, ở một nơi như thế này, thư từ là nguồn giải trí của chúng mình.
Mình cố hết sức dành thời gian mỗi tuần để viết cho cậu, nhưng khi đã ngồi trước trang giấy trắng thì mình lại bắt đầu thấy lo lắng buồn rầu. Cả thư này nữa mình cũng phải cố lắm mới viết được. Reiko đã hò hét nhắc mình phải trả lời cậu. Dù sao thì cũng đừng hiểu lầm mình. Mình có hàng tấn chuyện muốn nói với cậu, muốn kể cho cậu nghe. Chỉ tội mình thấy rất khó diễn đạt chúng ra bằng lời. Chính thế mà viết thư là một việc rất khó nhọc đối với mình.
Nói đến Midori, cô ấy có vẻ là một người thú vị. Đọc thư cậu, mình có cảm giác là có thể cô ấy đã phải lòng cậu rồi. Lúc mình nói điều đó với Reiko, chị ấy bảo "Tất nhiên là thế rồi? Đến tôi cũng còn phải lòng Watanabe nữa là!" Dạo này chúng mình đi hái nấm, nhặt hạt dẻ, và ăn chúng hàng ngày. Mà mình nói hàng ngày tức là hàng ngày thật ấy: cơm với hạt dẻ, cơm với nấm matsutake, nhưng ăn rất ngon, và không thấy chán tí nào. Nhưng Reiko không ăn nhiều thế đâu. Chị ấy thì vẫn cứ hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Bầy chim với lũ thỏ đều ổn cả.
Tạm biệt.
Ba ngày sau sinh nhật thứ hai mươi, tôi nhận được một bưu phẩm của Naoko. Mở ra, tôi thấy một cái áo len cổ lọ màu rượu vang và một lá thư.
Chúc mừng sinh nhật! Mình hy vọng cậu sẽ có một năm hạnh phúc của tuổi hai mươi. Năm hai mươi tuổi của mình có vẻ sẽ kết thúc với mình vẫn khổ sở như từ xưa đến nay, nhưng mình sẽ rất thích nếu cậu có thể gộp phần hạnh phúc của cậu vào với phần hạnh phúc của mình. Thật đấy. Reiko và mình mỗi người đan một nửa cái áo cho cậu đấy. Nếu đan một mình, có lẽ phải đến Valentine sang năm mình mới xong được. Nửa đẹp là của Reiko, nửa xấu là của mình. Reiko làm cái gì cũng giỏi, thỉnh thoảng nhìn chị ấy mà mình thấy chán mình quá. Mình muốn nói là mình chẳng làm được việc gì cho ra hồn cả!
Tạm biệt.
Khoẻ nhé.
Trong gói có cả một mẩu giấy của Reiko:
Cậu thế nào? Với cậu, Naoko có thể là đỉnh cao hạnh phúc, nhưng với tôi cô ấy chỉ là cô gái vụng về. Dù sao, chúng tôi cũng đã loay hoay đan xong được cái áo len này kịp sinh nhật cậu. Đẹp đấy chứ, phải không nào? Chúng tôi tự chọn màu và kiểu đấy.
Chúc mừng sinh nhật.
 

Bình luận facebook

Top Bottom