[Lịch sử - Quân sự] Cảnh Thịnh Đế tân truyện

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
4,731
Reaction score
317
Points
83
Chương 60: Kế hoạch
Ngô Hùng Quang rời khỏi chính điện trong nhục nhã và bực dọc. Đây là lần đầu tiên họ bị xỉ nhục và không kiêng nể như thế. Trong mắt họ, cái đất nước nhỏ bé mãi vẫn là một Quận Giao Chỉ hay An Nam không thể tách rời của Trung Hoa. Rằng, dân tộc này vẫn là giòng giống Bách Việt man di bao năm qua và cần được khai sáng. Rằng, dân tộc này có được ngày nay toàn bộ là do Thiên triều ban cho.

Phó Văn Phương rời điện trên cáng tre. Y nằm sấp, trong lòng tức tối vô cùng:

- Ngô đại nhân! Cái lũ này đúng là man di mọi rợ. Chúng không hề biết tôn trọng sứ giả là gì. Cũng không hề đặt Thiên tử vào mắt. Chuyến này nhất định chúng ta phải dạy cho chúng biết thế nào là thiên uy.

- Phó đại nhân chịu khó vậy. Hiện giờ chúng ta đang trong đất của bọn chúng. Mọi việc đều phải nhẫn nhịn. Đợi tới khi quay về, chúng ta sẽ bẩm cáo Hoàng thượng. Nhất định chúng ta sẽ cho bọn chúng biết mình là ai. Nhất định phải cho chúng nếm mùi, gà chó không tha.

Ngô Hùng Quang đáp lời. Trong lòng y thật tức tối vô cùng. Viên phó sứ thứ hai Mã Anh Hào nói thêm:

- Đúng vậy, Phó đại nhân. Mối nhục này lẽ dĩ nhiên không thể bỏ qua. Nhưng chúng ta phải bình tĩnh. Tất thảy hãy theo sự sắp đặt của Ngô đại nhân.

- Được rồi, – Ngô Hùng Quang húng hắng – trước tiên chúng ta phải về nghỉ ngơi trước đã. Ngay trong chiều nay, chúng ta sẽ hồi kinh.

- Khoan đã đại nhân – Mã Anh Hào can ngăn. – Nếu chúng ta đi ngay vào lúc này sẽ không ổn. Biết đâu lũ man di này sẽ sai người làm khó chúng ta trên đường về đang khi Phó đại nhân còn đang bị thương. Tôi nghĩ, trước hãy nghỉ lại một hai ngày cho vết thương Phó đại nhân thuyên giảm đã.

- Sai rồi. Nếu như chờ mấy ngày, bọn chúng tất biết lộ trình của ta. Có lẽ giờ này bọn chúng không nghĩ là chúng ta sẽ đi ngay mà chờ thương thế Phó đại nhân khỏi hẳn. Do đó, hẳn là bọn chúng không hề phòng bị.

- Phải đó, vết thương này đối với tôi chỉ là chuyện nhỏ – Phó Văn Phương nhăn nhó – tôi chịu được. Chúng ta phải gấp rút hồi kinh bẩm báo Hoàng thượng chủ trì công đạo. Nhất định không thể tha cho bọn chúng, nhất là thằng lõi con Cảnh Thịnh đáng chết kia.

Mọi sự thế là đã định. Cả ba nhanh chóng trở về dịch quán gói ghém hành trang và lên đường về ngay chiều hôm đó. Bọn họ không muốn chần chừ thêm một phút giây nào nữa. Bọn họ dùng thuyền nhỏ rời khỏi bến Phú Định rồi lên thuyền lớn đang neo đậu ngoài khơi để về nước. Họ vốn dĩ vẫn cho rằng Việt Nam ngoài vài chiếc Định Quốc được xem như là quái vật trên biển kia thì chiến thuyền cũng chẳng có là mấy. Vả lại, Định Quốc to lớn chắc sẽ không có tốc độ cao bằng thuyền của họ vốn nhỏ hơn.

Dự tính là như vậy nhưng họ nào biết được sức mạnh đáng sợ của hải quân Việt Nam. Mọi động tĩnh lớn nhỏ của họ đều không thể nào qua khỏi tai mắt của Việt Nam. Chưa hết, có điều họ càng không ngờ là người của CPQ cũng đã trà trộn lên thuyền từ lúc nào chẳng biết. Nói thật, nếu như Quang Toản muốn, họ đã chết ngay tại đại điện chứ không phải chờ đến lúc này.

Lại nói đến Toản. Tất cả những việc vừa qua đều nằm trong sự sắp đặt của anh. Nhục mạ sứ giả ngay trên điện vốn chính là điều cấm kỵ, không nên làm đối với bất kỳ quân vương hay quốc gia nào. Thế mà anh vẫn làm thế. Lẽ nào ngay cả điều cơ bản nhất này anh còn không rõ hay sao? Không. Anh hiểu rõ chứ. Anh biết, trong mắt người Phương Bắc, dân tộc Việt mãi vẫn là man di, không biết hành xử. Họ đã nghĩ như vậy thì chìu theo họ vậy. Cứ hành xử như sáng nay sẽ càng làm cho họ coi thường. Chắc hẳn Thanh triều sẽ không cần phải suy tính mà đem quân chinh phạt ngay.

Vào buổi chiều, Toản cho người mời Mã Kim Đa vốn đang giữ chức vụ Tổng lãnh sự Anh Cát Lợi đến gặp mặt. Tham gia buổi gặp này còn có Thái thượng hoàng, Quang Thùy, Quang Bàn, Nguyễn Văn Tuyết, Nguyễn Quang Huy cùng Allan Witchesster, người Đại Úy hải quân Hoàng gia Anh Cát Lợi đã cùng Quang Bàn về nước ngày nào.

Khi tất cả mọi người đều đã có mặt đầy đủ, Toản nói ngay vào đề:

- Các vị, thời điểm công phạt Phương Bắc đến rồi. Trẫm mời mọi người đến đây là để bàn xem việc tiếp theo, chúng ta chuẩn bị thế nào.

- Đến lúc đánh nhau với chúng rồi sao? Ha… ha… ha… Chú tư à. Anh chờ giây phút này lâu lắm rồi. Nói thật, mọi sự trên điện sáng nay thật là sảng khoái. Ha… ha… ha… – Quang Thùy sảng khoái cười lớn.

- Đúng vậy, ha… ha… nhìn cái mông nở hoa của tên Phó gì đó mà sướng con mắt – Bàn cũng hùa theo. – Chú tư à, theo anh, lẽ ra phải tăng thêm chứ hai mươi hèo thì còn nhẹ đó. Phải đánh cho hắn phải lết luôn chứ thế thì còn nhẹ quá.

- Ai da, ba anh em mấy người quả là… – Nguyễn Văn Tuyết tủm tỉm cười. Nói thật, ông cũng thấy hả lòng hả dạ. – Nhưng Bệ hạ, việc này chúng ta có làm quá hay không?

- Chú Tuyết à! – Toản nói – Đúng như anh ba nói đó. Thế vẫn là còn nhẹ. Trong mắt bọn họ, chúng ta chỉ là lũ man di, là mọi rợ. Chúng muốn nghĩ thế thì chúng ta tội gì không thỏa ý nguyện bọn chúng? Làm như thế càng giúp mọi sự trôi chảy hơn ấy chứ.

- Ta cũng đồng ý với cách của mấy con – Nguyễn Ánh góp lời. – Quả thật, thấy cái tên Phó gì đó ăn đòn mà ta cười thầm trong bụng. Nói thật, ta vốn thích chuyện này lắm. Nhưng việc này phải để đám trẻ các con làm thì hay hơn. Ha… ha… ha…

- Thái thượng hoàng. Ngay cả ngài còn như vậy sao? Sao không tự tay làm đi? Rõ là đùn đẩy trách nhiệm mà. – Tuyết vừa cười, vừa trêu Ánh.

- Nói thật nhé. Nếu mà Trẫm là vua thì ông đã phải chịu phạt, ít nhất là ăn mấy mươi hèo rồi. Bất quá, trẫm thích cách mà quần thần thân thiện thế này hơn là lúc nào cũng phép tắc này nọ.

Quả thế. Nguyễn Ánh vốn xuất thân từ Vương tộc nhà Nguyễn. Tư tưởng Nho giáo vốn đã ăn sâu vào tâm. Nhưng ông cũng là người khá cởi mở. Mấy năm chạy nạn ở châu Âu cũng làm tâm trí ông phóng khoáng hơn. Nhưng bản thân là vua lúc đó, ông không thể nào chấp nhận được việc này. Nhưng giờ đây, mọi sự đã khác. Ông đã cởi bỏ được gánh nặng trên vai. Lại thấy Giang sơn phát triển thuận lợi nên không còn câu nệ mọi thứ nữa. Lúc này, Toản nói:

- Thôi, chúng ta hãy quay về việc chính thôi. Các khanh tính thử xem, khoảng bao lâu nữa là họ sẽ động binh?

- Theo thần thấy, bọn họ mất khoảng mười ngày mới có thể về đến Bắc Kinh. Lại mất ít nhất một tháng nữa để chuẩn bị chiến tranh. Vậy ra còn khoảng một tháng rưỡi nữa.

Người mới nói là Nguyễn Quang Huy. Anh đã tính toán đúng. Có điều đó là theo bình thường. Tình thế ngày nay lại có điều khác biệt. Bởi vậy, tính toán của Huy đâm ra sai lệch. Lúc này, Nguyễn Văn Tuyết mới nói:

- Quang Huy, anh tính sai rồi. Tối đa là nửa tháng thôi. Anh có nghĩ đến vì sao Thanh triều không phái một quan văn đi sứ mà lại là một vị tướng lâu năm không? Đó là vì bọn họ muốn xem thử tình hình nước ta thế nào. Bởi vậy, Bệ hạ mới diễn vở tuồng man di kia để đánh lừa và khích y. Thứ nữa, hiện Thanh triều đang bị các nước chư hầu chống đối dù chỉ ngấm ngầm thôi. Do đó, nhất định họ đã quyết chí chinh phạt nước ta để lập uy. Thế nên, tôi nghĩ họ đã chuẩn bị xong mọi thứ từ trước khi đến đây rồi.

- Tôi cũng đồng tình với ý kiến của chú Tuyết – người nói là Quang Thuỳ. – Tôi hiện đang theo rất sát tình hình của Thiên địa hội, à không, phải nói là Hồng Hoa hội mới đúng. Người bên đó cho hay gần đây ít thấy Gia Khánh đàn áp bọn họ nữa. Có thể là họ có ý khác.

- Vậy thì chắc là đúng rồi – Huy nói.

Nguyễn Ánh trầm ngâm nãy giờ mới húng hắng một cái rồi nói:

- Trẫm lại nghĩ chúng ta chỉ có chưa tới mười ngày đâu. Ta tin là đám sứ giả đã thả bồ câu báo cáo tình hình cho Gia Khánh. Tin tức sẽ đến Bắc Kinh trước khi họ trở về đến nơi.

- Con cũng nghĩ như nghĩa phụ – Toản nói. – Người của CPQ được cắm trên thuyền của đám sứ giả đã báo tin về. Tin cho biết bọn họ đã thả bồ câu đi. Như vậy, chắc là bọn họ sẽ động binh trong vòng mười ngày tới. Vậy mọi người nghĩ họ sẽ phái đi bao nhiêu binh mã và kế hoạch ứng phó của ta thế nào?

- Thần tin chắc là không dưới ba trăm nghìn, tức là ba mươi vạn – Tuyết lại nói. – Lần trước bọn họ đem sang đây ba trăm nghìn người đã bị đánh cho tan tác. Lần này nhất định họ sẽ phái đi nhiều hơn.

- Thật ra – Nguyễn Ánh nói – bao nhiêu thì phải đợi thám báo của CPQ. Cái cần làm bây giờ là đối sách. Chúng ta đã chủ động tạo ra cuộc chiến này thì không thể thua được.

Vào lúc này, mọi người cùng nhau tiến hành bàn bạc kế sách ứng phó cho cuộc chiến sắp tới. Nếu xét về quân số, Việt Nam mãi mãi không bao giờ bằng Trung Hoa dù là ở triều đại nào. Chiến thuật tổng quát của họ tựu chung vẫn là “biển người”. Trong những trường hợp có quân số áp đảo, mưu kế trong mỗi trận đánh với họ có vẻ như là khá dư thừa. Lịch sử đối đầu giữa Đại Việt mấy thế kỷ trước với Trung Hoa đã minh chứng cho điều đó. Binh mã Đại Việt chưa bao giờ vượt qua con số hai mươi vạn. Trong khi đó, quân số của người phương Bắc chưa bao giờ ít hơn ba mươi vạn. Vậy mà biết bao đời nay, không biết bao nhiêu phen bọn họ phải ôm hận. Cũng trải bao nhiêu thế hệ, kẻ dành chiến thắng sau cùng chưa bao giờ là người Phương Bắc. Đại Việt từ khi đó và Việt Nam ngày nay nổi lên là một dân tộc chuyên dùng ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh.

Vậy đâu là yếu lĩnh cho những chiến thắng vĩ đại từ bao đời của cả dân tộc. Ấy chính là lối đánh nổi tiếng đến tận thế kỷ hai mươi mốt, “du kích”. Thế nhưng, cũng cần hiểu thêm, lối đánh này phù hợp nhất cho những trận chiến phòng thủ và người cầm quân phải cực kỳ am hiểu địa hình tác chiến. Ngày nay, Toản quyết định tiến công lên đất Bắc, vậy thì liệu lối đánh này có phù hợp nữa hay không? Điều này sẽ có ý nghĩa quyết định đến kết quả chung cuộc lần này. Tiêu chí lần này lại là đánh nhanh, thắng nhanh. Bởi thế, dùng cách đánh thế nào thì cần phải tính toán lại thật chi tiết.

Một điều đáng để cân nhắc là Việt Nam hiện có ưu thế hơn khá xa so với Đại Thanh về hỏa lực. Nói đến đây, cần phải nhắc đến một thành công quan trọng trong việc cải tiến súng ống. Là người đến từ tương lai, lẽ dĩ nhiên Toản biết rõ uy lực của những loại súng trường hiện đại như AK, serie M như M16, M17. Tuy nhiên, anh không cổ suý cho việc sản xuất chúng vì nhiều lý do. Thứ nhất là công nghệ hiện tại chưa cho phép. Thứ hai, anh không muốn chúng xuất hiện quá sớm mà làm bùng phát chiến tranh. Lại nữa, anh e ngại chính bản thân những người Việt dấy lên giấc mộng bá quyền. Dù vậy, nếu như phát triển loại súng trường bắn phát một vốn xuất hiện vào cuối thế kỷ mười tám, đầu thế kỷ hai mươi là điều chấp nhận được. Vốn có học vị Master Vật Lý, lại được tham khảo tài liệu về các loại vũ khí cơ bản lúc chưa xuyên việt, Toản không khó lắm trong việc thiết kế ra chúng. Băn khoăn rất nhiều, Toản chọn súng Mosin. Đây là loại súng trường bắn phát một nổi tiếng của người Nga, xuất hiện vào năm 1891. Cải tiến lớn nhất của nó là dùng bệ khoá nòng thủ công với kim hỏa thay cho “mỏ gà” hay “con thỏ” cùng với hộp đạn đơn năm viên. Anh đặt tên cho nó là TSG02. So với khẩu Mosin có đường đạn xa nhất là ba nghìn mét thì nó chỉ đạt được hai nghìn mét. Tuy nhiên, so với TSG thì nó ưu việt hơn nhiều khi một phút bắn được mười viên đạn chứ không phải là sáu viên. Tầm bắn của nó là một nghìn mét và hiệu quả ở tám trăm mét. Việc chế tạo TSG02 bắt đầu từ năm 1799, mãi đến ba năm sau mới thành công và sản xuất đồng loạt. Cho đến nay, toàn bộ binh sĩ đã được trang bị loại súng này.

Bởi thế, cách đánh hiện đại đã có thể áp dụng. Tức là không cần dàn quân dày đặc và tiến lên từng bước. Các binh sĩ có thể chia thành nhiều đơn vị, chiếm lĩnh nhiều hướng khác nhau mà tiến lên. Chưa hết, quân đội lại còn phối hợp với đại bác và tên lửa để yểm trợ.

Đó là cách đánh. Khi bắt đầu bàn về chiến thuật, trước hết, Toản quay sang hỏi Mã Kim Đa:

- Mã Kim Đa, ở Đà Nẵng, quân số của các ngài có bao nhiêu rồi?

- David Bệ hạ! Chúng tôi đã tập trung bốn mươi chiến thuyền Frigate lớp hai cùng với hai mươi thuyền đổ bộ. Tổng số binh sĩ là mười nghìn người chưa kể số thủy thủ.

- Tốt lắm! Ngài biết chúng tôi đã phát triển loại súng mới rồi chứ? Số lượng dư ra chưa nhiều nhưng vừa khéo tồn trong kho mười nghìn khẩu. Nếu muốn, chúng tôi sẽ tặng các ngài năm nghìn khẩu, lại bán rẻ năm nghìn khẩu, giao hàng trước, mười hai tháng sau thanh toán. Ngài thấy thế nào?

- Ngài cũng biết, việc này tuỳ thuộc vào quyết định của Hội đồng và Đức vua. Tôi thật không dám quyết. Tuy nhiên, tôi có cách này. Chúng tôi vô cùng hân hoan đón nhận năm nghìn khẩu Bệ hạ tặng. Phần năm nghìn khẩu kia xem như chúng tôi mượn. Cùng lúc này, tôi cũng cho người về nước báo lại. Nếu được chấp thuận thì người đó sẽ trở về đây với toàn bộ số tiền phải thanh toán. Ngược lại, chúng tôi sẽ trả lại cùng với một khoản phí nho nhỏ xem như là tiền thuê súng.

- Được lắm. Cứ thế mà làm thôi.

Lúc này, Nguyễn Quang Huy nói:

- Bệ hạ! Nói gì thì nói, ta cho dù có chuẩn bị đầy đủ thế nào chăng nữa cũng không thể tuỳ ý tấn công khi họ chưa động binh. Vả lại, dù họ có động binh nhưng chưa vượt qua được biên giới thì cũng không thể nào tạo ra cái cớ cho Anh Cát Lợi tiến đánh được.

- Đúng vậy – Nguyễn Ánh nói. – Trẫm thấy, trước tiên phải cho chúng thắng vài trận đã. Khi đó, Đại uý Witchesster đây phát động tấn công trên biển với lý do bênh vực đồng minh rồi mới đến lượt ta.

- Nói vậy nhưng chúng ta cũng không thể chờ mãi được – Quang Thuỳ nói. – Ta thấy bấy nhiêu vẫn có thể là chưa đủ để bọn chúng nhanh chóng hành động. Mọi người có biết bọn chúng hiện sơ nhất điều gì không? Chính là đám người Hồng hoa hội đó. Ta nghĩ, nếu như ta thả ra tin đồn rằng chính chúng ta cung cấp tài chính cho hội phản Thanh phục Minh này thì bọn chúng sẽ có động thái thế nào? Đó chính là lo sợ và tức tối. Cộng thêm việc sỉ nhục đám sứ giả vừa rồi, chúng nhất định sẽ cất binh thảo phạt.

Và còn nhiều ý kiến khác nữa. Song, cuối cùng mọi người nhất trí sẽ theo như ý Thuỳ, tạo thêm một cái cớ nữa ép nhà Đại Thanh phải động binh. Phần Việt Nam, quân thần và nước bạn đều đồng ý sẽ tỏ ra yếu thế hơn, để thua vài trận tạo cái cớ cho người Anh Cát Lợi xua quân tiến đánh ở mặt biển. Tiếp theo đó, hạm đội một sẽ từ phía sau yểm trợ cho Hải quân Hoàng gia Anh Cát Lợi xâm nhập từ ngoài biển, theo sông tiền đường đi chuyển về Trường Giang rồi áp sát Bắc Kinh. Cùng lúc, quân đoàn một và hai của Việt Nam tìm cách vòng qua sau lưng địch, tiêu diệt đoàn quân thảo phạt rồi tiến thẳng kinh thành Đại Thanh.

Vậy là mọi sự đã định. Sẽ không lâu nữa, một cuộc chiến sẽ nổ ra. Và chiến trường lại nằm trên đất của kẻ xâm lược. Chính nó sẽ mở ra một đế chế hùng mạnh mới ở châu Á.
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
4,731
Reaction score
317
Points
83
Chương 61: Hoàng đế đột quỵ
Ngay sau cuộc họp bí mật, Quân đoàn một và Quân đoàn bốn mới được thành lập chưa được bao lâu đã được điều động tiến về biên giới phía Bắc. Việc chuyển quân được thực hiện hoàn toàn trong bí mật. Giữa những lo toan bộn bề cho cuộc sống thường nhật và dự định trong tương lai, không có người nào biết được một đại sự đang âm thầm diễn ra.

Cuộc sống cứ thế mà yên ả trôi qua trừ một tin tức chấn động. Hai ngày sau khi đoàn sứ giả Đại Thanh rời khỏi Phú Xuân, vị vua trẻ, người được toàn dân yêu thương và ủng hộ bất ngờ đột quỵ giữa lúc đang họp với mấy người trong bộ chính trị. Tin tức này còn xác thực hơn nữa khi đây là một cuộc gặp gỡ của nhà vua cùng bộ chính trị với những người đại diện của người dân. Cuộc họp này vốn dĩ được tổ chức đều đặn mỗi ba tháng một lần. Đã từ cách nay khá lâu, Toản đã cho tổ chức những cuộc gặp gỡ thế này để hiểu rõ hơn tiếng nói của con dân mình. Các sự kiện này thường diễn ra vào các tháng giêng, năm, tám và mười một. Sở dĩ anh chọn các tháng này vì thông thường, Tết Nguyên Đán hay rơi vào tháng hai và ba dương lịch.

Các bác sĩ Tây y và đại phu Đông y giỏi nhất cả nước đều rục rịch tiến về Kinh thành Phú Xuân. Một buổi hội chẩn lớn sắp được tổ chức để tìm hiểu bệnh tình và chữa trị cho vị vua trẻ. Khắp các đền chùa, nhà thờ đều tổ chức những buổi cầu nguyện. Bá tính thầm xin ơn trên cho Quảng Toản có sức khỏe an khang. Với họ, chỉ có vị vua anh minh, tài giỏi và nhân hậu như Toản mới có thể đem lại cuộc sống ấm no hiện tại. Ngay cả các công sở cũng dành ra mười lăm phút đồng hồ vào mỗi sáng sớm để cầu nguyện tại nơi làm việc.

Đã bốn ngày trôi qua mà vẫn chưa có tin tức tốt lành nào được truyền ra. Cuộc hội chẩn lớn cũng đã qua nhưng không một ai có thể đoán định được căn bệnh này là gì. Nhà vua hôn mê đến nay đã bước sang ngày thứ sáu. Ai nấy đều cảm thấy lo lắng trong lòng không yên. Cả nước chìm trong một không khí ảm đạm.

Như thế, lẽ nào căn bệnh của Toản quả thật nghiêm trọng đến thế sao? Tại sao cơn đột quỵ lại không chọn lúc nào mà lại đến ngay lúc này? Đây là thời điểm then chốt, quyết định sự tồn tại của cả một vương triều hưng thịnh khi mà người Phương Bắc đang lăm le, dòm ngó. Lẽ nào Toản cũng giống như Quang Trung Hoàng đế năm xưa nằm xuống ngay trong thời điểm mấu chốt nhất?

Hoặc dã đây chỉ là một mưu kế? Nếu thế thì nó rõ ràng đã rất thành công. Nhưng mưu kế nào mà lại phải lấy sinh mạng của nhà vua để thực hiện. Làm như thế lẽ nào Toản không sợ mình sẽ có điềm gỡ sao? Và Toản làm thế để làm gì?

……………

Tử Cấm Thành, Bắc Kinh, Đại Thanh triều.

“Thánh thượng giá lâm!”

“Ngô Hoàng vạn tuế… vạn tuế… vạn vạn tuế!”

“Các vị ái khanh! Hãy bình thân!”

Đây là buổi thượng triều của Gia Khánh Hoàng đế sau khi Ngô Hùng Quang cùng đoàn sứ giả trở về đến Bắc Kinh. Đó cũng chính là ngày tám tháng mười một theo Dương lịch. Trước đó một ngày, Gia Khánh đã vô cùng tức tối khi triệu kiến Ngô Hùng Quang ở điện Càn Thanh. Cái tách uống trà yêu thích cũng bị ông quẳng mạnh xuống đất, vỡ nát. Phải nói, từ sau khi diệt trừ đại nịnh thần Hòa Thân, đây là lần đầu tiên Gia Khánh giận dữ đến vậy. Ông ta vốn dĩ được xem như vị Hoàng đế hiền lành và trầm tính. Thế mà việc sỉ nhục sứ giả Thiên triều ngay tại chính điện của Cảnh Thịnh ở đất Phương Nam lại làm ông ta giận sôi gan tím mật. Cũng phải thôi, đây là một sự làm nhục quốc thể, làm nhục trắng trợn và nghiêm trọng đối với Đại Thanh. Ông dự định sáng nay sẽ ban lệnh chinh phạt nước Nam.

Sau khi bá quan văn võ đứng dậy, Gia Khánh nói:

- Chư vị ái khanh. Ngày hôm qua trẫm đã rất tức giận, các khanh có biết lý do vì sao không?

Người ta nói, không có gì đáng sợ hơn cơn giận dữ của Hoàng đế. Nghe Gia Khánh nói thế, toàn thể triều thần đều lắc đầu, đứng im. Có ai dám lên tiếng đâu, họ sợ nói sai sẽ phải hứng chịu cơn thịnh nộ của Thiên tử. Gia Khánh nói tiếp:

- Hừ… Không ai trong các khanh biết à? Thật vô dụng. Chu Khuê! Khanh là Thừa tướng. Thân là người đứng đầu bá quan, lại là ân sư của trẫm, khanh có biết việc gì đang xảy ra hay không?

Chu Khuê vốn là thầy dạy của Gia Khánh. Từ sau khi Hòa Thân chịu tội, ông được phong làm Thừa tướng, chấp chưởng mọi sự vụ lớn nhỏ trong triều. Nghe nhà vua chỉ đích danh, khác với các vị quan khác đang tim đập chân run, ông đường hoàng bước ra, nói:

- Khởi bẩm Hoàng thượng! Tâm tư của Hoàng thượng, thật thần không dám hiểu rõ nhưng cũng hiểu được đôi chút. Không biết cơn giậ của Hoàng thượng đến từ đất An Nam?

- Khanh nói đúng. Hôm qua trẫm mới triệu kiến Ngô Hùng Quang, Tổng đốc Lưỡng Quảng mới đi sứ An Nam về. Nay trẫm sẽ cho triệu y vào để các khanh đều tỏ.

Đoạn, ông quay sang tên thái giám đang đứng hầu ở bên, nói: “Mau truyền Ngô Hùng Quang, Phó Văn Phương, Mã Văn Hào lên điện”.

Ba người được gọi tên lục tục bước lên chính điện trong những ánh mắt tò mò của bá quan văn võ. Trong ba người, Phó Văn Phương vốn bị đánh đòn, lại phải gấp rút trở về nước nên vẫn còn đau, bước chân tập tễnh. Lên đến nơi, cả ba cùng quỳ xuống khấu đầu Hoàng đế. Gia Khánh nói:

- Ba vị khanh gia hãy bình thân. Phó khanh gia, khanh vẫn còn đau, trẫm ban cho ngồi.

- Tạ chủ long ân – Phó Văn Phương lạy tạ.

Sau đó, Gia Khánh lại truyền cho Ngô Quang Hùng bẩm báo lại mọi chuyện. Nghe lời, Ngô Quang Hùng kể lại rành mạch những gì mà đoàn sứ bộ đã trải qua ở Việt Nam. Y lại còn không quên thêm mắm dặm muối, khoa chân múa tay kể khổ. Hai viên phó sứ cũng hùa theo tố cáo. Bọn họ dùng những từ ngữ nặng nề nhất, xấu xa nhất dành cho Việt Nam như “lũ man di”, như “bọn vô học”, “lũ thổ phỉ”, hay như nói Toản là tên “cẩu tặc”, “tiểu nhân đắc chí”…

Chưa hết, Mã Văn Hào còn tố bọn họ trong lúc trên đường trở về lại còn bị truy đuổi và bức hại trên biển mặc dù việc này chưa hề xảy ra. Quả thật, nếu ngày đó có một giải thưởng dành cho những kịch sĩ thiên tài thì ba người bọn họ xứng đáng giành được ba thứ hạng đầu.

Lời kể của ba “nhân chứng” quá sống động và “chân thật” đến nỗi ai nấy trong triều đều tỏ ra căm phẫn. Mấy vị quan văn thì chỉ lắc đầu, mắt nhắm chặt, luôn miệng nói “đồ không biết phép tắc, không hiểu lễ giáo”. Trong khi đó, mấy vị võ tướng thì nắm chặt tay thành hình nắm đấm, mắt long sòng sọc, luôn miệng nói “cái lũ vô học đáng chết”.

Sau khi ba người nọ diễn xong vở tuồng, Gia Khánh nói:

- Chư vị ái khanh! Các khanh nói thử trẫm phải làm thế nào đây?

“Đánh… đánh… đánh bẹp chúng cho chúng biết mặt”, mấy viên võ tướng mày râu dựng ngược cùng la to lên. Ôn hòa hơn một chút, Binh bộ Thượng thư Khánh Quế nói:

- Khởi bẩm Hoàng thượng! Chúng nay đã xúc phạm Thiên triều. Ấy là tội lớn không thể tha. Khẩn xin Hoàng thượng cho cất binh chinh phạt. Nhưng trước hết, chúng ta cần phải suy xét mọi sự trước sau cho tỏ tường đã.

- Thần cũng thấy vậy, tâu Hoàng thượng. – Đại học sĩ Lưu Dong bước lên.

- Đúng vậy. Việc thảo phạt lũ man di này là phải làm. Nhưng trẫm cũng đồng ý với hai vị khanh gia. Chúng ta cần phải bàn bạc thêm khi nào sẽ tiến hành và tiến hành bằng cách nào, ai sẽ cầm quân.

Bá quan nhìn nhau, họ thảo luận một hồi. Một lúc sau, có người bước ra, nói:

- Khởi bẩm Hoàng thượng. Bọn chúng đúng là lũ vô học. Thần ủng hộ ý thảo phạt.

- Khởi bẩm! Thần vừa thu được một tin tức – một người khác nói. – Những năm gần đây, sở dĩ đám phản tặc Hồng Hoa hội dấy binh làm phản là nhờ bọn tặc tử An Nam cung cấp tiền tài, quân nhu và xúi dục. Dẹp yên An Nam, Hồng Hoa hội không còn ai chống lưng sẽ tự nhiên tan rã.

- Có chuyện này sao? Sao trước nay trẫm không hề nghe ai nói?

Lại một lần nữa, Gia Khánh lại nổi trận lôi đình. Phải nói Hồng Hoa hội là cái gai trong mắt ông ta đã mấy mươi năm nay. Trong dân gian lại có tin đồn thủ lĩnh Hồng Hoa hội Trần Cận Nam năm xưa có quan hệ không nhỏ với hai vị tiên đế là Khang Hy và Càn Long nên Gia Khánh đã nuôi lòng bình định nỗi lo nội loạn này từ lâu. Thế mà càng dẹp, quân phản loạn lại càng mạnh mẽ. Nếu việc này lo liệu không xong thì Thanh triều tất sinh nguy biến.

- Hoàng thương – Đại học sĩ Đổng Cáo lại lên tiếng. – Việc chống lưng của An Nam nếu có thì phải nói là một chuyện hết sức bí mật. Việc truy ra điều này phải nói là rất khó. Thế nên mong Hoàng thượng bớt cơn thịnh nộ. Bây giờ, gốc rễ nội ưu đã tra ra, việc nhổ bỏ nó không còn là vấn đề nữa. Chỉ cần cắt đứt nguồn viện trợ là phản quân sẽ tan rã thôi. Cái chính là bây giờ chúng ta nên cất quân thảo phạt. Đây là kế một ná bắn hai chim.

- Bẩm Hoàng thượng! Thần có hai nghi vấn. – Định Thân vương Miên Ân nói.

- Thân vương, khanh nói.

- Thứ nhất, An Nam trước giờ rất yên phận, tại sao bây giờ lại công khai khiêu khích uy danh Thiên triều? Thứ hai, việc chu cấp cho phản quân là một việc hết sức bí mật. Tại sao việc này không sớm, không muộn lại bại lộ ngay lúc này? Vậy phải chăng chúng có âm mưu khác?

Nghe nói vậy, Gia Khánh ra chiều suy nghĩ. Đúng vậy, cả hai vấn đề mà Định Thân vương nói ra đều đi đúng vào trọng tâm. Ông ta giờ đâm ra khá lúng túng, chưa biết phải xử sao cho đúng. Lúc này, Khánh Quế lại phân tích:

- Bẩm Hoàng thượng! Thần thấy lo lắng của Định Thân vương đúng là đang phải suy nghĩ. Theo thần, thứ nhất, bây giờ đám man di An Nam tỏ ra hống hách bởi vì chúng nghĩ chúng đã đủ sức đương cự với ta. Mấy năm qua, thám tử Thiên triều có báo cáo về sự sung túc của bọn chúng. Thế thì chúng dám ngang nhiên khiêu khích cũng là điều dễ hiểu. Còn vấn đề thứ hai, thần nghĩ, đây là chúng cố tình lộ ra. Chúng muốn nói cho ta biết, “trước hết chúng ta phải tự lo cho thân mình đi”. Như vậy, chúng ta sẽ không có hơi sức đâu mà trừng phạt chúng.

- Theo thần thấy phân tích của Khánh đại nhân là có cơ sở - Lưu Dong nói. – Bọn man di nghĩ rằng chúng đã đủ lông đủ cánh rồi, muốn bay lên trời mà thôi. Thế nhưng chúng tính vẫn sai một nước, đó là nếu ta chấp nhận tạm thời bỏ qua phản quân mà đối phó chúng thì ta lại có được hai cái lợi ích như đã nói. Thần đề nghị Hoàng thượng chuẩn y việc thảo phạt.

- Thần còn nghe nói – Đổng Cáo lại nói thêm – Cảnh Thịnh vừa qua bị đột quỵ. Nếu thế thì bộ máy của bọn chúng tạm thời sẽ tê liệt.

- Có chuyện này sao? – Mắt Gia Khánh bỗng sáng lên.

- Bẩm Hoàng thượng! – Khánh Quế nói tiếp – Việc này là chính xác. Nghe nói y đột quỵ trước mặt bá quan và dân chúng. Thần cũng gấp rút cho người điều tra và xác nhận. Triều chính của bọn chúng hiện đang bị bỏ bê, tất cả đang dồn sức chữa chạy cho thằng lõi con Cảnh Thịnh. Thần nhận định đây là cơ hội không có khi nào tốt hơn. Thần dự định hôm nay sẽ bẩm báo. May sao vừa lúc chúng ta đang bàn luận việc này. Và cách nay hơn một tháng, theo lời Hoàng thượng, thần đã cho binh sĩ tập kết ở phía nam, lương thảo đầy đủ, bất cứ lúc nào cũng có thể động binh.

- Tốt… Tốt… Tốt…

Gia Khánh nói liền ba tiếng tốt. Đây là lần đầu tiên ông ta cười sảng khoái và vui vẻ. Đoạn, ông nói tiếp:

- Ngày trước ta sai khanh cho tập kết một trăm vạn quân. Nay việc đã thế này, ta nghĩ, chỉ cần với ba mươi vạn quân là dư sức bình định An Nam, đưa đất đó quy về cố thổ.

- Hoàng thượng! Thần thấy không ổn. – Lưu Dong nói.

- Khanh nói không ổn chỗ nào?

- Bẩm! Ngày trước, Tiên đế phái đi ba mươi vạn quân, những tưởng có thể bình định chúng. Nào ngờ chúng ta đã phải lui binh. Nay tình thế thay đổi. Tuy nói là ưu thế nghiêng hẳn về chúng ta. Nhưng cũng không thể tỏ ra khinh địch được.

- Hoàng thượng – Khánh Quế nói tiếp. – Thần cũng đồng ý với Lưu Đại học sĩ. Chúng ta nên phái đi năm mươi vạn quân để đề phòng vạn nhất.

- Được. Năm mươi vạn thì năm mươi vạn. Trận này trẫm muốn thân chinh. Chúng đã khiến trẫm thực sự nổi giận rồi.

- Hoàng thượng thân thể nghìn vàng, vạn lần không thể. – Bá quan nhao nhao khuyên can,

- Ý trẫm đễ quyết, tuyệt không thay đổi.

Lúc này, Nghi Thân vương Vĩnh Tuyền lên tiếng:

- Hoàng huynh! Huynh có thể nghe đệ nói một lời không?

- Đệ mau nói. Nhưng cũng đừng mong trẫm thay đổi chủ ý.

- Tạ ơn Hoàng huynh. Đệ cũng như huynh, rất căm giận bọn chúng. Nhưng như bá quan đã nói, Hoàng huynh thân thể nghìn vàng, quyết không nên xông pha vào nguy hiểm. Đệ cũng chảy trong mình dòng máu Ái Tân Giác La, đệ nguyện thay huynh trưởng cầm quân. Việc này, Hoàng huynh hay đệ cầm quân cũng đã có thể hiển hiện Thiên uy. Còn nữa, khi chiếm được kinh thành của bọn chúng, đệ sẽ mời huynh hạ cố đến. Thằng lõi Cảnh Thịnh đó tùy huynh xử trí trước mặt dân của chúng để tỏ rõ cơn giận của Thiên tử là thế nào.

Ngẫm nghĩ một hồi lâu, Gia Khánh cũng thay đổi quyết định. Ông ta đồng ý phái Nghi Thân vương Vĩnh Tuyền lĩnh ấn soái, mang theo năm mươi vạn quân đi thảo phạt Việt Nam. Một điều quan trọng nữa, lần này ông ta không cho thủy quân đi. Bởi lẽ, tin tức truyền về cho thấy hải quân Việt Nam thật sự rất mạnh. Nếu đối chiến trên biển, dù chiến thắng nhưng Đại Thanh cũng sẽ chịu tổn thất không nhỏ.

Cuối cùng, Gia Khánh lệnh cho Nghi Thân vương hai ngày sau làm lễ bái tướng, tế cờ xuất chinh. Vậy là cuộc chiến giữa hai nước từ đây đã chính thức bùng nổ.
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
4,731
Reaction score
317
Points
83
Chương 62: Chiến tranh
Ngày 16 tháng 11 năm 1805, nhằm ngày 27 tháng 10 năm Ất Sửu, Tử Cấm Thành, Bắc Kinh,

Hôm nay, trong khuôn viên Tử Cấm Thành, người ta cho dựng lên một tế đài hình bát giác cao tám mét. Ở mỗi cạnh của tế đài cắm một lá cờ lớn tương ứng với quân kỳ của tám Kỳ binh. Trên đài cắm hai lá cờ cỡ lớn, một là Đại Thanh Hoàng Kỳ, còn lại là một lá soái kỳ. Ngoài ra, trên đó còn có bàn hương án, giá để mười tám món vũ khí, tục gọi thập bát ban binh khí, đại diện cho sức mạnh của quân đội, chia ra hai bên hương án.

Phía dưới đài, binh sĩ đứng xếp hàng ngay ngắn theo từng nhóm Kỳ binh. Đầu hàng là các võ tướng thống lãnh cùng tham tướng, phó tướng. Hôm nay, họ tập trung nơi đây để làm lễ tế cờ, xuất binh thảo phạt Việt Nam. Mọi công việc chuẩn bị đều được tiến hành từ sớm. Tất cả mọi người đều hồi hợp chờ đợi Gia Khánh Hoàng đế cùng bá quan văn võ xuất hiện sau buổi chầu sớm.

Đầu giờ Ngọ, hai hàng quan văn võ lục tục kéo đến, xếp hàng dưới chân đài. Lúc này, viên thái giám truyền chỉ nói lớn: “Hoàng thượng thượng đàn”.

Phía dưới, bá quan cùng binh sĩ hô vang: “Ngô Hoàng vạn tuế… vạn tuế… vạn vạn tuế…”

Gia Khánh lúc này mới xuất hiện, bước từng bước chậm rãi lên từng bậc thang trong từng tiếng hô “vạn tuế”. Lên đến nơi, ông ta phất tay nói “Trẫm miễn lễ, chư vị khanh gia bình thân” rồi ngồi xuống chiếc Long ỷ được chuẩn bị từ trước. Đoạn, ông ta ra hiệu cho viên thái giám bên cạnh, sai y đọc chiếu thư. Viên thái giám lạy tạ rồi mở cuộn giấy, ưỡn mình đọc lớn:

“Thượng thiên thừa vận, Hoàng đế chiếu viết,

Trẫm nhờ trời cao chiếu cố đã trải hơn mười năm tại ngôi vị Thiên tử. Trong mấy năm này, những việc Trẫm làm dù ít nhiều chưa thể so sánh với Thập toàn võ công của Tiên đế. Thế nhưng, Trẫm tự tin mà nói, mấy năm qua, dưới sự trị vì, nơi nơi quốc thái dân an. Điều an ủi và tự hào nhất, đó là chính tay Trẫm đã phế bỏ Đại gian thần Hòa Thân cùng Phúc Khang An, đem lại sự ổn định cho triều chính.

Việc lo lắng hiện nay của Trẫm chính là bọn phản tặc Hồng Hoa hội. Đây chính là nội ưu. Gần đây, Trẫm có được tin tức xác đáng rằng chính bọn man di An Nam đã chu cấp cho chúng tiền tài, binh khí để dấy quân làm phản. Bởi thế nên bọn man di phương Nam kia chính là ngoại loạn vậy.

Tình thế Giang sơn hôm nay đang hồi nguy cấp. Trong có nội ưu, ngoài có ngoại loạn. Trẫm cũng đã có kế sách bình loạn. Đó là phải dẹp bỏ ngoại loạn trước. Nhờ thế mà bọn tặc phỉ Hồng Hoa hội sẽ không còn kẻ chống lưng, tất sinh bất ổn và sụp đổ.

Lại nữa, xứ man di An Nam kia mỗi ngày lại thêm hống hách và khinh lờn Thiên uy. Từ ngày An Nam vương Nguyễn Quang Bình của chúng còn sống, nhân Tiên đế lúc này tuổi đã cao, chúng đã cấu kết với Đại gian thần Hòa Thân và Phúc Khang An để mưu lợi. Điều đó cho thấy chúng đã có âm mưu từ trước.

Vừa rồi, Trẫm đã sai Tổng đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang đi sứ sang đó. Định rằng chuyến đi này nhằm để hỏi tội tại vì sao năm năm rồi chúng còn chưa phái người đi diện kiến và cống nạp cho Thiên triều. Thế mà cả Chính sứ Ngô Hùng Quang và Phó sứ Phó Văn Phương đều bị chúng dùng nhục hình trên chính điện. Đây là điều xúc phạm Thiên triều quá thể.

Mọi điều trước mắt đều cho thấy đám man di An Nam quả là tội lớn khó tha. Nay Trẫm quyết định cất binh thảo phạt. Trước là để đạp chúng dưới gót chân Thiên triều, làm gương cho các nước khác. Sau là để cắt đứt nguồn tiếp tế cho lũ phản tặc Hồng Hoa hội.

Trẫm quyết định ban soái kỳ, kiếm lệnh cùng ấn tín cho Nghi Thân vương Vĩnh Tuyền. Lại sắc phong cho làm Chinh Nam Đại Nguyên soái, lãnh binh năm mươi vạn. Khanh hãy thay Trẫm dạy cho chúng biết thế nào là uy quyền và cơn thịnh nộ của Thiên tử.

Khâm thử!”

Lúc này cũng vừa khéo chính Ngọ. Một hồi trống lệnh vang lên. Viên thái giám lại nói to: “Mời Nghi Thân vương Vĩnh Tuyền lên đài bái tướng”.

Vĩnh Tuyền chắp tay dạ ran rồi bước từng bước vững chãi lên đài. Hôm nay, y trông thật oai phong trong tướng bào, đầu đội hổ quan, khác hẳn dáng vẻ nho nhã ngày thường. Đến trước mặt Gia Khánh, y quỳ xuống hành lễ:

- Hoàng đệ Vĩnh Tuyền bái kiến Hoàng huynh. Cung chúc Hoàng huynh vạn tuế… vạn tuế… vạn vạn tuế…

Viên thái giám lại nói: “Mời Hoàng thượng ban soái kỳ, kiếm lệnh, ấn tín cho Nghi Thân vương”.

Từng món tín vật đại biểu cho quyền lực của nguyên soái được Gia Khánh tận tay giao cho Vĩnh Tuyền. Đoạn, ông ta nói:

- Hoàng đệ! Nay trẫm gia phong cho đệ là Chinh Nam Đại Nguyên soái. Đệ hãy thay trẫm mà lãnh hai mươi lăm vạn quân thuộc Phó Hoàng Kỳ và hai mươi lăm vạn quân thuộc Chính Hồng kỳ đi thảo phạt lũ man di. Trận này, đệ hãy một lần xóa tên An Nam, sát nhập chúng vĩnh viễn vào cương thổ Đại Thanh.

- Hoàng đệ lĩnh chỉ và quyết không làm nhục mệnh.

- Tốt lắm, đệ hãy bình thân và nói vài lời trước mặt ba quân, ủy lạo tinh thần binh sĩ, thể hiện uy nghiêm của Đại Nguyên soái.

Vĩnh Tuyền lại vâng dạ rồi đứng lên. Y hướng xuống dưới đài nói một tràng dài để thể hiện uy nghiêm. Y nói cũng nhiều lắm. Nào là mỗi nam tử Hán phải biết xả thân vì nước, vì Thiên tử. Nào là Việt Nam là lũ rợ An Nam, nhiều lần xúc phạm Thiên triều. Nào là Việt Nam chính là đầu sỏ xúi dục Hồng Hoa hội làm phản. Và còn nhiều, nhiều nữa. Y lại nói lần này mỗi binh sĩ đều mang trên mình một sứ mạng vinh quang, công lớn lưu danh nghìn thu.

Buổi lễ tế cờ bái tướng đến đây cũng kết thúc với tiếng hô vang của quân sĩ. Vĩnh Tuyền lại định năm ngày sau, tức ngày 21 tháng mười một, nhằm ngày 1 tháng 10 năm Ất Sửu sẽ chính thức động binh.

……………

Ngay sau lễ tế cờ của Đại Thanh, Toản cùng triều thần tại Phú Xuân cũng nhận được tin tức từ chim ưng truyền thư của những nhân viên CPQ cài sâu trong lãnh thổ đối phương. Các tin tức khác về động tĩnh của năm mươi vạn quân cũng nhanh chóng truyền về. Một cuộc họp quân cơ lập tức được tổ chức dưới sự chủ trì của Toản.

Bước vào cuộc họp, mọi người thấy thần sắc của nhà vua hồng nhuận, tươi tắn, nào thấy dấu vết của bệnh tật. Lại nữa, tinh thần của anh sảng khoái vô cùng. Như vậy, quả là trước đây tin anh bị đột quỵ là giả. Tất cả chỉ để nhằm che mắt nhà Đại Thanh. Và người Phương Bắc đã trúng kế. Họ gấp rút tiến hành chiến tranh.

Mỉm cười với bá quan, Toản nói:

- Các vị khanh gia! Người Phương Bắc đã trúng kế. Chúng đã gấp rút điều binh. Theo thám báo, ngày hai mươi mốt sắp tới, tức là còn hai ngày nữa, chúng sẽ tràn qua lãnh thổ nước ta. Các khanh hãy mau phân tích tình hình.

Đông Định vương Nguyễn Phi Long vốn là Giám đốc CPQ lúc này lên tiếng:

- Bẩm Bệ hạ cùng các vị đồng liêu. Tin tức của thám báo CPQ truyền về cho biết Đại Nguyên soái giặc là Nghi Thân vương Vĩnh Tuyền. Y tuổi đời còn khá trẻ, lại khá hiếu thắng. Y lãnh năm mươi vạn quân, chia làm hai lộ quân. Lộ thứ nhất gồm hai mươi lăm vạn quân Phó Hoàng kỳ, hiện đang đóng ở Hồng Hà, hành tỉnh Vân Nam. Hướng đi của lộ quân này dự kiến là sẽ đánh vào Hà Giang. Lộ thứ hai gồm hai mươi lăm vạn quân Chánh Hồng kỳ, hiện đang đóng ở Sùng Tả, hành tỉnh Quảng Tây. Lộ quân này dự kiến sẽ đánh vào Lạng Sơn. Theo tin tức báo về, Vĩnh Tuyền sẽ nắm lộ quân thứ hai. Nắm giữ lộ quân thứ hai lại là người quen của chúng ta, Tổng đốc Lưỡng Quảng Ngô Hùng Quang.

- Ha… ha… ha… – Quang Thùy cười lớn – Thằng già Ngô Hùng Quang chắc là chê hai mươi trượng vào mông còn chưa đủ đây mà.

- Lần này nếu bắt được y, Bệ hạ hãy cho thần tự tay tặng hắn hai mươi trượng, à không, năm mươi trượng vào mông nhé – Nguyễn Văn Tuyết vừa cười, vừa nói.

Thật là hết hiểu nổi. Có ai dám tin đây là cuộc họp bàn kế sách chiến tranh không đây? Người nào người nấy đều cười đùa vui vẻ. Thật, điều này chỉ thấy ở Việt Nam dưới triều Cảnh Thịnh mà thôi. Lúc này, Nguyễn Ánh mới nói với mọi người:

- Thôi, mọi người đừng đùa nữa. Quang Thùy, nghĩa phụ trước nay chưa từng nghĩ con lại như thế này, phải nghiêm nghị lắm chứ. Còn nữa, lã Tuyết, lão cũng thật là. Già rồi mà vẫn hùa cùng đám trẻ mà cười đùa.

- Nghĩa phụ à – Thùy lắc đầu, le lưỡi nói. – Bản tính con là vậy mà. Trong ba anh em thì trừ chú tư là Hoàng đế phải nghiêm nghị ra, con và chú ba Bàn lúc nào cũng vậy. Tạo không khí mà nghĩa phụ.

- Thôi được rồi anh hai. Nhiều lúc em không dám tin mình có hai người anh như vậy nữa đó. Nào, các khanh hãy tính toán xem chúng ta phải làm thế nào đi.

Nguyễn Quang Huy vốn là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nên lúc nào cũng phải là người phát pháo trước. Anh nói:

- Bẩm Bệ hạ! Hiện tại, Quân đoàn một đang đóng ở phía Bắc, lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh. Quân đoàn bốn thì đang gấp rút di chuyển, hiện cũng đã ở ngoài Thăng Long rồi. Hạm đội bốn cũng đã sẵn sàng ngoài vịnh Bắc Bộ. Tất cả chỉ còn chờ Bệ hạ sắp xếp mà thôi.

- Bẩm Bệ hạ - Thượng tướng quân Đặng Văn Long nói. – Thần nghĩ, trước ta phải sắp xếp xem quân đoàn nào sẽ đối đầu lộ quân nào.

- Chú Long, chú nói vậy thì chắc là cũng đã có chủ ý. Chú nói trẫm và mọi người nghe thử xem.

- Thần thấy, Quân đoàn một trước giờ ở Bắc Hà, xưa nay vốn đã quen thuộc địa hình, lại thiện chiến. Thế nên ta có thể điều lên đón đầu lộ quân thứ nhất của chúng và bắt giữ Vĩnh Tuyền. Còn Quân đoàn bốn vốn dĩ trước nay phục vụ dưới quyền của Thái thượng hoàng, đã quen chinh chiến xa nhà và có sở trường tác chiến ở đồng bằng. Thế nên, ta cho họ đón đầu lộ quân thứ hai. Phần hạm đội bốn, hãy cho họ chờ người Anh Cát Lợi tiến công rồi mới hành động.

- Có lý. Thần đồng ý với lão Long – người mới lên tiếng là Thượng tướng quân Nguyễn Huỳnh Đức. – Thần hiểu rất rõ Quân đoàn bốn. Họ thật sự có sở trường tác chiến ở đồng bằng và công thành chiếm đất. Lý ra, thần đã muốn xung phong, xin Bệ hạ cho cầm quân. Thế nhưng, thần cũng hiểu tâm tư của Bệ hạ. Chúng thần dù là người cũ phương nam hay Thất Hổ Tây Sơn hay Ngũ Phụng Thư đều đã già rồi. Chúng thần nên tạo điều kiện cho lớp trẻ thể hiện tài năng.

Phải nói thêm một chút. Hàm Thượng tướng quân đối với quân đội Việt Nam mang ý nghĩa danh dự nhiều hơn và những người có quân hàm này đều là những tướng quân dạn dày kinh nghiệm. họ sẵn sàng lui về hậu phương, đảm nhiệm việc đào tạo, hoạch định và tham mưu cho quân đội. Tất cả đều nhường cho lớp trẻ thể hiện tài năng. Ngoài Tây Sơn Thất Hổ, Ngũ Phụng Thư, còn có năm vị mang quân hàm này là Nguyễn Văn Thành, Nguyễn Huỳnh Đức, Võ Tánh, Lê Văn Duyệt, Nguyễn Văn Thoại.

Thượng tướng quân Lê Văn Duyệt vốn là người mưu trí, trước nay luôn giữ vai trò quân sư cho Nguyễn Ánh. Sau khi Sài Gòn định hình, ông cũng lui về, giữ một vai trò quan trọng trong Ban Tham mưu, Bộ Chính trị. Duyệt thưa:

- Bẩm Bệ hạ! Lúc trước, ta đã định sẽ cho chúng thắng những trận đầu để tạo cái cớ. Thế nên, với lộ quân thứ nhất, thần nghĩ chúng ta cứ cho chúng chiếm cứ Hà Giang. Quân đoàn một sẽ chia ra kiểm soát Cao Bằng, Bắc Kạn, Yên Bái, Lào Cai. Nhiệm vụ của họ là nhốt chúng gọn trong Hà Giang. Với lộ thứ hai, ta cứ để cho chúng một đường thuận lợi áp sát Thăng Long. Tức là cứ cho chúng tiến quân qua Lạng Sơn, Thái Nguyên. Quân đoàn bốn lại chia làm hai, một trấn thủ Bắc Giang, một trấn thù Bắc Thăng Long. Dù sao y cũng là người quen, lại khi dễ người Việt mà.

- Ý khanh là chúng ta chơi đòn tâm lý với chúng? Lộ thứ nhất do Vĩnh Tuyền nắm, thấy khó khăn trong việc tiến lên nên sẽ dịch dần qua hướng đông, chúng ta sẽ mai phục và cắt đôi lộ quân này. Còn lộ quân thứ hai sẽ nhanh chóng khinh địch mà kém đề phòng. Khi lộ quân này áp sát Thăng Long, một nửa Quân đoàn bốn sẽ tập hậu chúng. Trẫm nói thế có đúng không? – Nguyễn Ánh hỏi.

- Thái thượng hoàng! Ngài nói thế là đúng, nhưng chưa đủ. Thần muốn làm như thế là để trong lúc này, Bệ hạ sẽ soạn một chiếu thư công bố với toàn dân. Rằng chúng thừa cơ Bệ hạ đang bệnh, quốc sự chậm trễ mới có thể lấn sâu vào. Để cho dân chúng biết không phải là chúng ta yếu mà là vì bận bịu nên mới như vậy. miền Bắc hiện nay chủ yếu là do các vị tù trưởng, già làng các dân tộc anh em ít người trấn thủ. Khi chiếu ban ra, họ sẽ có lòng tin là chúng ta không bỏ rơi họ mà không biết rằng đây là sự sắp xếp có chủ đích. Như vậy thì chính nghĩa sẽ nằm trong tay ta. Và lần chinh phạt sắp tới cũng sẽ làm nức lòng mọi người.

- Kế hay lắm, lão Duyệt – Thượng tướng quân Trần Quang Diệu nói. – Nói thật nhé, ngày trước tôi không hề e ngại lão Tánh, lão Đức hay lão Thành mà chính là lão đó. Lão xứng đáng được xem là bộ não của toàn quân.

- Không dám. Lão thì có kém gì tôi. Cũng là quỷ kế đa đoan đấy thôi.

Hai vị tướng già, ông tung tôi hứng, cùng cười phá lên. Nhưng đúng là họ phục nhau thật đấy. Câu “người hiểu rõ anh nhất chính là kẻ thù của anh” là hoàn toàn chính xác. Giờ đây, hai người vốn là kẻ thù của nhau lại đứng cùng chiến tuyến, tình cảm giữa họ phút chốc trở nên chan hòa và thân ái.

- Bệ hạ! – Nguyễn Quang Huy nói – Thần đồng ý với hai vị lão tướng quân. Đây là một kế sách hay.

- Trẫm cũng thấy thế – Toản nói. – Tài trí của chú Duyệt, bản thân trẫm chưa hề nghi ngờ. Mưu kế lần này của chú lại càng chứng tỏ được điều đó. Nghĩa phụ à, đâu phải là chỉ có Tây Sơn Thất Hổ mới là giỏi. Cha cũng thấy mấy chú Duyệt, Đức, Thành, Tánh cũng là bậc trí dũng song toàn đó thôi. Nói thật, con rất hâm mộ các chú đó, nghĩa phụ à.

Nghe thế, Ánh cũng thấy sướng vui trong bụng. Ít ra, ông nghĩ ngày trước mình thua không phải là vì mình không có đủ người tài và binh lực. Cái thua lớn nhất nằm trong hệ thống vũ khí mà thôi.

Cuối cùng, mọi người đều đồng ý với kế sách này. Ngày 21 tháng 11, quân Thanh tràn qua bờ cõi Việt Nam. Đúng như dự định, lộ quân thứ nhất do Vĩnh Tuyền làm chủ tuy chiếm được Hà Giang nhưng lại gặp phải sự kháng cự cực mạnh của Quân đoàn một. Cho tới một tuần lễ sau, chúng không thể tiến thêm một bước. Với quân số đông đảo lên tới hai mươi lăm vạn, tức là hai trăm năm mươi nghìn, tưởng rằng Quân đoàn một với hơn bốn mươi nghìn người cũng phải trả ra cái giá rất đắt để kìm chân. Thế mà, mỉa mai thay, Quân đoàn bốn chưa hề mất một binh một tốt nào. Tổng tư lệnh Quân đoàn một là Đại tướng Trần Vũ, một vị tướng trẻ, năm nay mới chỉ hai mươi tám tuổi đã lợi dụng địa hình, phát huy đến mức cao nhất chiến thuật du kích để nhốt chúng lại trong đất Hà Giang. Với lợi thế tầm bắn xa của TSG02 cùng với sự thoắt ẩn, thoắt hiện của binh sĩ, Quân đoàn một dần trở thành ác mộng của Vĩnh Tuyền khi mỗi ngày trôi qua là y phải mất hơn hai trăm người. Cùng lúc đó, Ngô Hùng Quang nhờ sự “giúp đỡ” của Quân đoàn bốn của Tổng tư lệnh, Đại tướng Phạm Văn Dễ đã tiến rất sâu vào. Cũng qua một tuần, lộ quân thứ hai đã bắt đầu áp sát Thăng Long.

Lúc này, Vĩnh Tuyền quyết định thay đổi chiến thuật. Y bắt đầu chuyển quân sang Lạng Sơn, nơi mà nhà Thanh đã chiếm được, dự là sẽ đánh vào sau lưng Quân đoàn một rồi mới cùng lộ quân của Ngô Hùng Quang, hai mặt giáp công Thăng Long. Lại nữa, y sai người lệnh cho Ngô Hùng Quang dừng bước mà chờ mình. Chính mệnh lệnh này đã làm cho Ngô Hùng Quang bất mãn. Cũng phải thôi, Ngô Hùng Quang nghĩ: “Vĩnh Tuyền quả thật chỉ là công tử bột. Cùng xuất quân với nhau, thế mà ta đã tiến được đến đây trong khi hắn vẫn còn bị trói chân ở đất Hà Giang. Hắn lệnh cho mình dừng lại là sợ mình tranh công đây mà”. Nghĩ như vậy nhưng Ngô Quang Hùng cũng chấp hành mệnh lệnh này. Y cũng muốn binh sĩ nghỉ ngơi đôi chút.

Vậy là bước đầu tiên trong kế sách Bắc phạt của Toản đã thành công. Việc tiếp theo mới chính là màn chính của vở kịch mà anh chính là đạo diễn vốn đã ấp ủ bấy lâu. Và cũng từ giờ phút này, con rồng Việt Nam mới bắt đầu gầm lên, làm rung chuyển một góc trời.
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
4,731
Reaction score
317
Points
83
Chương 63: Bắt sống Vĩnh Tuyền
“Trung Hoa phương bắc, đất bao la
Cần chi nam tiến gây thù oán?
Công thành chiếm đất nước Nam ta
Một đòn quét sạch, chớ bảo oan”

Lời thơ ấy không biết từ đâu vang vọng trong một đêm cuối tháng mười một bên bờ nam sông Hồng. Trong cái vẻ tĩnh mịch và lạnh lẽo, bài ca ngâm cứ thế gieo vào lòng những binh sĩ Đại Thanh. Đây chính là lộ quân thứ hai do Ngô Hùng Quang làm thống lĩnh. Họ vốn dĩ đã rất bực dọc do lệnh hạ trại chờ hội quân của Đại Nguyên soái. Đã ba ngày rồi, họ vẫn chưa thấy được bóng dáng của lộ quân kia. Thế mà cứ đêm đến, bài thơ kia cứ mãi được cất lên. Giọng thơ vừa mang tính thê lương, lại có vẻ giận dữ cứ thế vang vọng như lời ai oán của những linh hồn ở chốn cửu u muốn đòi mạng.

Không riêng gì binh sĩ, người giận nhất chính là Ngô Hùng Quang. Binh pháp có câu “Binh quý thần tốc. Thế mà ba ngày, đã ba ngày nay lộ quân này đã phải chôn chân tại đây. Y tỏ ra bực bội vô cùng. “Mà kể ra lúc man di này cũng lạ. Thành quách chả ra hồn người khi mà chẳng thấy hình thù của tường thành. Ấy vậy mà chúng đòi một đòn diệt sạch quân ta”, y nghĩ thầm.

“Chẳng lẽ chúng đang đợi điều gì khi mà đêm nào cũng ngâm thơ?” “Đứng ở bờ Bắc con sông này, mọi động tĩnh trong thành ta thấy hết. Rõ là ban ngày ta vẫn thấy được cư dân buôn bán, đi lại như thường ngày. Thế này là thế nào? Thế này đâu có giống như đang chiến tranh”. Các câu hỏi như thế cứ ong ong vang lên trong đầu viên Phó Nguyên soái.

“Thôi chết! Đã ba ngày nay không nghe được tin tức gì của thằng lõi Vĩnh Tuyền. Lẽ nào...?”

Ngô Hùng Quang bất chợt suy nghĩ thế rồi bước tới tấm bản đồ làm bằng da dê được căng lên trong trướng chỉ huy. Y nhìn thấy gì? Vẻ hoảng hốt và lo lắng hằn lên khuôn mặt đen sạm của y.

“Thôi đúng rồi. Vĩnh Tuyền không thể tiến lên được bước nào, bị vây ở Hà Giang rồi. Y chỉ còn một cách là vòng sang đây. Địa hình ở đây là núi rừng trùng điệp. Đường xá lại dài và nhỏ hẹp. Vĩnh Tuyền vòng sang đây chắc chắn phải trải quân dài ra. Lũ man di An Nam chỉ cần phục kích ở mấy nơi này là có thể xé nhỏ và tiêu diệt. Chúng sẽ vòng ra sau lưng quân ta. Thế này thì...” Lưng áo Ngô Hùng Quang bất chợt ướt đẫm mồ hôi khi nghĩ đến những điều này.

“Người đâu! Mau gọi Hồ Sĩ Nguyên, Vệ Minh đến đây cho ta!” Y lớn tiếng quát tên lính đang đứng gác bên ngoài. “Phải hành động. Nhanh chóng hành động thôi”.

Một lát sau, hai phó tướng của y là Hồ Sĩ Nguyên và Vệ Minh vén cửa, bước vào trong trướng. Phải hiểu giờ này đã rất khuya, cũng dễ là hơn hai giờ sáng rồi. Cả hai viên tướng bước vào dù rất cố gắng nhưng cũng không thể giấu được vẻ mệt mỏi và buồn ngủ. Họ đều nói: “Phó Nguyên soái, đại nhân cho gọi chúng mạt tướng? Có việc gì thế?” Nhìn hai người, Ngô Hùng Quang hỏi:

- Tới rồi à? Hai ngươi có thấy chuyện lạ gì không?

- Ý Phó Nguyên soái là quan quân đám man di này à? Thế thì chả có gì bất thường cả - Hồ Sĩ Nguyên nói.

- Mạt tướng cũng thấy vậy.

- Đồ ngu – Ngô Hùng Quang quát. – Không có gì bất thường chính là rất bất thường đó. Các ngươi làm tướng bao lâu rồi mà sao không tỏ?

Hai viên phó tướng nhìn nhau, cúi đầu tỏ vẻ không hiểu. Ngô Quang Hùng lại nói:

- Sao lại im lặng? Sao không nói gì? Ta bảo các ngươi ngu còn chưa đúng. Phải nói là ăn hại. Cố động não chút đi. Tại sao chúng ta một đường thuận lợi đến đây? Tại sao Vĩnh Tuyền mãi không tiến lên được một bước? Tại sao ba ngày nay vẫn không có tin gì của y? Tại sao cho tới giờ lũ An Nam vẫn áng binh bất động?

- Phó Nguyên soái! Ý của tướng quân phải chăng là lũ man di kia sợ chúng ta bên này mà lo xử lý cánh quân kia trước? – Vệ Minh hỏi.

- Tới giờ phút này mà ngươi còn dám gọi chúng là man di sao? Các ngươi không thấy chúng rất phát triển sao? Man di mà có thể làm được thế này sao?

Ngô Hùng Quang tức giận hỏi một tràng. Đoạn y lắc đầu nói tiếp, giọng điệu có vẻ dịu hơn đôi chút:

- Các ngươi chưa đến Kinh thành của bọn chúng. Ngay cả cố đô cũng chỉ là nhìn từ bên ngoài, chưa hiểu được bọn chúng phát đạt thế nào. Các ngươi đâu có hiểu vì sao lần trước ta phải dùng đường biển để về nước mà không đi đường bộ.

- Phó Nguyên soái – Vệ Minh lại nói. – Chúng mạt tướng biết sai rồi. Xin tướng quân cho chúng mạt tướng biết vì sao lũ man... À, An Nam kia phải làm như vậy.

- Rõ ràng không phải là chúng lánh mạnh mà đánh yếu đâu. Đây là bọn chúng đã sắp đặt ngay từ đầu. Ta e là đã trúng kế bọn chúng rồi. Các ngươi nghĩ xem, cả nước bọn chúng chỉ có một mống dân bé tẹo. Bởi thế, chúng phải dùng mưu. Các ngươi lại đây.

Nói rồi y chỉ vào bản đồ, nói cho hai viên phó tướng những suy nghĩ của mình. Giọng nói của y lúc này không còn vẻ bực dọc nữa. Hai người kia nghe xong bất giác cảm thấy lo sợ. Hồ Sĩ Nguyên nói:

- Vậy theo ý của Phó Nguyên soái có phải là thế này không? Với chúng ta, bọn họ dùng kế kiêu binh. Với cánh quân kia, họ dùng kế lùa dê vào rọ.

- Chính là như thế.

- Vậy ra tình thế chúng ta hiện vô cùng nguy cấp. Chúng sẽ đánh hậu, hai mặt, à không, bốn mặt giáp công chúng ta.

- Mạt tướng nghĩ. Sở dĩ cho đến lúc này chúng vẫn chưa động binh với ta là có lý do. Một là chúng muốn làm tinh thần binh sĩ ta mệt mỏi. Hai là chúng cũng đang đợi cánh quân kia bị diệt rồi mới phản công vây hãm chúng ta. – Võ Minh cũng góp thêm.

- Đúng vậy.

- Vậy ý Đại Nguyên soái bây giờ thế nào? – Vệ Minh hỏi tiếp.

- Tấn công. Ngay sáng sớm, chúng ta sẽ tấn công. Mặc kệ cái lệnh chết tiệt kia. Nếu chờ lâu hơn sẽ đâm ra hỏng bét.

Hai viên phó tướng lúc này đã hiểu ra, vẻ mặt hết sức nghiêm trọng và chờ đợi. Ngô Hùng Quang bắt đầu phân phó:

- Hồ Sĩ Nguyên! Ngươi dẫn theo bảy vạn năm nghìn quân, đầu giờ Thìn đồng loạt vượt sông.

- Mạt tướng tuân lệnh!

- Vũ Minh! Ngươi lĩnh bảy vạn năm nghìn quân cố thủ ở hậu quân phòng ngừa chúng đánh lén. Ta sẽ dẫn mười vạn trung quân vượt sông ngay sau Hồ Sĩ Nguyên.

- Mạt tướng tuân lệnh!

- Được rồi. Các ngươi về chuẩn bị ngay cho kịp.

...............

Cách Cao Bằng hai mươi hai kí lô mét là đèo Mã Phục, đèo cao sáu trăm hai mươi mét với bốn tầng dốc để lên tới đỉnh. Đèo đựơc gọi là Mã Phục vì ở hai bên con đường nhỏ hẹp có hai khối đá vôi lớn thành dốc đứng chầu vào nhau như hai con ngựa nằm phủ phục. Đó là một nếp uốn đá vôi lớn mà đỉnh của nếp uốn bị phá huỷ, hai cánh còn lại châu đầu vào nhau tựa như hai con ngựa.

Đây cũng chính là ngọn đèo mà Vĩnh Tuyền phải đi qua nếu muốn hội quân với Ngô Hùng Quang. Y không còn cách nào khác. Từ Hà Giang, con đường ngắn nhất đến Thăng Long là đi qua Tuyên Quang, Vĩnh Phúc. Một con đường khác là đi qua Bắc Kạn, Thái Nguyên. Tuy nhiên, cả hai con đường này đều bị khóa chặt bởi những người lính du kích của Quân đoàn một. Vả lại, cả hai con đường này đều bắt buộc phải đi qua khá nhiều địa điểm núi rừng hiểm trở, rất thích hợp để đặt phục binh. Vĩnh Tuyền bởi thế nên buộc phải chọn một con đường xa nhất, đi qua Cao Bằng, Lạng Sơn rồi vượt Thái Nguyên mới có thể đến đích. Con đường này tuy dài nhưng ngoài Cao Bằng, Vĩnh Tuyền phải hành quân cẩn thận, còn lại hai địa phương khác vốn dĩ đã bị Ngô Hùng Quang chiếm được.

Vĩnh Tuyền hành quân rất nhanh, chỉ trong một ngày sau khi quyết định chuyển hướng tiến công để đến đây chỉ mất hơn nửa ngày. Y nhanh chóng cho binh sĩ hạ trại nghỉ ngơi, dự định đến ngày hôm sau mới vượt đèo. Kể ra thì Vĩnh Tuyền cũng khá cẩn thận. Ngọn đèo này thật ra cũng chỉ là một ngọn đèo thấp. Hai bên cũng chỉ là những vách núi thoai thoải, muốn tìm một điểm để đặt phục binh cũng khó. Y cho binh sĩ nghỉ ngơi rồi sai mấy người đi do thám địa thế và xem thử có an toàn để vượt qua hay không. Kết quả là ngọn đèo an toàn.

Sáng sớm hôm sau, Vĩnh Tuyền phát lệnh hành quân vượt đèo. Nhìn từ trên cao, đoàn quân trải dài từ đỉnh, kéo dài đến tận chân đèo. Mãi đến khi không còn người nào dưới chân đèo, từng loạt tiếng hô “Giết… Giết… Giết…” vang lên làm mỗi binh sĩ như bị chấn động đến tận tâm can.

Rõ ràng buổi chiều tối hôm qua, Vĩnh Tuyền đã cho người đi do thám địa hình. Mọi việc vốn dĩ rất bình thường, không có thấy bóng dáng một binh một tốt nào của Việt Nam. Thế thì tiếng hô chém giết kia xuất phát từ đâu ra? Cả đoàn quân dừng lại. Mỗi binh sĩ lại dáo dác nhìn xung quanh. “Quái lạ, tiếng hét vang lên nhưng sao lại không thấy người nào? Chẳng lẽ có ma?” đó cũng chính là suy nghĩ của họ lúc này. Thế rồi, mọi người bỗng cảm thấy có một nỗi sợ vô hình dâng lên trong lòng.

Tiếng hô giết cứ mỗi mười phút lại vang lên một lần. Đến lần thứ năm, lộ quân của Vĩnh Tuyền bỗng nghe những tiếng rít gió từ trên không trung. Phải biết đèo này có tên là Mã Phục bởi có hai ngọn núi thấp hướng vào nhau như hai cái đầu ngựa đang cúi xuống. Từ trên đỉnh ngọn núi nhỏ đối diện, trên mặt đất và vách núi, người ta nhìn thấy có những cánh cửa hầm mở ra, từng dàn phóng tên lửa xuất hiện. Những tiếng rít xé gió gây ra chính bởi những quả tên lửa rợp trời lao đến.

Lộ quân của Vĩnh Tuyền lúc này không có chỗ nào để núp. Những quả tên lửa lúc này cũng chẳng cần phải tính toán trúng mục tiêu, chỉ cần chúng rớt xuống trên đường đèo là đủ. Quân Thanh lúc này chạy tán loạn, rên la thảm thiết. Nếu nói đúc súng hay đóng thuyền thì phải rất lâu mới hoàn thành một sản phẩm nhưng với tên lửa thì lại khác. Chúng được làm từ tre, một loài cây mọc rất nhiều ở Việt Nam. Thứ duy nhất được làm từ kim loại cũng chỉ có phần đầu đạn rỗng được nhồi đầy thuốc nổ. Bởi vậy, số lượng của chúng thì nhiều vô kể. Cũng cần phải biết, một quả tên lửa uy lực tuy không cao, mỗi quả chỉ có tầm sát thương trong bán kính năm, sáu mét nhưng với số lượng hàng nghìn quả liên tiếp phát nổ cũng dư sức xé đoàn quân đang hoảng hốt thành từng mảnh nhỏ.

Quân Thanh lúc này tiến thì không thể, chỉ còn biết lùi lại phía sau. Nhưng nói lùi cũng chỉ là nói, thực tế thì khác hẳn. Với sự bố trí của Quân đoàn một, các sư đoàn bộ binh vốn đã tiềm phục sẵn trên các ngã đường liên tục gặt hái sinh mạng của đám tàn quân. Mà bố trí của Quân đoàn một cũng đâu đơn giản như thế. Từ hướng Cao Bằng, tiểu đoàn kỵ binh số một và số hai vượt đèo, truy đuổi ráo riết. Hai mươi lăm vạn quân Thanh lúc này chỉ còn hơn mười lăm vạn. Quân số như vậy kể cũng rất nhiều, gấp gần bốn lần quân số của Quân đoàn một. Nhưng đám quân này còn có thể uy hiếp được ai khi mà mỗi binh sĩ đã rơi vào hoảng loạn, ngay cả vũ khí, quân kỳ cũng đành vứt bỏ mà chạy tán loạn.

Phải nói Quân đoàn một ít hơn giặc đến hơn năm lần ban đầu vốn dĩ tưởng chừng như sẽ dễ dàng bị nghiền nát. Nhưng với ưu thế về địa hình, đặc biệt là vũ khí mà nổi bật chính là những quả tên lửa, quân Thanh hầu như không còn tính uy hiếp nào. Họ dần bị dồn vào một vùng bình nguyên rộng dưới chân đèo. Bốn phương, tám hướng xung quanh là các sư đoàn bộ binh với những binh sĩ lăm lăm những khẩu TSG02 trên tay, sẵn sàng nổ súng.

Lúc này, có tiếng loa vang lên: “Ta là Đại tướng Phùng Ngọc Viễn, Tổng tư lệnh Quân đoàn một. Binh sĩ nhà Thanh hãy buông khí giới mà đầu hàng. Bằng không, đừng trách chúng ta vô tình. Ta lặp lại, hãy buông khí giới đầu hàng. Trong nửa canh giờ nữa, các người chưa chịu đầu hàng thì chính là lúc toàn quân bị diệt”.

Lúc này, Vĩnh Tuyền gọi phó tướng của mình là Vương Nham, Phúc Mộc Thanh và Na Lạp Đôn lại bàn bạc. Y nói:

- Các tướng tính xem chúng ta còn bao nhiêu quân.

- Đại Nguyên soái – Na Lạp Đôn nói, – chúng ta còn hơn mười lăm vạn quân.

- Thế thì chúng ta vẫn còn có thể giết sạch bọn chúng. Ta đoán, nhiều lắm chúng chỉ có mười vạn.

- Nguyên soái – Vương Nham nói, – nếu trước đây thì được. Bây giờ thì hơi khó.

- Hừ… – Na Lạp Đôn tức giận. – Ông nói thế là sao? Chẳng lẽ chịu đầu hàng à? Thế thì còn gì là thể diện của Thiên triều? Phải chăng ông chính là muốn làm phản, theo phe lũ man di đó?

- Ông bình tĩnh mà nghe tôi nói. Nguyên soái, hai vị tướng quân. Ý tôi là binh sĩ của chúng ta bây giờ tâm hoảng, khí loạn. Nếu dàn trận đánh nhau với bọn chúng một trận thì không thể. Nhưng nếu cho kỵ binh xếp thành hình mũi tên, mở một đường thì chúng ta có thể khoan thủng phòng tuyến của chúng mà thoát khốn.

- Ông nói thì dễ lắm – Phúc Mộc Thanh nãy giờ im tiếng mới nói. – Nên nhớ chúng còn có những mũi tên kỳ lạ, uy lực khủng khiếp như mới vừa nãy.

- Không cần phải sợ. Tôi nghĩ, vũ khí này tuy uy lực mạnh nhưng chắc số lượng không có bao nhiêu đâu. Vừa nãy chúng đã dùng chắc cũng gần hết. Minh chứng là tại sao từ nãy đến giờ, chúng không còn sử dụng nữa.

- Ta cũng đồng ý với Vương Tướng quân – Vĩnh Tuyền nói. – Ta đang tự hỏi tại sao chúng cho ta nửa canh giờ. Có lẽ là để chúng có đủ thời gian chuẩn bị cho số lượng tiếp tế loại vũ khí này. Vậy thì chúng ta phải hành động thật nhanh.

- Nguyên soái – Vương Nham lại tiếp. – Chúng ta nên xếp thành hai tầng đội hình mũi tên. Nếu như chúng còn một ít thì chỉ có thể bẻ gãy đội hình thứ nhất thôi. Đây là loại vũ khí chỉ dùng một lần. Lúc đó, đội hình thứ hai lại xung phong và chúng ta sẽ an toàn.

- Vậy theo các tướng, chúng ta phải rút về hướng nào?

- Nguyên soái, chúng ta nên theo hướng Bắc mà rút về thác Bản Giốc – Phúc Mộc Thanh nói.

- Tốt! Vậy các tướng mau về chuẩn bị, hai khắc nữa chúng ta hành động.

Hai khắc cũng chính là ba mươi phút. Thời gian mau chóng trôi đi. Đúng lúc này, một hồi kèn lệnh cất cao, một tốp kỵ binh quân Thanh bằng tốc độ nhanh nhất lao đi về hướng Bắc, nơi có Sư đoàn bốn bộ binh đang trấn giữ. Nửa khắc tiếp theo đó là một tốp kỵ binh khác.

Đón tiếp đội ky binh thứ nhất với gần một nghìn người là hơn hai trăm quả tên lửa. Và cũng chỉ có một loạt tên lửa này thôi. Tuy vậy, chúng cũng lấy đi hết tám phần mười đội kỵ binh này. Số còn lại thì không thể nào thoát khỏi những loạt đoạn của bộ binh.

Lúc này, Vĩnh Tuyền cười lớn:

- Ha… Ha… Ha… Quả đúng là chúng chỉ còn bấy nhiêu loại vũ khí đó. Toàn quân theo sát ta tiến lên.

Nói rồi y giục ngựa tiến lên nhưng tốc độ cũng không nhanh lắm. Còn phải nói. Dù gì thì y cũng là Hoàng thất, lẽ nào lại xung phong đi trước để nhận lấy cái chết. Chỉ tội cho đám binh sĩ và tướng tá cấp thấp phải lao lên mà hô giết.

Vĩnh Tuyền và Vương Nham đã tính đúng nhưng cũng chỉ đúng một nửa thôi. Bọn họ đã quên mất, Việt Nam ngoài tên lửa, súng trường bộ binh và thuyền chiến thì còn đó những khẩu đại bác có rãnh xoắn với uy lực vô song. Từng loạt tiếng nổ rung chuyển đất trời vang lên. Những quả đạn đại bác thậm chí còn có lực sát thương vượt xa tên lửa đã vùi dập hoàn toàn đội kỵ binh thứ hai cùng một phần lớn bộ binh chạy theo phía sau. Đoàn quân Thanh bất chợt phải khựng lại, người sau còn đà chạy lại xô ngã người trước. Một cảnh dẫm đạp lên nhau diễn ra.

Tiếng loa lại vang lên: “ Các người chê sống đã quá lâu sao? Nửa canh giờ chưa hết đã vội tìm chết. Dân tộc Việt ta vốn yêu chuộng hòa bình và khoan hồng. Chỉ còn gần một khắc nữa là hết giờ. Các ngươi buông khí giới đầu hàng vẫn còn kịp”.

Lúc này, binh si nhà Thanh sau hai đợt xung phong mở đường máu chỉ còn ngót nghét mười vạn. Họ đã sợ thật sự rồi. Không ai bảo ai, những người đứng đầu hàng bắt đầu buông vũ khí xuống. Có một thì ắt sẽ có hai. Những người khác thấy thế cũng làm theo, có người còn vì quá sợ mà té phịch xuống đất.

Mặc kệ tiếng quát tháo của những chỉ huy và thống lĩnh, số người chấp nhận đầu hàng ngày càng nhiều hơn. Vĩnh Tuyền cùng ba viên tham tướng lúc này cũng biết đại thế đã mất. Bọn họ cũng chấp nhận đầu hàng.

Vậy là lộ quân thứ nhất lúc này đã hoàn toàn sụp đổ. Tính đến thời điểm Ngô Hùng Quang quyết định vượt sông Hồng vẫn còn hơn một ngày. Phùng Ngọc Viễn cho sư đoàn bộ binh số một và số hai thu xếp đám hàng binh rồi tức tốc cùng phần còn lại của Quân đoàn một tiến nhanh về Thăng Long để tạo thành thế gọng kìm, khóa chết Ngô Hùng Quang.
 

phong lưu

Kiss The Rain
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
4,731
Reaction score
317
Points
83
Chương 64: Sông Hồng nhuộm máu
Lại nói về Ngô Hùng Quang. Vào đầu giờ Thìn, tức khoảng sáu giờ sáng, y cho binh sĩ bắt đầu vượt sông. Những chiếc cầu phao bằng gỗ nhanh chóng được hạ thủy. Quân Thanh lúc này không dám dùng những cây cầu được xây sẵn trên sông. Họ sợ người Việt đã động ta động chân lên đó. Họ cũng không dám cho binh sĩ hay ngựa bơi qua sông bởi sợ những thứ được đặt dưới lòng sông. Điều này âu cũng có lý. Có điều họ đã sai lầm hoàn toàn rồi. Những cây cầu này và lòng sông vốn dĩ không hề được sắp đặt gì cả. Thứ mà Quân đoàn bốn bố trí để chào đón họ lại chính là trên bờ, ở hai bên các cây cầu.

Nói như vậy cũng hơi khó hiểu. Nên biết, mỗi đầu cầu có một con đường. Nếu quân Thanh hành quân qua đây sẽ bình yên vô sự. Ấy thế mà họ lại chọn con đường khó hơn là dựng những chiếc cầu phao ở hai bên. Vùng đất họ đặt chân lên lại là những vùng đất chết, nơi Đại tướng Võ Khánh, con trai Thượng tướng quân Võ Tánh, người mà dân gian còn được biết với cái tên Võ Đông Sơ, cho chôn xuống đất những quả địa lôi.

Nên nhớ địa lôi vốn đã xuất hiện từ thời nhà Minh, Trung Quốc. Đến tay người Việt, họ đã cải biến ra đủ loại địa lôi. Nhưng nhìn chung, địa lôi mà người Việt cải biến gồm hai loại: một loại là phát nổ ngay và loại kia là nổ chậm. Loại mà Võ Khánh dùng chính là địa lôi nổ chậm. Anh vốn muốn chờ một lượng lớn binh sĩ nhà Thanh bước vào thì chúng mới phát nổ. Nói là nổ chậm chứ thực tế thì chỉ mất hơn năm giây thì chúng đã phát huy tính sát thương của mình rồi.

Lúc này, từng đoàn quân Thanh lần lượt vượt qua cầu phao, đặt chân lên bờ bên kia. Bọn họ cũng không vội vã tấn công. Chờ cho bảy vạn năm nghìn người đã tề tựu đông đủ mới có tiếng nói của Hồ Sĩ Nguyên: “Chúng binh sĩ, hãy cùng ta xung phong diệt sạch đám giặc cỏ An Nam này”.

Bắt đầu từ đó, quân Thanh tràn tới như thác lũ. Trước mắt họ, Thăng Long không còn bất cứ một bức tường thành nào. Việc chiếm cứ vì thế chắc hẳn cũng sẽ rất nhẹ nhàng. Cứ thế, tiếng hô xung phong cứ vang lên không ngớt. Binh sĩ vẫn cứ chạy bộ, kỵ binh thì phi nước đại. Họ không hề biết dưới chân mình có những sợi dây. Đến khi một chú ngựa chạy phía trước khụy xuống do vấp phải dây thì họ mới biết cái gì đang chờ đón mình.

Ầm… ầm… ầm… Những quả địa lôi chôn sẵn lần lượt thi nhau phát nổ, tước đi khá nhiều sinh mạng binh sĩ. Nói là khá nhiều nhưng tính ra cũng chỉ có khoảng ba trăm người thương vong. Con số đó chỉ là muỗi so với quân số bảy nghìn năm trăm người của đội tiên phong và hai mươi lăm vạn của cả lộ quân.

“Hừ… Các người chỉ có bấy nhiêu đó thôi sao? Ta xem các người còn trò gì nữa”. Cũng không phải y khinh địch. Với những gì Ngô Hùng Quang nói đêm qua, Hồ Sĩ Nguyên biết Việt Nam không hề đơn giản như mình nghĩ trước đây. Nhưng y không tin lộ quân hai mươi lăm vạn của Vĩnh Tuyền sẽ nhanh chóng bị đánh bại. Mà cũng không nhất định là Vĩnh Tuyền sẽ bại trận. Hơn nữa, quân Thanh cũng quyết định đánh nhanh thắng nhanh nên Việt Nam sẽ không kịp chuẩn bị. Y hét lớn: “Không có gì phải sợ! Tiến lên cho ta. Chúng cũng chỉ có bấy nhiêu đó thôi”. Tiếng hô xung phong lại lần nữa vang rền.

Tiếng hô lớn đến nỗi ngay cả dân trong Cố đô Thăng Long cũng bị đánh thức sau giấc ngủ say nồng. Song, họ cũng không cần bận tâm bởi Bắc Định Vương Nguyễn Quang Thùy đang ở đây. Hơn nữa, ngoài kia là Quân đoàn bốn do một viên Đại tướng lẫy lừng uy danh Võ Khánh đã giăng sẵn một cái bẫy dành cho quân giặc.

Như hiểu được tâm tư của người dân, những quả tên lửa lại lần nữa phát uy. Chúng bay rợp trời. Tiếng rít phá không cao vút, nghe như tiếng sáo êm tai. Mà cũng không phải như là tiếng sáo được. Võ Khánh vốn là người lãng mạng, anh buộc vào mỗi quả tên lửa một cây sáo trúc nho nhỏ. Mỗi khi một quả tên lửa bay lên, tiếng sáo theo gió mà cũng xuất hiện. Anh nói đó chính là tiếng của tử thần đòi mạng quân thù. Quả là như vậy, từng loạt tiếng nổ lớn đi kèm phía sau đang gặt hái sinh mạng của những kẻ xung phong. Binh sĩ Việt Nam giờ đây đã rất thành thục trong việc sử dụng loại vũ khí có tính sát thương tập thể này. Họ nhắm rất chuẩn xác nhằm tránh đi việc phá hủy đi những cây cầu. Còn cầu tạm à, mặc kệ đi. Mà đâu phải tên lửa chỉ tấn công đội quân tiên phong này. Ưu điểm của nó là bay rất xa. Vì thế, trung quân của nhà Thanh cũng phải hứng chịu những tổn thất ban đầu.

Quân Thanh bắt đầu ngã xuống như rạ. Ban đầu là vài trăm rồi lên vài nghìn. Mọi người cũng đừng nghi ngờ. Sở dĩ quân Thanh chết nhiều như vậy cũng bở bấy giờ họ vẫn còn đang áp dụng chiến thuật biển người. Nói biển người tức là cứ dùng quân số áp đảo mà lao lên. Lớp này ngã xuống thì lớp khác lại lao lên. Đến ngay như thời kỳ tiến bộ hơn, thế chiến thứ hai, khi họ phản công phát xít Nhật thì chiến thuật này vẫn được áp dụng. Có người còn nói phiếm, xe tăng quân Trung Hoa Dân Quốc cán lên thi thể đồng đội mà vượt sông. Ài… cũng bởi dân số của họ quá đông mà.

Khi số người chết đã lên đến con số hơn hai nghìn người, quân Thanh mới bắt đầu chùn chân, họ không dám tiến nhanh nữa và cũng không tập trung đông mà rải rác thành nhiều nhóm nhỏ hơn. Lúc này, cơn ác mộng của họ đã xuất hiện, những thớt voi cõng đại bác, “đặc sản” của quân đội Tây Sơn năm xưa. Những cỗ pháo đài di động này bắt đầu chầm chậm tiến lên, đại bác lại thi nhau nổ tung trời.

Những con ngựa chiến của kỵ binh nhà Thanh khi thấy từng thớt voi lững thững bước tới, hú vang thì sợ hãi, tung hai vó trước lên trời mà chạy tán loạn, hất những người ngồi trên lưng té xuống đất. Mặt khác, trên mặt đất, những phên tre lấp đất cũng bay lên, để lộ ra những đường hào hẹp, đó chính là nơi mà bộ binh Quân đoàn một nấp sẵn và chờ đợi. Giờ đây, họ bỗng xuất hiện, lăm lăm TSG02 trên tay, tha hồ mà nhả đạn vào bất cứ mục tiêu di động nào.

Vỡ trận. Đó là từ đúng nhất để hình dung tình cảnh của quân Thanh lúc này. Cũng phải thôi vì lúc này đã có một chiến tướng nhà Thanh tử trận. Không ai khác hơn, đó chính là Hồ Sĩ Nguyên. Y đã lãnh trọn một quả tên lửa cách đó không lâu. Toàn bộ đội tiên phong giờ như rắn mất đầu, binh sĩ buông bỏ vũ khí mà chạy tán loạn.

Ở trung quân, Ngô Hùng Quang thấy sự việc không ổn liền cho quân lui về phía sau. Kể ra kỷ luật quân đội của họ cũng khá là nghiêm minh khi mà Trung quân thì tháo lui trong khi Hậu quân do Vũ Minh thống lĩnh đứng lại yểm trợ. Binh sĩ nhà Thanh cho tới lúc này vẫn chỉ được trang bị gươm giáo và cung tên, chỉ có một số ít được sử dụng các loại súng kíp thô sơ.

Vũ Minh cho binh sĩ Hậu quân xếp đội hình, bắn tên về phía trước. Nguy mà không loạn, đó là điều thấy rõ ở nhóm quân này. Họ bình tĩnh tháo cung, lắp tên, giương cung rồi bắn theo từng mệnh lệnh. Chẳng mấy chốc mà bóng tên đã phủ đầy trời. Khá nhiều binh sĩ Việt Nam nằm xuống. Nhưng tên bắn thì bay được bao xa? Võ Khánh chấp nhận cho điều này xảy ra à? Sáu tiểu đoàn kỵ binh được lệnh xuất kích. Họ nhanh chóng áp sát, dùng súng TSG02 mà bắn hạ các đội cung thủ vốn phản ứng chậm hơn.

Cung thủ giặc đã bị triệt hạ, Võ Khánh lại giục ba sư đoàn bộ binh của mình tiến lên tiêu diệt cánh quân đoạn hậu. Lối đánh hiện đại được bộ binh phát huy hết sức nhuẩn nhuyễn, từng tiểu đội chia ra chiếm cứ từng phân đất trên chiến trường, chậm rãi tiến lên, dùng TSG02 hạ gục từng tên giặc. Nói là tiến chậm rãi nhưng phải hiểu là tốc độ của họ không hề chậm chút nào. Binh sĩ của ba sư đoàn cúi người khom khom chạy xộc tới. Uy hiếp lớn nhất của họ là những tay súng của đối phương, nhưng tốc độ nạp đạn và bắn của chúng lại chậm hơn nhiều.

Giải pháp duy nhất lúc này của Vũ Minh là cho quân lao lên đánh xáp lá cà. Ừ thì cứ xáp lá cà đi. Binh sĩ cả ba tiểu đoàn cũng không tiến lên nữa, họ xếp thành mấy hàng ngang, đứng đó mà thi nhau nổ súng.

Nghĩ cũng lạ, quân Thanh cứ lao lên, cứ đi được vài bước lại ngã xuống. Ấy thế mà họ cứ lao lên. Trong phút chốc, xác binh sĩ bắt đầu chất chồng lên nhau như một bức tường thịt, ngăn trở tầm bắn của bộ binh Việt Nam.

Bỗng âm… ầm…, những bức tường thịt nổ tung, nát bấy, để lộ ra những người phía sau đang chạy tới. Đại bác Việt Nam lại vang rền. Bộ binh lại được giải phóng tầm mắt, họ lại tiếp tục bắn. Có thể nói, đây là một cuộc tàn sát một chiều thì đúng hơn là một trận chiến sòng phẳng.

Không thể chần chừ được nữa, Vũ Minh cho quân nhanh chóng tháo chạy theo chân của Trung quân. Mà lúc này Võ Khánh cũng không cần phải gấp gáp. Anh cho binh sĩ thu dọn chiến trường và phái sáu tiểu đoàn kỵ binh truy đuổi với tốc độ khá chậm. Anh muốn chọn cho quân Thanh một mảnh đất chôn thân và cũng chờ hai mặt giáp công cùng Quân đoàn một của Đại tướng Phùng Ngọc Viễn.

Mãi khi chạy đến tận vùng giáp giới giữa Bắc Giang và Lạng Sơn, Ngô Hùng Quang thấy quân Việt Nam bị bỏ lại ở xa phía sau thì cho binh sĩ dừng chân thở dốc. Y cho quân ngồi nghỉ tại chỗ và kiểm tra quân số. Trong hai phó tướng, y chỉ còn lại bên mình Vũ Minh. Hai tướng lĩnh cấp cao nhất quân Thanh lúc này gặp nhau và trao đổi sau khi chạy trối chết.

- Nguyên soái! Bọn An Nam quả thật là nguy hiểm. Chúng đã dừng lại nghỉ ngơi cách đây ngoài năm trăm dặm. Có lẽ chúng cũng như ta, cũng mệt mỏi.

- Ông trời ơi! Lẽ nào ông phụ bạc ta? – Ngô Hùng Quang than vãn – Vũ Minh, cho quân nghỉ ngơi nửa canh giờ thôi rồi cấp tốc rút lui. Ta nghĩ bọn chúng chưa chặn vùng Lạng Sơn được đâu.

- Vâng, Phó Nguyên soái. Phải nói bọn chúng quá nguy hiểm, nhất là cái thứ vũ khí bay trên trời kia. Mạt tướng ở Hậu quân nhìn thấy mà hoảng sợ vô cùng.

- Thôi, đừng nói nhiều nữa. Ngươi kcho kiểm tra lại quân số đi, xem thử ta còn được bao nhiêu.

Vũ Minh vâng lời, phân phó cho thuộc hạ kiểm tra quân số. Sau một lúc, y nhận được hồi báo là chỉ còn vừa đúng mười bốn vạn. Phần còn lại có lẽ số thì chết, số thì bị bắt sống rồi. Y nhanh chóng báo lại cho Ngô Hùng Quang.

- Mười bốn vạn… ôi mười bốn vạn – Ngô Hùng Quang cảm thán. – Khi đi là hai mươi lăm vạn, giờ chỉ còn đúng mười bốn vạn. Lẽ nào trời không đứng về Đại Thanh ta nữa sao?

- Phó Nguyên soái xin bớt đau buồn. Bây giờ điều cần làm là chúng ta phải mau chóng quay về. Mạt tướng e là chúng sắp đuổi tới nơi rồi.

- Vũ Minh, chúng ta cho tam quân nghỉ ngơi thêm một khắc thời gian nữa rồi phải đi ngay mới kịp. Chúng ta phải vượt qua Ải Chi Lăng trong hôm nay, chờ lâu e rằng sẽ quá muộn.

- Vâng, Phó Nguyên soái.

Lúc này thời gian đã là mười giờ sáng. Đúng lúc Ngô Hùng Quang cho người nhổ trại cũng chính là lúc y nghe tiếng hô truy đuổi phía xa xa. Quân Thanh lập tức vội vã tháo chạy. Cứ thế, một trước một sau, hai đoàn quân cuối cùng cũng đến được Ải Chi Lăng.

Ải Chi Lăng. Đây chính là địa danh biết bao triều đại Trung Quốc phải khiếp sợ. Nhớ ngày trước, Mã Viện đem quân sang xâm chiếm nước Nam phải dựng bia và tạc rùa đá. Danh tướng nhà Minh Liễu Thăng cũng phải bỏ mình nơi đây.

Ải Chi Lăng cấu thành từ một thung lũng hẹp ép giữa hai dãy núi, phía Đông là dãy núi đất Bảo Đài – Thái Họa và phía Tây là núi đá Kai Kinh dựng đứng. Con sông Thương ngoằn ngoèo chảy dọc theo thung lũng, bên con đường đường cái quan lên biên giới, xuôi về kinh đô.

Những ngọn núi thấp rải rác dọc thung lũng và trấn ven đường cái quan như núi Hàm Quỷ, núi Phượng Hoàng, núi Kỳ Lân, núi Mã Yên. Đóng khóa hai đầu của thung lũng, nơi hai vòng cung núi đất phía Đông và núi đá phía Tây khép lại, là lũy Ải Quỷ phía Bắc và núi Ngõ Thề phía Nam, khoanh kín trong lòng một ải quan dài năm kí lô mét, rộng khoảng ba kí lô mét.

Tại Ải Chi Lăng còn có Thành Chi Lăng. Ở gần cửa Nam của thành còn phiến đá khắc 5 chữ Hoàng tráng nhị thập đội.

Phía nam Ải Chi Lăng có hai khối đá lớn, một khối có hình dáng giống như thanh kiếm khổng lồ gọi là Lê Tổ Kiếm và một tượng đá có hình dáng như một người quỳ gối và bị cụt đầu gọi là Liễu Thăng Thạch (tức đá Liễu Thăng, ám chỉ tướng Liễu Thăng bị Lê Sát chém cụt đầu tại ải).

Xã Chi Lăng có Ải Chi Lăng và Quỷ Môn Quan. Quỷ Môn Quan nằm ở phía Nam huyện Bắc Lưu, châu Uất Lâm tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc, cách huyện lỵ Bắc Lưu khoảng ba mươi dặm. Tại cửa quan này có hai khối núi đối nhau và ở giữa có độ rộng ba mươi bước, tục gọi Quỷ Môn Quan. Mã Viện đánh Việt Nam qua đấy dựng bia và tạc rùa đá. Đời nhà Tấn (265-420) binh lính Trung Hoa qua đó bị giết nhiều nên có câu:

Quỷ Môn Quan, Quỷ Môn Quan!
Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn.

Chỉ cần vượt qua Ải Chi Lăng và Quỷ môn quan, quân Thanh đã có thể yên tâm đặt chân lên đất quê hương. Thế nhưng, sự đời nào có đơn giản như vậy. Ở trên vách núi, những khẩu đại bác của Việt Nam hiện ra. Những họng đại bác đen ngòm chỉa về đoàn quân tháo chạy lúc này trông như những cái miệng của quỷ giữ đang đứng gác Quỷ môn.

Không có một tiếng nói nào xuất phát từ binh sĩ Việt Nam. Thế nhưng Ngô Hùng Quang hiểu, thế là hết rồi. Đối phương đã đến được nơi đây, trận địa cũng đã làm xong thì thử hỏi mình có chống được hay không. Y cho quân dừng lại rồi bảo với Vũ Minh:

- Vũ Minh này. Ta và ngươi coi như là xong rồi. Chúng ta đã quá chậm.

- Phó Nguyên soái. Chúng ta phải làm gì đây? Hay là Mạt tướng cùng binh sĩ yểm trợ cho tướng quân thoát thân?

- Thoát? Ngươi tưởng là thoát được sao? Ngươi có thấy những cái miệng quỷ kia không?

Ngô Hùng Quang chỉ về những họng đại bác đen ngòm chỉ chực nuốt chửng đoàn quân. Y lắc đầu và nói với Vũ Minh:

- Chống cự là vô ích, chỉ tổ nạp mạng thôi. Binh sĩ cũng là người, cũng còn có mẹ già, con thơ. Chi bằng…

- Phó Nguyên soái. Ý tướng quân là đầu hàng à?

- Biết làm sao bây giờ. Thôi, đừng cố chấp nữa. Ngươi hãy đến gặp người của bọn chúng đi.

Đến lúc này, Vũ Minh đành chấp nhận vậy. Y cũng hiểu Ngô hùng Quang nói phải. Vả lại, đúng là binh sĩ vẫn còn đó mẹ già cùng con thơ. Lựa chọn đầu hàng đúng là giải pháp tốt nhất lúc này. Y quay đầu ngựa, chậm rãi đi về hướng đoàn quân truy đuổi vốn đã dừng lại ở phía xa.
 

Bình luận facebook

Top Bottom