Full Đừng nói chuyện với cô ấy

root

Tác Giả
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,953
Reaction score
185
Points
9,999
Quyển 2 - Chương 7-2: Cuộc giao tranh giữa hai cao thủ tâm lý (2)
chắc ông ta sẽ không dễ dàng bị người điều tra kia hại chết nữa chứ?

Tôi bình thản nói: “Chắc chắn là như vậy. Tôi đã giúp ông ta giảm bớt nỗi sợ hãi, hơn nữa còn truyền cho ông ta một số phương thức tư duy có thể ngăn chặn nỗi sợ hãi.”

”Vậy là đủ rồi.” Chủ nhiệm Viên nói: “Anh cần phải hiểu rằng nhiệm vụ của anh không phải là đảm bảo sự an toàn cho con mồi, mà là câu được cá lên trước khi con mồi bị ăn hết sạch. Bao bọc cho con mồi kĩ quá sẽ chỉ khiến cá mất đi sự hứng thú mà thôi, một con mồi có vết thương trên người mới có sức hấp dẫn trí mạng đối với cá.”

Tôi lẳng lặng gật đầu, sau đó thì không tiếp tục giúp ông ta gỡ các gút thắt trong tâm lý nữa, nhưng vẫn luôn giữ liên lạc với ông ta. Lúc ban ngày, cứ cách ba tiếng tôi lại gọi điện thoại cho ông ta một lần để biết được trạng thái tâm lý của ông ta. Trong vòng một tuần sau đó, trạng thái tâm lý của ông ta vẫn luôn rất ổn định, nỗi lo sợ đối với việc giao tiếp cũng có sự cải thiện rõ rệt. Nhưng đến chiều ngày 7 tháng 11, ông ta đột nhiên chủ động gọi điện thoại đến cho tôi, nói là bắt đầu từ hồi trưa mình liền cảm thấy rất không thoải mái, cứ như là đột nhiên nảy sinh một nỗi sợ hãi vô cùng to lớn đối với tất thảy người và vật xung quanh, hơn nữa còn bắt đầu thường xuyên đưa tay lên sờ răng cửa. Qua điện thoại tôi đã trò chuyện với ông ta trong một thời gian dài, vậy nhưng ông ta vẫn không thể nhớ ra nguyên nhân khiến tâm lý của mình phát sinh biến hóa. Hết cách, tôi chỉ đành trò chuyện với ông ta một lát, giúp ông ta tạm thời giải tỏa sự khó chịu trong tâm lý.”

Trực giác nói cho tôi biết, người điều tra thần bí kia đã phát hiện ra nhược điểm trong tâm lý của Lưu Hướng Đông và bắt đầu có hành động rồi.

Sáng ngày 8 tháng 11, Lưu Hướng Đông đến Đại học C giảng bài công khai trong vòng hai tiếng đồng hồ, tới trưa thì đi ăn cơm cùng với mấy vị lãnh đạo của trường, buổi chiều tham dự một hoạt động bình bầu cá nhân ưu tú do nhà trường tổ chức, đồng thời đảm nhận nhiệm vụ lên bục phát giải thưởng cho người được giải. Sau khi hoạt động bình bầu kết thúc, ông ta đi kiểm tra tình hình công việc của con trai Lưu Trí Phổ một chút, sau đó dẫn con trai đến sân vận động của trường đi dạo vài vòng, nội dung của cuộc trò chuyện đó không ai hay biết. Để có thể tìm ra tung tích của người điều tra thần bí kia, tôi đã đi theo Lưu Hướng Đông suốt cả ngày, ngoài thời gian dùng bữa trưa, tôi gần như đã nhìn thấy tất cả những người mà ông ta đã tiếp xúc, cũng được tận mắt chứng kiến mọi cử chỉ và vẻ mặt của ông ta.

Suốt một ngày liền, tôi không hề phát giác ra sự lạ thường nào, vậy nhưng đến tối hôm đó, Lưu Hương Đông rốt cuộc vẫn gặp nạn.

Lúc năm giờ chiều hôm đó khi tôi nói chuyện với Lưu Hướng Đông qua điện thoại, giọng nói cũng như tư duy ông ta vẫn hoàn toàn bình thường, vậy nhưng đến tám giờ tối tôi gọi điện thoại cho ông ta một lần nữa, ông ta lại không chịu nhấc máy. Tôi nói chuyện này cho Chủ nhiệm Viên biết. Sau khi thử liên lạc mà không được, Chủ nhiệm Viên lập tức sắp xếp một nhân viên của trung tâm Nghiên cứu khoa học thuộc Công ty E đến nhà họ Lưu nghe ngóng tình hình. Khi người này đến nơi, trong nhà họ Lưu chỉ có hai người là Lưu Trí Phổ và Lưu Hướng Đông. Lưu Trí Phổ nói cho người đến thăm biết là bắt đầu từ sáu rưỡi, cha anh ta vẫn luôn ở trong phòng đọc sách anh ta nghĩ là cha mình đang chuyên tâm nghiên cứu khoa học nên không làm phiền. Nhân viên đó lấy lý do là công ty có việc gấp để gõ cửa phòng đọc sách, trong phòng ban đầu không có tiếng trả lời, nửa phút sau thì lại đột ngột vang ra những tiếng thở nặng nề. Lưu Trí Phổ muốn mở cửa, nhưng lại phát hiện cửa đã bị khóa ngược từ bên trong. Hai người bọn họ hợp sức đạp cửa ra, thế rồi lập tức bị cảnh tượng trong phòng làm cho sợ giật nẩy mình.

Lưu Hướng Đông quỳ rạp người dưới đất, máu không ngừng chảy ra từ miệng, còn dính đầy cả lên mặt, quần áo cùng với sàn nhà xung quanh. Lưu Trí Phổ và nhân viên kia cùng nhau đưa Lưu Hướng Đông đến bệnh viện ở gần đó nhất. Sau khi kiểm tra bác sĩ phát hiện, chiếc răng cửa ở phía trên bên trái của Lưu Hướng Đông đã bị rụng mất, chiếc răng cửa phía trên bên phải cũng đang lung lay và đã rời khỏi lợi ở một mức độ nhất định. Để đề phòng bất trắc, bác sĩ sắp xếp cho Lưu Hướng Đông ở lại bệnh viện để quan sát. Lúc chín giờ, Chủ nhiệm Viên nói lại tình hình cho tôi biết, bảo tôi mau nghĩ đối sách.

Không còn nghi ngờ gì nữa, người điều tra thần bí kia đã dùng một phương thức nào đó để tiến hành tấn công mãnh liệt vào tâm lý của Lưu Hướng Đông, khiến ông ta làm gãy cả răng cửa của mình - đối với tôi mà nói điều này rõ ràng là một sự sỉ nhục lớn lao. Cùng với đó, đối phương có thể làm được điều này trong tình huống mà tôi không hề phát giác, xem ra người đó thật không đơn giản chút nào.

Người điều tra thần bí đó rốt cuộc đã tiến hành tác động đến tâm lý của Lưu Hướng Đông ngay trước mắt tôi như thế nào? Tôi tỉ mỉ nhớ lại từng chi tiết nhỏ đã xảy ra trong ngày hôm đó, cuối cùng phát hiện chỉ có hai điểm đáng ngờ:

Thứ nhất, trong lúc Lưu Hướng Đông dùng bữa trưa với các lãnh đạo của Đại học C, tôi không những không thể biết nội dung của cuộc trò chuyện giữa bọn họ, thậm chí còn không quan sát được các cử chỉ và sắc mặt của Lưu Hướng Đông nữa. Nếu người điều tra kia có tham dự vào bữa ăn trưa hôm đó, đồng thời thừa cơ tiến hành ám thị Lưu Hướng Đông, vậy thì quả thực là có thể dễ dàng qua mắt tôi. Khả năng này là rất lớn, bởi lẽ đại đa số các lãnh đạo của Đại học C đều là những người đàn ông trung niên, khá phù hợp với hình tượng của người điều tra thần bí kia ở trong lòng tôi.

Thứ hai, chiều hôm đó Lưu Hướng Đông và con trai mình đã có một cuộc trò chuyện kéo dài khoảng mười mấy phút. Vì sân vận động rất thoáng đãng, khi đó xung quanh không có nhiều người, vậy nên tôi không thể lại gần bọn họ được, chỉ có thể quan sát từ xa, rất có khả năng đã bỏ sót mất một số chi tiết nhỏ. Nếu người điều tra thông qua Lưu Trí Phổ để tiến hành ám thị Lưu Hướng Đông, vậy thì quả thực là có thể tạm thời giấu được tôi - nhưng cũng chỉ là tạm thời mà thôi. Lợi dụng Lưu Trí Phổ thì nhất định phải lưu lại trên người anh ta một số dấu tích của việc tâm lý bị tác động, mà những dấu tích này rất có thể chính là manh mối để lần ra thân phận của người điều tra. Nếu tôi là người đó thì tuyệt đối không bao giờ đi mạo hiểm lợi dụng Lưu Trí Phổ. Đương nhiên, cũng có khả năng đối phương đoán được suy nghĩ này của tôi, vậy nên mới lớn gan lợi dụng Lưu Trí Phổ như vậy. Nếu sự thực đúng là như thế, vậy thì anh ta (cô ta) hiển nhiên là còn lợi hại hơn so với trong tưởng tượng của tôi.

Cuối cùng, tôi vì điều này mà nảy sinh thêm suy đoán thứ ba: Có lẽ, người điều tra thần bí đó lại chính là bản thân Lưu Trí Phổ cũng chưa biết chừng. Tuy Lưu Trí Phổ là con ruột của Lưu Hướng Đông nhưng lòng người dù sao cũng khó đoán vô cùng.

Tóm lại, sau một phen phân tích ngắn gọn, tôi cho rằng khả năng thứ nhất là lớn nhất, tiếp đến là khả năng thứ hai và thứ ba. Suy nghĩ xong xuôi, tôi gọi điện thoại cho Lưu Hướng Đông. Lưu Trí Phổ nghe điện thoại thay cha, nói rằng cha mình đang mệt cần được nghỉ ngơi, không tiện dùng điện thoại. Nghe giọng điệu của anh ta, tôi biết rằng tối đó không thể nào liên lạc với Lưu Hướng Đông bằng điện thoại được nữa.

Tôi hiểu rõ: Tấn công vào tâm lý cũng giống như tấn công vào thể xác vậy, đều để lại vết thương trên cơ thể người bị tấn công, nhưng theo thời gian vết thương sẽ mờ nhạt dần và cuối cùng biến mất. Càng sớm tiến hành thăm dò Lưu Hướng Đông tôi sẽ càng dễ tìm ra vết thương trong lòng ông ta, từ đó tìm được những manh mối có liên quan tới sự tác động vào tâm lý. Nấu suốt cả đêm đều không làm gì, tôi rất có thể sẽ bỏ lỡ mất một cơ hội tuyệt vời để lôi người điều tra thần bí kia ra ngoài ánh sáng.

Nhưng, người điều tra đó có lẽ cũng nghĩ như vậy. Anh ta (cô ta) nhất định là đang nấp trong chỗ kín ngấm ngầm quan sát, hy vọng có thể mượn cơ hội này để làm rõ thân phận của tôi... Nghĩ đến đây, tôi đột nhiên nảy ra một kế hoạch mạnh bạo.

Xét cho cùng thì mục đích của người điều tra thần bí kia vẫn là điều tra Tập đoàn A, anh ta (cô ta) tấn công Lưu Hướng Đông chỉ vì muốn đạt được hai điều, thứ nhất là dẫn dụ tôi, từ đó tra rõ thân phận của tôi, thậm chí là diệt trừ tôi, bởi lẽ tôi chính là hòn đá ngáng chân lớn nhất trên con đường điều tra của anh ta (cô ta); còn điều thứ hai thì đương nhiên chính là tìm kiếm đối tượng điều tra tiếp theo, bởi anh ta (cô ta) đã ra tay với Lưu Hướng Đông rồi thì có nghĩa là Lưu Hướng Đông đã không còn chút giá trị nào đối với anh ta (cô ta) nữa, nếu muốn tiếp tục cuộc điều tra thì anh ta (cô ta) nhất định phải tìm được đối tượng điều tra mới. Lưu Hướng Đông là Chủ nhiệm của trung tâm nghiên cứu khoa học trực thuộc Công ty E, hơn nữa còn có quan hệ mật thiết với lãnh đạo cao cấp của Tập đoàn A, nếu trong phòng bệnh của ông ta xuất hiện một nhân vật bí ẩn thì ắt sẽ thu hút được sự chú ý của người điều tra. Nếu nhân vật bí ẩn này lại vô tình dùng giọng điệu của một thành viên thuộc giới lãnh đạo cao cấp của Tập đoàn A để nói ra mấy câu gì đó, có lẽ anh ta sẽ trở thành mục tiêu tiếp theo của người điều tra.

Cuối cùng, nếu nhân vật bí ẩn này chính là tôi, người điều tra nhất định sẽ tìm đủ mọi cách để tiếp xúc với tôi, mà việc này thì rõ ràng chẳng khác nào tự đâm đầu vào lưới. Dù rằng anh ta (cô ta) có thể cũng hiểu rằng đây là một cái bẫy, vậy nhưng nhất định không thể nào ngờ được tôi lại đích thân đứng ra làm con mồi. Bất kể anh ta (cô ta) có lợi hại và ẩn nấp kĩ tới đâu đi nữa, chỉ cần dám tiến hành tác động tới tâm lý của tôi thì ắt sẽ bị tôi dễ dàng phát hiện từ đó truy lùng ra thân phận thật.

Người điều tra thần bí kia nhất định không thể nào ngờ được rằng con mồi tiếp theo của mình kỳ thực chính là một người thợ săn. Cuộc giao tranh trực diện giữa tôi và anh ta (cô ta) sắp mở màn, địa điểm không phải nơi nào khác mà chính là phòng bệnh của Lưu Hướng Đông.

Sau khi suy nghĩ xong xuôi, tôi lập tức liên lạc với Chủ nhiệm Viên, nói lại chi tiết kế hoạch của mình cho ông ta biết. Chủ nhiệm Viên tỏ ra hết sức tán thành kê hoạch của tôi, nói rằng sẽ dốc hết sức phối hợp. Vào khoảng chín giờ bốn mươi lăm phút tối, tôi mang theo một bó hoa tươi đi vào trong phòng bệnh của Lun Hưóng Đông. Lúc ấy trong gian phòng bệnh nhỏ chật kín người, ngoài Lưu Trí Phố ra còn có các lãnh đạo lớn nhỏ của Đại học C và Công ty E, ngoài ra còn có một số người mà tôi không quen biết. Lưu Hướng Đông nhìn thấy tôi thì lập tức để lộ ra vẻ kính sợ và thoáng mang theo một chút ỷ lại, sau đó còn muốn đứng dậy chào đón tôi. Tôi vội vàng xua tay, sau đó mỉm cười, nói với ông ta: “Chủ nhiệm Lưu, ông cứ nằm đó nghỉ ngơi là được rồi, hôm nay chúng ta không nói gì tới việc công cả. Tôi đại diện cho tập đoàn - đương nhiên cũng đại diện cho chính bản thân tôi nữa – đến đây thăm ông, mong ông có thể sớm ngày khỏe lại.”

Lưu Hướng Đông thoáng sững người, rất nhanh đã hiểu ra được ẩn ý bên trong lời nói của tôi, thế là vội vàng ra hiệu cho Lưu Trí Phổ nhận hoa, đồng thời gật đầu lia lịa với tôi. Dù có vẻ yếu ớt do mất máu quá nhiều nhưng ông ta vẫn gắng gượng lên tiếng: “Chủ... Chủ nhiệm Trương, làm phiền anh quá! Rất cảm ơn anh đã không ngại bận, đến đây thăm tôi, ngoài ra, cũng cho tôi... cho tôi gửi lời cảm ơn tới các vị lãnh đạo khác của tập đoàn.”

Nghe thấy những lời này, mọi người trong phòng đều nhìn tôi bằng ánh mắt kính trọng, trong đó có hai giám đốc chi nhánh của Công ty E còn tỏ ra hết sức ngưỡng mộ tôi nữa. Tôi nhìn quanh một vòng trong khoảng hai giây, đồng thời quan sát sơ qua những người này một lượt, trọng điểm chính là mấy vị lãnh đạo của Đại học C.

Hiệu phó thường trực vóc người cao lớn, mặc một chiếc áo khoác màu đen, cổ áo dựng đứng. Ông ta sắc mặt tái nhợt, hai tay đều đút cả vào trong túi, mồm mím chặt, thỉnh thoảng lại thè lưỡi ra liếm bờ môi khô khốc - người này rõ ràng đang hơi căng thẳng, đồng thời còn cố ẩn giấu mình giữa đám đông.

Một vị Hiệu phó họ Cao thì đang đứng ngay cạnh giường, tay trái cầm một quả quýt mới bóc được một nửa, tay phải cầm mảnh vỏ quýt vừa bóc mà bóp nhẹ, cặp mắt nhìn quanh căn phòng, trong đó thời gian dừng lại trên người tôi là lâu nhất, kế đó là mấy vị lãnh đạo của Công ty E, còn về người của Đại học C thì chỉ nhìn thoáng qua một chút rồi thôi - xem ra ông ta rất tò mò về những người lạ phòng bệnh này, đặc biệt là tôi.

Một vị hiệu phó họ Trương thì đang đứng ngay bên cửa sổ, phần lớn thời gian ánh mắt đều nhìn ra phía ngoài, hai tay chủ yếu để ở sau lưng - ông ta dường như đang cố giữ khoảng cách với những người còn lại trong phòng bệnh.

Chủ nhiệm văn phòng nhà trường có ánh mắt hết sức thân thiện, phần lớn thời gian đều dừng lại trên người lãnh đạo Đại học C, Lưu Hướng Đông và tôi. Ánh mắt của ông ta không đủ thân thiện mà còn rất sáng, khi nhìn về phía Lưu Hướng Đông và tôi thì thậm chí còn sáng rực - ông ta có vẻ rất kính phục những người có quyền thế và địa vị tỏ ý sẵn sàng đi theo giúp sức.

Dựa theo trực giác, tôi sắp xếp mức độ khả nghi của những người đó từ cao xuống thấp như sau: Hiệu phó Trương, Hiệu phó Cao, Hiệu phó thường trực, Chủ nhiệm văn phòng nhà trường.

Kế đó, tôi lại tỉ mỉ qụan sát Lưu Trí Phố: Anh ta ngồi trên một chiếc ghế đặt ngay cạnh giường, tay đặt trên thành giường, có mấy lần Lưu Hướng Đông muốn đưa tay về phía tay của anh ta thì đều bị anh ta né tránh theo bản năng, dường như trong suy nghĩ của anh ta, tay của cha mình là một thứ gì đó rất đáng sợ vậy. Anh ta thỉnh thoảng lại liếc nhìn tôi một chút, ánh mắt sắc bén, vẻ mặt nóng vội, dường như mang đầy ẩn ý. Cùng với đó, đôi chân vốn thò ra ngoài của anh ta bất giác co vào dưới ghế, chân trái lắc qua lắc lại nhẹ nhàng, thỉnh thoảng còn đá vào chân ghế làm phát ra những âm thanh rất khẽ.

Đây là lần đầu tiên tôi tiếp xúc với anh ta ở cự ly gần như vậy. Tôi đột nhiên cảm thấy người thanh niên này dường như có chỗ nào đó khiến người ta nhìn không thấu.

Hai giây sau, tôi bỗng chú ý tới người phụ nữ đứng ở sau lưng anh ta. Người phụ nữ này khoảng hơn ba mươi tuổi, vóc người hơi gầy, tóc dài và thẳng, sắc mặt trắng không nhợt nhạt, đôi bờ môi căng đầy, còn mang màu hồng phớt cực kỳ gợi cảm. Ánh mắt của cô ta rất bình lặng, cứ tựa như một mặt hồ không có chút gợn sóng, nhưng tôi lờ mờ cảm thấy dưới lòng hồ dường như ngợp đầy sóng dữ...

Đó là Diệp Thu Vi!

Tôi bất giác cả kinh, thế rồi đột ngột quay trở về thực tại. Đây là lần đầu tiên ký ức gốc của tôi và luồng ký ức thuộc về X có sự giao thoa, điều này mang tới cho tôi một cảm giác mới mẻ vô cùng, thực khó có thể dùng lời nào miêu tả được.

Người phụ nữ đó là Diệp Thu Vi, nhưng Diệp Thu Vi của ngày ấy rất khác với Diệp Thu Vi mà tôi gặp được trong bệnh viện tâm thần thời gian vừa rồi. Khi ở bệnh viện tâm thần, tóc của cô ta hơi bồng bềnh, còn trong đêm đó thì lại là tóc thẳng; khi ở trong bệnh viện tâm thần cô ta thích ăn mặc theo kiểu trang nhã điềm đạm, còn trong đêm đó thì mặc một chiếc áo khoác màu đỏ tía; mà càng quan trọng là khi ở trong bệnh viện tâm thần cô ta luôn đeo một cặp gọng kính màu đen, trong đêm đó thì lại không đeo, cũng chẳng có dấụ hiệu gì của việc thị lực có vấn đề cả, cô ta...

Nghĩ đến đây, đầu óc tôi bỗng trở nên mê man, bên tai nữa vang lên tiếng rít quái dị kia.

Tôi hít sâu một hơi, cố ép mình bình tĩnh trở lại, sau đó tiếp tục quay trở về trong ký ức của X.

”Chủ nhiệm Trương, tôi...” Lưu Hướng Đông nhìn tôi, giọng nói trở nên hơi buồn cười do vừa bị mất một chiếc răng. “Tôi..” ^

”Không sao đâu.” Tôi hiểu ngay ý của ông ta, liền đi tới cạnh giường, vỗ vai ông ta, nói: “Ông cứ nghỉ ngơi cho khỏe đã, việc ở công ty không cần phải vội làm gì.”

Lưu Hướng Đông lập tức hiểu ngay ra ý của tôi, một lát sau bèn nói với mọi người: “Ôi, đều tại tôi, nửa đêm nửa hôm rồi mà còn không cẩn thận, làm mọi người phải nháo nhào chạy tới đây thế này, thật có lỗi quá. Tôi cũng không gặp phải chuyện gì quá ghê gớm cả, mọi người cứ quay về nghỉ ngơi đi, cảm ơn mọi người đã tới đây thăm tôi.”

Mọi người tất nhiên là lại an ủi và nịnh nọt một phen nữa. Sau khoảng mấy phút, tôi quay lưng về phía mọi người, nháy mắt ra hiệu cho Lun Hướng Đông, sau đó chủ động nói lời từ biệt, mọi người cũng đều lần lượt hưởng ứng, đồng loạt rời đi. Tôi chờ ở bãi đỗ xe chừng năm phút, thế rồi Lưu Hướng Đông đã gọi điện thoại tới.

”Anh Trương.” Ông ta cất giọng yếu ớt: “Trí Phố cũng đã đi rồi, hơn nữa đêm nay sẽ không quay lại đây đâu.

Hai phút sau, bóng dáng của Lưu Trí Phổ và Diệp Thu Vi xuất hiện bên ngoài bãi đỗ xe. Tôi đi theo hai người bọn họ từ xa, tận mắt nhìn thấy bọn họ ngồi lên xe rời đi, thế rồi mới yên tâm quay trở lại phòng bệnh của Lưu Hướng Đông. Lưu Hướng Đông vì mất máu quá nhiều nên có vẻ rất mỏi mệt khi đó đã sắp ngủ rồi, nhưng vừa nghe thấy tiếng động thì liền nhanh chóng tỉnh táo trở lại. Ông ta kiếm cớ bảo y tá đi chỗ khác, sau đó hơi nhích người về phía đầu giường một chút, tựa lưng vào gối nhìn tôi, sắc mặt có vẻ hết sức phức tạp.

”Anh Trương, tôi…”

”Tôi biết.” Tôi ngồi xuống bên cạnh ông ta. “Sau khi tự làm gãy răng, có phải ông đã thấy dễ chịu hơn một chút rồi không?”Ông ta đưa tay lên, nhưng lại nhanh chóng bỏ xuống, suy nghĩ một chút rồi nói: “Không còn răng nữa, tôi quả thực cảm thấy thoải mái hơn một chút, không còn hoảng hốt, cũng không còn sợ hãi nữa.”

Tôi khẽ gật đầu. “Hãy kể lại cảm giác của ông khi tự nhổ răng đi”

”Ôi.” Ông ta thở dài một hơi, suy nghĩ một chút rồi nói: “Khi đó tôi cứ nghĩ tới hai chiếc răng đó là lại cảm thấy hoảng hốt, sợ hãi, chẳng biết nguyên nhân rốt cuộc là gì nữa. Tôi chỉ muốn nhổ răng đi thôi, hơn nữa còn phải là tự tay mình nhổ. Cảm giác đó vô cùng mãnh liệt, cứ như là bị nghiện vậy. Kỳ thực tôi cũng biết rõ, sự khó chịu của mình không có chút liên quan thực tế nào với hai chiếc răng đó, vậy nhưng... Ôi... Phải nói thế nào đây nhỉ?”

”Ưm.” Tôi đưa tay tới khẽ vỗ vai ông ta.“Tôi biết, cảm không phải là thứ mà ý thức hay ý chí có thể khống chế, có người đã dùng một phương thức nào đó để kích thích tiềm thức của ông.”

Ông ta sững người ra, ngay sau đó liền không kìm được hít vào một hơi khí lạnh. “Ý anh là có người muốn hại tôi ư? Người này…?”

Lời còn chưa dứt thì tiếng gõ cửa đã đột ngột vang lên sau đó một bác sĩ dẫn theo hai y tá đi vào, nói: “Làm phiền một chút, bây giờ chúng tôi cần kiểm tra sơ lược tình trạng sức khỏe của Chủ nhiệm Lưu trước giờ đi ngủ.”

Tôi đứng dậy nhường chỗ, thế rồi hai y tá liền bắt đầu đo nhiệt độ cơ thể, nhịp tim và huyết áp của Lưu Hướng Đông, còn bác sĩ thì đeo ống nghe khám bệnh lên tai, vừa kiểm tra tình hình vừa hỏi một số câu hỏi đơn giản. Tôi đứng cạnh cửa sổ một lúc, sau đó hỏi: “Bác sĩ, tình hình thế nào rồi?”

Bác sĩ đứng thẳng người dậy, cất ống nghe đi, lộ vẻ trầm tư khẽ gật đầu. “Yên tâm đi, đã không còn vấn đề gì lớn nữa rồi, chỉ cần nghỉ ngơi nhiều một chút là được. Nói tới đây, anh ta chợt lại nở một nụ cười đầy ý vị. “May mà lần này Chủ nhiệm Lưu được đưa tới bệnh viện kịp thời, bằng không hậu quả thế nào thực khó mà nói trước được.”

Lưu Hướng Đông ngạc nhiên hỏi: “Chẳng phải chỉ là hai chiếc răng cửa thôi ư? Lẽ nào lại có thể khiến tôi gặp nguy hiểm về tính mạng?”

”Tôi có thể khẳng định với ông rằng thật sự là có đấy. Bác sĩ thu nụ cười lại.“Tôi đã xem điện tâm đồ của ông rồi, ông có dấu hiệu rõ ràng của chứng thiếu máu cơ tim, tuy các phương diện khác vẫn có thể coi là bình thường nhưng cũng không loại trừ khả năng bị mắc bệnh động mạch vành. Đối với ông mà nói, mất máu nguy hiểm hơn so với những người khác nhiều, sau này ông phải cẩn thận đấy, hơn nữa…” Anh ta chậc lưỡi một tiếng, nói tiếp:“Tôi cứ luôn cảm thấy răng của ông bị gãy không phải là do ngã đập xuống đất...”

”Tôi quả thực đã bị ngã đập răng xuống đất.” Lưu Hướng Đông uể oải đưa tay xoa mũi, nói với giọng kiên định: “Nhà vệ sinh trơn quá, sau này tôi sẽ chú ý cẩn thận hơn.” Sau đó lại hít vào một hơi khí lạnh, lo lắng hỏi: “Tim của tôi thực sự có vấn đề ư? Chẳng trách mấy năm nay tôi cứ thường xuyên cảm thấy hoảng hốt, nhưng khi đi khám sức khỏe định kỳ, bác sĩ đâu có nói gì với tôi.”

“Khám sức khỏe định kỳ cùng lắm chỉ có làm điện tâm đồ thôi đúng không?” Bác sĩ nói. “Dựa vào điện tâm đồ chỉ có thể nhìn ra ông bị mắc chứng thiếu máu cơ tim ở cấp độ nhẹ, bác sĩ có thể đã không quá coi trọng việc này. Tôi chỉ vì cẩn trọng nên mới nói cho ông biết rằng ông có khả năng bị mắc bệnh động mạch vành thôi. Chờ sau khi khỏe lại, ông hãy đi khám kĩ hơn là tốt nhất.”

”Được, được.” Lưu Hướng Đông khẽ gật đầu, sau đó nói với bác sĩ: “Thật cảm ơn anh quá. Nếu anh không nói, tôi làm sao mà biết được việc này.”

Bác sĩ nở một nụ cười thân thiện, không nói gì thêm, rất nhanh sau đó đã dẫn theo hai y tá rời khỏi phòng bệnh, anh ta rời đi, đóng cửa phòng lại, bất giác rơi vào trầm tư.

Trước đó, tôi cứ luôn vô thức cho rằng việc mất máu sẽ không gây nguy hại tới tính mạng của Lưu Hướng Đông và lần này Lưu Hướng Đông chỉ phải chịu một chút tổn thương không có gì là quá đáng ngại, thậm chí còn nghĩ đây chỉ là một sự phản kích yếu ớt mà người điều tra thần bí kia thực hiện với tôi trong cục diện bị động hoàn toàn. Nhưng sau khi nghe được những lời vừa rồi của bác sĩ, tôi đột nhiên ý thức được có lẽ mình đã đánh giá quá thấp năng lực của đối phương – anh ta (cô ta) rất có thể đã thông qua một biện pháp nào đó mà phát hiện ra vấn đề về tim của Lưu Hướng Đông, và lần công kích vừa rồi không hề hời hợt mà đủ để dồn Lưu Hướng Đông vào chỗ chết. Nếu tôi không cảnh giác hay Chủ nhiệm Viên không đủ tích cực, e là Lưu Hướng Đông đã sớm mất mạng rồi.

Nếu thực sự đúng như vậy thì người điều tra thần bí kia đúng là quá đáng sợ, anh ta (cô ta) không chỉ dễ dàng tìm được nhược điểm tâm lý của Lưu Hướng Đông, thậm chí còn có thể phát hiện ra nhược điểm sinh lý của Lưu Hướng Đông mà ngay đến chính bản thân ông ta cũng không biết, cuối cùng còn kết hợp hai nhược điểm về tâm sinh lý lại với nhau, từ đó lập ra một kế hoạch giết người thoạt nhìn thì đơn giản nhưng thực ra vô cùng tàn độc. Trong cục diện hoàn toàn bị động mà anh ta (cô ta) không ngờ còn có thể bình tĩnh như thế, suy nghĩ chỉn chu như thế, lại còn che giấu tung tích kín kẽ vô cùng…

Tôi lần đầu tiên nảy sinh lòng kính trọng đối với người điều tra thần bí này, xen lẫn trong đó còn có sự trân trọng ẩn sâu trong tiềm thức nữa.

Lưu Hướng Đông hiển nhiên là rất sợ hãi. Ông ta nhìn tôi, sau khi im lặng một hồi lâu thì bèn dùng giọng run run nói: “Anh Trương, là anh ta, chính là người mà anh đã nói, anh ta thực sự tồn tại!”

“Đương nhiên là tồn tại rồi.” Tôi ngồi trở lại giường. “Hơn nữa, vừa rồi người đó có lẽ cũng tới thăm ông.”

Lưu Hướng Đông mở to hai mắt, sau đó lại vội vàng nhắm lại, thở dài nói: “Tôi... tôi phải làm sao đây?”

”Đừng sợ.” Tôi đưa tay tới khẽ vỗ vai ông ta. “Tôi sẽ tìm ra người này, sau đó cùng tập đoàn nghĩ cách loại trừ anh ta. Bây giờ điều ông cần làm là dốc hết sức lực phối hợp với tôi, ông đã hiểu chưa?”

Ông ta gật đầu một cái thật mạnh, hiển nhiên là vô cùng tin tưởng tôi.

Trong vòng nửa tiếng đồng hồ tiếp theo, dưới sự dẫn dắt của tôi, Lưu Hướng Đông đã nhớ lại từng chi tiết trong bữa ăn trưa hôm đó, vậy nhưng tôi vẫn không thể nào ráp nổi những chi tiết đó lại để biến thành một thông tin hay manh mối nào có giá trị. Lúc mười một giờ mười lăm phút, tôi quyết định từ bỏ sự phân tích đối với bữa ăn trưa đó, sau đó nhắc đến cuộc trò chuyện giữa ông ta và Lưu Trí Phổ hồi chiều.

”Ồ, phải rồi.” Ông ta nhắm mắt lại, chậm rãi kể: “Chúng tôi đã đi dạo ở sân vận động vài phút. Tôi với nó đều bận, do đó đã lâu lắm không tâm sự gì với nhau.”

Tôi điều chỉnh cho ánh đèn tối bớt đi. “Ông trước đó đã tới văn phòng để kiểm tra tình hình công việc của anh ta, đúng vậy không?”

“Đúng vậy.” Hơi thở của ông ta lại càng trở nên chậm rãi và đều đặn hơn. “Nó rất cố gắng. Tôi rất vui.”

”Ừm.” Tôi bắt đầu dẫn dắt: “Ông đã vào văn phòng của anh ta như thế nào? Chân trái bước vào trước hay chân phải bước vào trước?”

Ông ta không chút do dự nói ngay: “Chân phải. Khi đó tôi còn đưa tay sờ răng cửa một chút nữa.”

”Tốt lắm.” Tôi dần hạ thấp âm lượng. “Tiếp tục nào, ông bước chân phải ra, lại đưa tay lên sờ răng cửa, đi vào trong văn phòng của anh ta. Anh ta đã nói với ông những gì?”

Lưu Hướng Đông khẽ “hừ” một tiếng, nói: “Nó nói: “Ông bận rộn như vậy, còn đến thăm tôi làm gì?” Tôi không nói gì, chỉ lẳng lặng kiểm tra các văn kiện trên bàn làm việc của nó, phát hiện ra một bản kế hoạch công việc. Kế hoạch của nó rất rành mạch, hơn nữa còn có ghi lại những hạng mục đã hoàn thành cùng với tin tức phản hồi. Khi đó tôi rất vui vẻ, muốn kéo tay nó, nhưng nó lại có vẻ ngại ngùng xấu hổ - thằng bé này từ nhỏ đã hướng nội như thế rồi. Tôi khẽ vỗ vai nó, bảo nó cùng tôi ra ngoài đi dạo một chút. Chúng tôi đến sân vận động, ban đầu cả hai đều im lặng không nói gì, nhưng sau khi được nửa vòng thì nó lại đột nhiên nói với tôi: “Ông có thể đừng suốt ngày sờ răng nữa được không, bạn bè và đồng nghiệp của tôi đều biết cái tật xấu này của ông đấy.” Nghe thế tôi mới giật mình phát hiện mình đã lại một lần nữa đưa tay lên sờ răng cửa. Khi đó, tôi nhớ đến lời mà anh đã nói với tôi, cảm thấy rất nhẹ nhõm, thế là bèn buông tay xuống. Trí Phổ lại nói tiếp: “Tôi không chỉ cảm thấy mất mặt còn thấy lo cho ông nữa. Tôi từng nghe một người bạn nói là môi trường sống của các vi khuẩn ở ngón tay và khoang miệng rất khác nhau nếu thường xuyên đưa tay vào trong miệng thì sẽ rất dễ khiến ngón tay và lợi đồng thời bị viêm nhiễm. Ông biết không, có một người vì không chú ý đến điều này mà đã mắc phải một loại bệnh về răng hết sức kỳ lạ, răng từ từ bị đục rỗng từ bên trong, nhưng vì lớp vỏ bên ngoài của răng vẫn còn rất cứng nên ngay đến bản thân ông ta cũng không hề hay biết. Về sau có một lần, trong khi đang ăn cơm ông ta chỉ cắn nhẹ một cái thôi, thế mà bốn chiếc răng cửa bỗng nhiên đồng loạt vỡ vụn, làm cho các mảnh răng vụn rơi ra đầy trong miệng ông ta.“.” Kể đến đây, Lưu Hướng Đông vốn đã có vẻ lim dim sắp ngủ, thế mà lại đột ngột sợ hãi mở bừng mắt ra, đưa tay tới bên miệng, sau đó đột nhiên dừng lại, kinh ngạc nhìn tôi. “Chuyện này... Tất cả đều là vì câu chuyện Trí Phổ đã kể cho tôi nghe ư? Nhưng khi mới nghe xong tôi đâu có cảm thấy không thoải mái chút nào, mãi đến mấy tiếng đồng hồ sau, vào khoảng gần bảy giờ tối tôi mới bắt đẩu cảm thấy hoang mang và lo lắng.”

Tôi khẽ gật đầu, đại khái hiểu được nguồn cơn sự việc.

Đối với loài người, ngoài sự uy hiếp đến từ những sinh vật cỡ lớn ra, trong thế giới tự nhiên còn tồn tại rất nhiều mối nguy hiểm không thể nhìn thấy được hoặc là không dễ gì phát giác: Trong không khí có vô số các loại vi sinh vật hoặc virus có hại trôi nổi, dưới lòng đất thì có rất nhiều loài côn trùng kích thước tuy nhỏ nhưng số lượng lại nhiều đến kinh người. Những thứ này một khi xâm nhập vào cơ thể người thì có thể tạo ra sự uy hiếp cực kỳ nghiêm trọng tới tính mạng của từng cá thể. Nhưng may mà loài người có một bộ da có kết cấu gần như hoàn hảo, có thể ngăn chặn được những mối nguy hiểm đó một cách hữu hiệu.

Làn da vô cùng quan trọng, do đó không thể dễ dàng để xuất hiện lỗ hổng, những lỗ hổng bắt buộc phải tồn tại vì sự sinh tồn thì đều có những biện pháp bảo vệ cũng như cơ chế lọc riêng biệt, từ đó thay thế tác dụng của da ở một mức độ nhất định: Trong khoang mũi có rất nhiều lông mũi, còn nước mũi thì chỉ cần bị kích thích nhẹ một chút là sẽ xuất hiện ngay; trong tai có màng nhĩ, dáy tai và một con đường hết sức ngoằn ngoèo; mắt thì có lông mày làm ô, lông mi làm chổi, mí mắt làm cửa lớn để ngăn cản những thứ không mong muốn; khi không nói chuyện, không ăn uống, miệng của con người sẽ luôn khép chặt trong vô thức; đường tiết niệu, đường ruột, đường sinh dục cũng đều có những biện pháp tự bảo vệ riêng, chẳng hạn như bơm máu, co bắp thịt, mọc lông. Chỉ cần suy nghĩ kĩ, con người ta sẽ không khó sinh ra cảm nhận thế này: Thân thể con người vẫn luôn cố gắng ngăn cản sự xâm nhập của virus cùng các vi sinh vật và côn trùng có hại.

Những dị vật này thường chui vào trong cơ thể người theo hai phương thức thường thấy nhất: Thứ nhất là đi qua khoang miệng để vào trong đường tiêu hóa - câu nói bệnh vào từ miệng vừa hay ứng với điều này; thứ hai chính là trực tiếp chui vào qua da. Do đó, phản ứng của con người khi phải đối mặt với các dị vật này có mối liên quan mật thiết với hai phương thức kể trên.

Thử nghĩ mà xem, một người nguyên thủy vì ăn đồ ăn không sạch mà dẫn đến việc trong bụng xuất hiện vi khuẩn có hại hoặc kí sinh trùng, khi đó hệ thống tiêu hóa xuất phát từ mục đích tự bảo vệ sẽ dùng biện pháp nôn mửa để đẩy đám vi khuẩn hoặc kí sinh trùng đó ra ngoài cơ thể.

Người nguyên thủy lờ mờ hiểu được nguyên nhân khiến mình cảm thấy không thoải mái, cũng hiểu rằng nôn mửa là một biện pháp hữu hiệu để đẩy dị vật ra ngoài cơ thể. Những người biết cách nôn mửa, thậm chí là giỏi nôn mửa sẽ có thể sinh tồn dưới sự uy hiếp từ các vi sinh vật và côn trùng, và từ đó nôn mửa dần trở thành một phản ứng bản năng của con người khi đối mặt với các mối uy hiếp này. Thế nên, khi con người nhìn thấy một đàn côn trùng dày đặc - đặc biệt là khi đàn côn trùng đó lại đang luồn lách bên trong cơ thể của một loại sinh vật cỡ lớn - thì sẽ không kìm được mà nôn mửa theo bản năng; khi nhìn thấy hoặc là ngửi thấy sự tồn tại của chất bài tiết, con người cũng sẽ cảm thấy buồn nôn, bởi lẽ trong chất bài tiết thường có chứa rất nhiều trứng của ký sinh trùng và vi khuẩn có hại.

Lại thử nghĩ tiếp mà xem, một người nguyên thủy không cẩn thận đụng phải một tổ côn trùng, những con côn trùng nhỏ bé ào ào lao ra, bò đầy lên cánh tay của anh ta. Lúc này, để đề phòng đám côn trùng chui vào trong da, những sợi cơ dựng lông trên tay anh ta sẽ bắt đầu co rút lại khiến cho lỗ chân lông khép chặt, qua đó chặn đứng con đường chui vào cơ thể của đám côn trùng. Hiện tượng cơ dựng lông co rút này cũng chính là tình trạng nổi da gà mà thường ngày chúng ta vẫn hay nói tới. Khi đối mặt với những con côn trùng nhỏ, người nào giỏi sử dụng cơ dựng lông sẽ có thể sinh tồn, từ đó nổi da gà cũng dần trở thành một loại phản ứng bản năng của con người khi phải đối mặt với một đàn côn trùng dày đặc. Cho nên, khi nhìn thấy nhiều côn trùng, đặc biệt là những con côn trùng nhỏ li ti không kìm được mà nổi da gà theo bản năng.

Đến thời hiện đại, những người nhạy cảm khi nhìn thấy một vật thể hoặc bức hình nào đó có nhiều lỗ nhỏ dày đặc thì sẽ vô thức liên tưởng tới một đàn côn trùng, từ đó mà nảy sinh phản ứng bản năng co rút cơ dựng lông, đây chính là hội chứng trypophobia tương đối hiếm gặp. Ngoài ra, những lỗ nhỏ bình thường xuất hiện trên da dù không quá dày đặc nhưng vẫn có thể gây ra sự liên tưởng đến việc những sinh vật nhỏ chui vào trong cơ thể mình, từ đó khiến người ta nảy sinh các tâm trạng như ghê tởm, sợ hãi, kèm theo đó cũng có thể là phản ứng bản năng co rút co dựng lông.

Đương nhiên, nguyên nhân tâm lý của hội chứng trypophobia còn bao gồm nhiều nhân tố khác như nỗi sợ hãi đối với việc mất năng lực phán đoán, bị giống loài khác bao vây, tại đây tạm thời không nhắc đến.

Quay trở về chủ đề chính, Lưu Hướng Đông rất có năng lực trong nghiên cứu khoa học, tính cách thì khá hướng nội, không giỏi giao tiếp, thuộc loại người tâm lý nhạy cảm điển hình. Lưu Trí Phố kể cho ông ta nghe ví dụ về một người bị đục rỗng răng, điều này sẽ gây ra nỗi sợ hãi bản năng của ông ta ở một mức độ nhất định về việc bản thân đang không an toàn, từ đó làm nảy sinh sự sợ hãi đối với răng cửa. Ông ta sẽ liên tưởng đến tình trạng răng của mình bị rỗng hết từ bên trong, sau đó lại liên tưởng đến việc răng đột nhiên vỡ vụn, từ đó sinh ra tư duy cưỡng chế tiêu cực là loại bỏ răng cửa để loại trừ nỗi sợ hãi đi kèm theo nó.

Thực ra, bản thân nỗi sợ hãi cùng với tư duy cưỡng chế kia không hề nghiêm trọng, điều nghiêm trọng là chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế vốn đã tồn tại trong người Lưu Hướng Đông, mà răng cửa vừa hay lại chính là vật tượng trưng cho nỗi sợ hãi gây ra chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế này. Tư duy và hành vi của người bị mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế đều có quán tính, mà những nỗi sợ hãi thuộc chủng loại khác nhau cũng có thể hỗ trợ nhau tăng trưởng. Lấy răng cửa làm xuất phát điểm, nỗi sợ hãi mà Lưu Trí Phổ truyền vào đã thổi bùng lên các vấn đề tích lũy trong người Lưu Hướng Đông bao nhiêu năm nay, từ đó khiến cho hành vi cưỡng chế cực đoan xuất hiện.

Đây chính là nguyên nhân tâm lý khiến Lưu Hướng Đông không kiềm chế được tự nhổ răng cửa của mình hôm đó.

Vấn đề quả thực là nằm trên người Lưu Trí Phổ.
 

root

Tác Giả
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,953
Reaction score
185
Points
9,999
Quyển 2 - Chương 8: Cuộc đọ sức ở sâu trong nội tâm
Nhưng thời gian Lưu Hướng Đông trò chuyện với con trai là bốn giờ chiều, thời gian xuất hiện tư duy cưỡng chế là bảy giờ tối, cách nhau những ba tiếng đồng hồ, điều này có sự mâu thuẫn rõ ràng với những điều phân tích ở trên. Do đó, lời của Lưu Trí Phổ tối đa chỉ có thể khơi dậy sợ hãi của Lưu Hướng Đông chứ không cách nào khiến nó bùng phát, giống như một đống thuốc nổ chất sẵn ra đó nhưng không nổ. Người điều tra kia vẫn luôn ngấm ngầm quan sát, tất nhiên cũng đã phát hiện ra điều này. Vì thế anh ta (cô ta) cần phải đốt cháy ngòi nổ, cũng tức là tiến hành ám thị Lưu Hướng Đông một lần nữa vào lúc gần bảy giờ tối. Hôm đó, chỉ có Lưu Trí Phổ và Lưu Hướng Đông ở nhà, do đó sự ám thị kia có lẽ cũng được tiến hành thông qua Lưu Trí Phổ.

Nhưng vấn đề cũng theo đó mà xuất hiện, theo như lời của Lưu Trí Phổ thì bắt đầu từ lúc sáu rưỡi hôm đó, Lưu Hướng Đông một mực ở trong phòng đọc sách, giữa hai người chẳng có cuộc trao đổi nào. Nếu quả thực là như vậy, Lưu Hướng Đông rốt cuộc đã bị ám thị như thế nào đây?

Phân tích tới đây, tôi bèn hỏi Lưu Hướng Đông: “Tối đó sau khi vào trong phòng đọc sách, ông liền lập tức cảm thấy không thoải mái ư?”

”Không.” Ông ta nói bằng giọng chắc nịch: “Ban đầu tôi rất ổn. Cảm giác đó xuất hiện đột ngột vô cùng, có lẽ là vào khoảng quá bảy giờ một chút.”

Tôi lại hỏi tiếp: “Khi đó Trí Phổ có nói gì với ông không?”

“Không.” Ông ta vẫn nói giọng chắc nịch: “Thường ngày khi ở nhà nó vốn đã không thích nói chuyện với tôi, khi tôi vào phòng đọc sách nó đương nhiên lại càng chẳng có gì để nói với tôi cả.”

Tôi lại hỏi tiếp: “Ông có nhớ vào khoảng bảy giờ đã xảy ra chuyện gì không? Khi đó ông đã nhìn thấy gì, nghe thấy gì hoặc là đã làm gì?”

Ông ta suy nghĩ suốt một hồi lâu, cuối cùng lắc đầu vẻ hết cách.

“Tôi hiểu rồi.” Tôi ngồi thẳng người dậy, ngó mắt nhìn ra ngoài cửa sổ. “Tối đó Trí Phổ không về nhà phải không?”

”Hình như là vậy.” Lưu Hướng Đông nói “Nó đã dọn ra ngoài ở với cô gái kia rồi.”

Tôi đứng dậy, chìa tay ra nói: “Đưa chìa khóa nhà ông cho tôi, manh mối quan trọng nhất có lẽ nằm trong phòng đọc sách của ông đấy.”

Lưu Hướng Đông lấy chìa khóa ra, trên mặt ngợp đầy vẻ ngạc nhiên và mong chờ.

Đúng mười hai giờ, tôi vào trong nhà họ Lưu, mở của phòng đọc sách của Lưu Hướng Đông ra. Đèn bàn và một chiếc đèn áp tường vẫn còn đang sáng, sách vở tài liệu được bày bừa bộn trên bàn đọc sách, có một số trang giấy hình như còn bị dính nước. Tôi đi tới bên cạnh bàn đọc sách, nhìn thấy có một chiếc ghế đổ chỏng gọng dưới đất, lưng ghế đang đè lên thứ gì đó, trên sàn nhà ờ một góc của bàn đọc sách thì có mấy vũng máu lớn nhỏ khác nhau đã đông cứng lại.

Tôi nâng chiếc ghế lên, thấy thứ bị đè bên dưới đó hóa ra là một chiếc kìm nhổ răng chuyên dụng. Tôi đặt chiếc kìm đó sang một bên, dựng chiếc ghế dậy rồi lại nhìn thấy hai chiếc lọ đựng dung dịch gì đó để trên bàn đọc sách. Một trong hai chiếc lọ đã được mở nắp, còn đổ nghiêng vào một cuốn sách ở ngay bên cạnh, làm ướt mất mấy trang sách. Tôi cầm chiếc lọ đã mở nắp lên, thấy trên nhãn có đề là “Dung dịch tetracaine hydrochloride”, đây dường như là dùng. Chiếc lọ còn lại thì chưa mở, trên nhãn đề là “Dung dịch adrenalin hydroclorid”, nó có lẽ được dùng phối hợp với loại dung dịch kể trên nhằm kéo dài thời gian gây tê.

Răng là một trong những bộ phận nhạy cảm nhất trên cơ thể người, chỉ sử dụng thuốc gây tê bề mặt có lẽ chẳng giảm được bao nhiêu sự đau đớn khi nhổ răng. Xem ra đúng như Lưu Hướng Đông đã nói, khi đó lòng cố chấp của ông ta quá ư mãnh liệt, thế nên chẳng còn dư tâm trí mà để ý đến sự đau đớn nữa.

Ông ta rốt cuộc đã phải chịu một sự kích thích như thế nào?

Sau khi vào trong phòng đọc sách, Lưu Hướng Đông một mực cắm cúi làm việc, tâm trạng rất bình tĩnh, nhưng lúc gần bảy giờ ông ta lại đột ngột nhìn thấy thứ gì đó, thế là sự sợ hãi trong nội tâm sau nháy mắt đã bị thổi bùng lên. Ông ta rốt cuộc đã nhìn thấy thứ gì? Muốn làm rõ vấn đề này thì trước tiên cần phải suy nghĩ xem khi đó ông ta đã nhìn thấy thứ đó như thế nào.

Tôi ngồi trước bàn đọc sách, thầm nghĩ về các cử chỉ cũng như cảm nhận của Lưu Hướng Đông khi đó.

Có lẽ, lúc gần bảy giờ ông ta cảm thấy hơi mỏi mệt, thế là không kìm được vươn vai một cái, và rồi vô ý ngẩng đầu lên, nhìn thấy nguồn cơn của sự kích thích trong tâm lý mà mình phải chịu. Tôi ngẩng đầu nhìn về phía trước, thấy ngoài hai chiếc đèn áp tường và một bức thư pháp viết “Nan đắc hồ đồ1” ra, trên tường không có vật gì khác nữa cả.

1. Một câu danh ngôn nổi tiếng của danh sĩ Trịnh Bản Kiều thời nhà Thanh, nghĩa là khó mà có được sự hồ đồ - ND.

Cũng có thể khi đó Lưu Hướng Đông đã đứng dậy đi lại mấy bước cho bớt mỏi mệt. Tôi đứng dậy, buông lỏng tâm trí, cố hết sức đi lại trong phòng theo sự chỉ dẫn tiềm thức, đồng thời ghi nhớ những vị trí mà mình đã đi qua. Sau đó, tôi đi lại một lượt nữa theo con đường cũ, nhưng chỉ nhìn thấy vô số sách vở tài liệu cùng với những chiếc chai lọ được bày đầy trong tủ đựng đồ, căn bản không phát hiện ra thứ gì khác lạ.

Tôi ngồi trở lại ghế, ánh mắt tập trung vào bàn đọc sách - chẳng lẽ nguồn cơn của sự kích thích được ẩn giấu trong đống sách vở tài liệu này? Tôi vừa sắp xếp vừa mở chúng ra xem qua một chút, thấy trên giấy toàn là những con chữ và công thức mà tôi không hiểu lắm, thế nên chẳng thể phát hiện ra thứ gì có thể gây ra sự kích thích cả.

Tôi sắp xếp lại đống sách vở tài liệu đó cẩn thận, sau đó cúi đầu, đột nhiên để ý tới một chiếc ngăn kéo nằm ở chính giữa bàn đọc sách. Các ngăn kéo khác đều được đóng kín, chỉ có một mình chiếc ngăn kéo đó là được kéo ra ngoài khoảng một xen ti mét. Tôi kéo hẳn nó ra, thấy bên trong có đặt một xấp giấy trắng, một hộp ghim, một hộp mực đóng dấu, một hộp sô cô la đã ăn hết một nửa, ngoài ra còn có một tờ báo đã bị vò nhàu thành một nắm.

Tôi trải phẳng tờ báo ra trên mặt bàn, thấy đó là một tờ báo tổng hợp của tỉnh nhà, hai mặt trước sau đều là các thông tin thời sự trong ngày. Trên tờ báo có những nếp gấp khá rõ ràng, tôi tìm lấy mấy cuốn sách ép phẳng nó ra, sau đó dựa theo những nếp gấp kia mà cố gắng gấp nó lại sao cho đúng: với tình trạng trước khi bị vò nhàu. Sau khi gấp xong, tôi thấy một mặt của nó là một phần của bức tranh quảng cáo, mặt còn lại thì là một bài báo hoàn chỉnh. Dựa vào cách thức gấp tờ báo lại mà xét, mục đích của việc làm này chính là làm nổi bật bài báo kia lên.

Bài báo kể lại một chuyện như thế này: Tiểu Triệu dẫn theo bạn gái của mình từ quê lên thành phố xây dựng sự nghiệp phải vào ở nhờ tại nhà của cậu ruột mình trong hơn một năm. Vì lý do công việc, Tiểu Triệu thường xuyên phải làm tăng ca đến tận nửa đêm, có lúc thậm chí còn ngủ lại luôn ở nơi làm việc. Cậu anh ta dùng đủ các biện pháp cả cứng lẫn mềm, ép bạn gái của cháu mình phát sinh quan hệ với mình trong một thời gian dài. Điểm mấu chốt của tin tức này nằm ở chỗ sau khi biết tin, không ngờ Tiểu Triệu lại không có đủ dũng khí để trở mặt với cậu mình, cuối cùng lựa chọn nín nhịn. Mãi đến khi mợ anh ta phát giác ra điều khác thường thì sự việc mới bại lộ. Phóng viên đã đi sâu vào điều tra và phát hiện, không ngờ cậu của Tiểu Triệu lại là một “Tư lệnh đỏ1” nổi tiếng trong vùng hồi những năm bảy mươi của thế kỷ trước, khi đó từng làm ra không ít chuyện xấu, vậy nhưng không hề bị trừng phạt. Hơn nữa, ông ta cũng không hề có ý hối cải, vào đầu những năm tám mươi thậm chí còn đổi tên thành “Văn Cácstrong”, thản nhiên thể hiện ra sự tiếc nuối đối với một thời hỗn loạn.

Hóa ra đây chính là nguồn gốc của sự kích thích mà Lưu Hướng Đông phải chịu.

1.Tức kẻ cầm đầu một toán Hồng vệ binh, lực lượng chính tạo thành sự phá hoại to lớn trong Cách mạng văn hóa diễn ra ở Trung Quốc - ND.

2. Tên viết tắt của Cách mạng văn hóa - ND.

Bất kể câu chuyện trong bài báo đó là thật hay giả thì cũng đều có thể mang tới cho người đọc sự ám thị ở hai phương diện: Thứ nhất, trong những năm tháng hỗn loạn có người mượn danh cách mạng để làm đủ mọi chuyện xấu bức hại người vô tội; thứ hai, đám lưu manh năm xưa không hề bị trừng phạt, đến bây giờ vẫn ung dung tự tại, thậm chí còn tiếp tục đi làm hại người khác. Người bình thường khi đọc được một bài báo thế này thì cùng lắm cũng chỉ cảm thấy căm phẫn mà thôi, nhưng với một người từng phải trải qua những năm tháng hỗn loạn ấy như Lưu Hướng Đông thì sức mạnh ám thị của bài báo ấy trực tiếp và mãnh liệt vô cùng. Ông ta không chỉ nhớ lại sự nhục nhã và sợ hãi năm xưa, thậm chí dưới sự ám thị của thông tin “đám lưu manh còn chưa bị trừng phạt”, trong tiềm thức của ông ta còn nảy sinh một tâm trạng tuyệt vọng triệt để, mà tâm trạng tuyệt vọng ấy lại càng làm tăng thêm nỗi sợ hãi.

Đây chính là ngòi nổ làm bùng lên vấn đề trong tâm lý của ông ta.

Tôi cầm tờ báo đó trong tay, nghĩ thầm tối đó chỉ có hai cha con bọn họ ở nhà, người gấp tờ báo lại rồi đặt vào trong phòng đọc sách không thể nào là bản thân Lưu Hướng Đông, cho nên chỉ có thể là Lưu Trí Phổ mà thôi. Quá trình có lẽ là như thế này: Lưu Trí Phổ biết cha mình khi mệt mỏi sẽ mở ngăn kéo ra ăn một thanh sô cô la, do đó đã gấp sẵn tờ báo lại từ trước rồi để vào bên dưới phong sô cô la. Trong lúc mỏi mệt, Lưu Hướng Đông theo bản năng sẽ nảy sinh suy nghĩ chuyển dời sự tập trung, do đó khi phát hiện ra tờ báo đó nhất định sẽ cầm lên đọc, mà thứ đầu tiên ông ta đọc được chính là bài báo được làm nổi bật lên kia.

Người điều tra thần bí kia lẽ nào thực sự chính là Lưu Trí Phổ?

Tôi lập tức quay trở lại bệnh viện. Lưu Hướng Đông thấy tiếng động liền tỉnh lại ngay, hỏi tôi là có phải phát hiện ra điều gì rồi không. Để tránh tạo thành ám thị tiêu cực đối với ông ta một lần nữa, tôi chỉ để tờ báo đó trước mặt ông ta khoảng hai giây, đồng thời cất tiếng hỏi:“Ông có ấn tượng gì về tờ báo này không?”

Dưới sự nhắc nhở của tôi, ông ta suy nghĩ một chút rồi nói: “Ồ... Đây là... là tờ báo ở trong ngăn kéo bàn làm việc của tôi phải không?”

Tôi nhanh chóng cất tờ báo đó đi. “Ông còn nhớ nội dung trong đó không?”

Ông ta suy nghĩ một lát rồi bèn lắc đầu, nói: “Tôi không nhớ rõ lắm, nhưng chắc chỉ toàn là những việc vụn vặt chứ gì...” Dứt lời, ông ta đột nhiên cứng đờ người ra trong khoảng nửa giây, sau đó xoa đầu, nói: “Hình như trong đó có một bài báo khiến tôi cảm thấy rất khó chịu... Tôi cũng chẳng rõ chuyện rốt cuộc là như thế nào nữa, tóm lại sau khi đọc xong tôi đã vò nát nó rồi vứt vào trong ngăn kéo.” Nói tới đây, ông ta đột nhiên đưa mắt nhìn tôi vẻ hết sức sợ hãi. “Lẽ nào tờ báo này...”

Tôi lẳng lặng gật đầu với ông ta.

Cái gọi là ám thị kỳ thực chính là thông qua các phương thức như ngôn ngữ, văn tự, hành vi để tạo thành ảnh hưởng đối với tiềm thức của người khác. Bởi vì các thông tin mà ngôn ngữ, văn tự, hành vi truyền đạt thông thường đều phải qua ý thức rồi mới đi vào trong tiềm thức, do đó phần lớn các hành vi ám thị đều lưu lại dấu tích ở trong khu vực tiềm thức, khiến người bị ám thị có thể phát giác ra điều gì đó. Nhưng cũng có lúc ám thị xảy ra trong tình huống ý thức chẳng hề phát hiện. Lưu Hướng Đông làm việc mệt, đọc báo thực ra chỉ là để thả lỏng đầu óc chứ không phải vì thực sự quan tâm đến nội dung bên trong. Ngoài ra, đại não của ông ta khi đó có lẽ còn đang bận suy nghĩ rất nhiều vấn đề có liên quan tới công việc. Trong trạng thái như vậy sẽ rất dễ xuất hiện hiện tượng “đọc trong vô thức” tức là sau khi đọc xong một đoạn văn tự, người đọc chẳng hề có chút ấn tượng nào - việc này chắc hẳn rất nhiều người đã từng trải qua. Tuy ý thức không hề có ấn tượng nhưng sự ám thị ẩn trong văn tự lại rất có khả năng đã trực tiếp đi vào trong tiềm thức, qua đó tạo thành ảnh hưởng đối với tâm lý. Dưới sự ám thị của bài báo đó, nỗi sợ hãi trong lòng Lưu Hướng Đông đã hoàn toàn bùng nổ, nhưng ông ta lại hoàn toàn không nhớ được nội dung của bài báo, điều này chính là do hiện tượng “đọc trong vô thức” tạo thành.

Rất hiển nhiên, người điều tra thần bí kia hiểu rất rõ về tính cách, thói quen làm việc cũng như quy luật sinh hoạt của Lưu Hướng Đông, tôi cũng vì thế mà càng thêm nghi ngờ Lưu Trí Phổ.

Tôi hỏi: “Ông thường ngày có thói quen để báo vào trong ngăn bàn không?”

Lưu Hướng Đông hơi sững người ra một chút, ngay sau đó liền lắc đầu, nói:“Không, tuy ở nhà và ở công ty đều có đặt báo, nhưng tôi về cơ bản chẳng mấy khi đọc…” Dừng một chút, ông ta lầm bầm nói tiếp: “Hầy, nói thế nào nhỉ, tôi cũng không dám khẳng định, nhưng sáng nay khi tới Đại học C giảng bài, hình như là tôi có đọc báo ở đó, nhưng rốt cuộc có vô tình mang báo về nhà hay không thì tôi…tôi thực sự không nhớ được.”

Tôi khẽ gật đầu, sau đó lại hỏi tiếp: “Có khi nào là Trí Phổ đặt báo vào trong ngăn bàn của ông không?”

“Không thể nào.” Lưu Hướng Đông trả lời rất nhanh. “Tối qua tôi ở trong phòng đọc sách tới hơn mười hai giờ, còn từng mở ngăn kéo ra một lần. Khi đó trong ngăn kéo rất sạch, không hề có tờ báo nào cả. Sáng hôm nay tôi và Trí Phổ cùng nhau ra ngoài, đến chiều cũng về cùng nhau. Khi tôi nấu cơm, nó vẫn luôn ở trong bếp phụ giúp, chưa từng rời đi lần nào. Sau đó, tôi ăn xong bữa tối thì liền vào trong phòng đọc sách ngay, nó căn bản không có thời gian để làm việc đó. Hơn nữa, trong phòng đọc sách có không ít tài liệu quan trọng và vật phẩm hóa học đang trong giai đoạn thí nghiệm, bình thường tôi đều khóa trái cửa phòng, mà căn phòng đó chỉ một mình tôi có chìa khóa mà thôi.”

Nhìn thần sắc cùng với giọng điệu của Lưu Hướng Đông, ông ta tuy rất lo con trai mình bị hoài nghi nhưng lại không hề vì thế mà nói dối. Có điều, nếu người đặt tờ báo đó vào trong ngăn kéo bàn ở phòng đọc sách không phải là Lưu Trí Phổ, vậy thì có thể là ai đây? Là bản thân Lưu Hướng Đông ư? Tuyệt đối không thể nào... Hành vi gấp tờ báo đó lại rồi giấu vào trong ngăn bàn thoạt nhìn thì có vẻ đơn giản nhưng lại đã lợi dụng thói quen làm việc, thói quen sinh hoạt và đặc điểm tâm lý của Lưu Hướng Đông, đồng thời còn dự đoán trước được sự xuất hiện của hành vi “đọc trong vô thức”, có thể nói là một lần ám thị cao minh vô cùng, ắt là do một cao thủ tâm lý làm ra.

Người đó không phải là Lưu Trí Phổ, nhưng cũng không phải là Lưu Hướng Đông, lẽ nào hồi ban ngày còn có người nào khác đã từng lén lút tới nhà họ Lưu?

Những mảnh thông tin hỗn loạn nhanh chóng được ráp nối, thế rồi một tia sáng rực bỗng lóe lên trong đầu tôi.

”Giáo sư Lưu.” Tôi cau mày hỏi: “Gần đây ông và Trí Phổ có từng làm mất chìa khóa không?”

Lưu Hướng Đông bất giác sững người. “Anh làm sao mà biết được việc này vậy? Buổi trưa hôm nay Trí Phổ nói làm mất chìa khóa, thế nên buổi chiều nó mới chịu về nhà cùng tôi. Nếu là thường ngày, nó ắt chẳng chịu ngồi xe của tôi đâu.”
Tôi hỏi: “Buổi trưa ư? Cụ thể là khi nào vậy?”

”Hình như là lúc ăn cơm trưa.” Lưu Hướng Đông suy nghĩ một chút rồi nói:“Phải rồi, nó đã kể với tôi như thế này, buổi trưa khi rời khỏi văn phòng và khóa cửa thì chùm chìa khóa vẫn còn ở trên người, sau đó nó đã cùng mấy người bạn đến một nhà hàng ở gần trường để ăn cơm, trên đường từ nhà hàng quay về thì phát hiện chùm chìa khóa đã bị mất. Nó đã quay trở lại nhà hàng để tìm, nhưng người ở đó nói là không thấy gì cả.”

Có người thứ ba từng tới nhà họ Lưu vào lúc ban ngày là một suy đoán hợp lý, thêm vào đó việc Lưu Trí Phổ bị mất chìa khóa vào lúc dùng bữa trưa cũng hết sức có vấn đề, cho nên nguồn cơn mọi sự đã rất rõ: Người điều tra thần bí kia đã lấy trộm chìa khóa của Lưu Trí Phổ, chờ đến chiều thì lẻn vào nhà họ Lưu, sau đó không biết đã dùng cách gì để mở cửa phòng đọc sách và đặt tờ báo được gấp sẵn vào bên dưới hộp sô cô la trong ngăn bàn.

Tôi không kìm được thầm thở phào một hơi, trong lòng hết sức bất ngờ khi người điều tra thần bí kia lại dùng một biện pháp tầm thường và kém cỏi như là lấy trộm chìa khóa. Có lẽ, tôi thực sự đã đánh giá người này quá cao rồi.

Tôi lập tức rời khỏi phòng bệnh của Lưu Hướng Đông và gọi điện thoại cho Chủ nhiệm Viên, nhờ ông ta tìm cách kiểm tra băng hình giám sát của khu chung cư mà Lưu Hướng Đông đang sinh sống trong quãng thời gian từ mười hai giờ trưa đến sáu giờ tối. Đến hai giờ sáng, Chủ nhiệm Viên gọi điện thoại tới cho tôi, nói là ông ta đã kiểm tra rất kĩ băng hình giám sát, có thể khẳng định là từ mười một rưỡi cho đến khi cha con nhà họ Lưu về nhà là năm rưỡi, không có bất kỳ ai từng mở cửa căn hộ của nhà họ Lưu. Cùng với đó, nhà họ Lưu nằm ở tầng mười bảy của khu chung cư, cửa sổ ngoài hai bên đều nằm ở mặt đường. Chủ nhiệm Viên cũng đã tìm cách kiểm tra băng hình giám sát của mấy công ty gần đó, kết quả nhận được là trong suốt buổi chiều, ngoài cửa sổ nhà họ Lưu không hề có bóng dáng của người nào cả.

”Tôi đã mời rất nhiều chuyên gia tới kiểm tra các băng hình đó.” Cuối cùng Chủ nhiệm Viên nói: “Bọn họ đều khẳng định, cả buổi chiều không hề có người nào đi vào nhà họ Lưu.”

Hai giờ sáng ngày 9 tháng 11 năm 2009, lời của Chủ nhiệm Viên đã mang tới cho tôi - hoặc có thể nói là mang tới cho X - một cảm giác thất bại đến mức gần như tuyệt vọng. Tôi không kìm được thở dài một hơi, nhanh chóng quay trở về thực tại từ trong ký ức của X. Tôi cầm chiếc điện thoại trên bàn trà lên, thấy thời gian là một giờ sáng ngày 23 tháng 7 năm 2012, cách lần gặp mặt thứ tám giữa tôi và Diệp Thu Vi chỉ chưa đầy mười sáu tiếng đồng hồ.

Tôi ngẩn ngơ đưa mắt nhìn về phía cửa nhà vệ sinh. Mãi đến lúc này tôi vẫn không sao hiểu nổi: Năm đó Diệp Thu Vi rốt cuộc đã giấu tờ báo kia vào trong nhà họ Lưu bằng cách nào?

Vẫn là câu nói đó, việc này có lẽ chỉ có một mình cô ta là có thể nói cho tôi biết đáp án mà thôi.

Nghĩ đến đây, một cảm giác mỏi mệt mãnh liệt bỗng nhiên ập tới. Tôi tựa người vào xô pha, ngẩng đầu nhắm mắt dưỡng thần. Bốn phía xung quanh đều hoàn toàn tĩnh lặng, tôi chỉ có thể nghe thấy những tiếng tích tắc khe khẽ phát ra từ chỗ chiếc đồng hồ treo tường. Tôi tập trung sự chú ý của mình vào những tiếng tích tắc ấy, hơi thở đều đặn và dần trở nên chậm rãi, ý thức cũng càng lúc càng buông lỏng. Trong lúc nửa tỉnh nửa mê, bên tai tôi lại một lần nữa vang lên tiếng rít quái dị kia. Khác với những lần trước, tiếng rít lần này không hề đột ngột, cũng chẳng chói tai, còn mang theo một sự mềm mại khiến người ta khó lòng kháng cự. Tiếng rít dần trở nên rõ ràng và biến thành tiếng nỉ non của một cô gái, sau đó lại biến thành tiếng cười trong trẻo như tiếng chuông bạc. Tiếng cười ấy tựa như những nốt nhạc du dương, nhẹ nhàng lay động một cánh cửa nào đó nằm ở nơi sâu trong lòng tôi.

Tôi đắm chìm trong tiếng cười, thân thể càng lúc càng buông lỏng. Đúng vào khoảnh khắc giấc ngủ của tôi sắp từ nông biến thành sâu, tiếng cười đó đột nhiên trở nên thê lương thảm thiết, sau đó thì nhanh chóng biến thành tiếng gào khóc thảm thương tột độ. Tiếng gào khóc ấy chân thực quá, cứ như thể có một cô gái trẻ tuổi đang ngồi ngay gần chỗ tôi, bị giày vò bởi một nỗi đau khổ khó lòng chịu đựng. Trong cơn ngơ ngẩn, tôi mở mắt ra, nhìn thấy ở phía trước bên phải có một cô gái đang nằm trên xô pha. Cô gái ấy quần áo xộc xệch tả tơi, hai tay ôm mặt, trên hai cánh tay có vô số vết dao cắt ngang dọc đan xen nhau...

Lòng tôi như thắt lại, sau nháy mắt đã giật mình bừng tỉnh. Theo bản năng, tôi ngó nhìn về phía trước bên phải, thấy trên xô pha chỉ có một chiếc gối ôm trẻ con cùng với một món đồ chơi, không hề có cô gái nào cả. Tôi thở phào một hơi, tới lúc này mới ý thức được là mình đã lại một lần nữa nằm mơ...

Tôi, tôi tại sao lại hay nằm mơ thấy cô gái đó như thế chứ? Tại sao cô ta lại thường xuyên đeo bám lấy tôi trong mơ? Trong tiềm thức của tôi, cô ta rốt cuộc tượng trưng cho điều gì?

Tôi nhớ lại một chi tiết nhỏ trong lúc mộng du: Tôi nhìn thấy X đi vào trong nhà vệ sinh, thế là muốn đuổi anh ta đi. Nhưng vừa đứng dậy đi được hai bước thì tôi đã bị thứ gì đó chặn mất đường đi. Thứ này là bàn trà trong hiện thực, nhưng trong giấc mộng thì lại được biểu hiện là cô gái kia. Tại sao lại là cô ta? Tiềm thức tại sao lai để cô người ngăn cản tôi đi vào nhà vệ sinh? Phải chăng tiềm thức muốn thông qua phương thức này để truyền đạt cho tôi một số thông tin gì đó khác?

Tôi đưa tay mân mê cằm, lờ mờ hiểu ra điều gì đó.

Giấc mơ là sự ngụy trang và biểu đạt của ham muốn sau khi bị kìm nén, dựa vào cơn mộng du trước đó mà xét: Tiềm thức biết tôi chính là X, đồng thời muốn khiến tôi hiểu được điều này, qua đó nhận thức chính xác và khống chế được bản thân, đây là ham muốn cơ bản nhất của một cá thể sinh vật. Nhưng X lại tồn tại như là một nhân cách độc lập, anh ta có điều kiêng dè đối với tôi, thế nên vẫn luôn tiến hành quấy nhiễu và ngăn cản tiềm thức, ham muốn vì thế mà bị kìm nén. Sức mạnh tinh thần của X vô cùng ghê gớm, vẫn luôn kìm nén ham muốn tự nhận thức của tiềm thức, tiềm thức tuy cực lực phản kháng nhưng rốt cuộc vẫn không cách nào truyền đạt cho tôi biết các thông tin có liên quan tới X.

Sự xuất hiện của Diệp Thu Vi đã làm thay đổi tất cả. Cô ta đã bày ra một mưu kế tinh vi, sự ám thị được kéo dài trong mấy ngày liền, qua đó giúp tiềm thức của tôi vượt qua sự ngăn cản của X, từ đó thành công truyền đạt thông tin qua giấc mơ, ham muốn tự nhận thức cũng vì thế mà được giải tỏa. Kết quả trực tiếp của sự giải tỏa này chính là thúc giục tôi đi vào nhà vệ sinh, lại thông qua gương và đèn sưởi nhà tắm để phát hiện ra rằng mình và X kỳ thực chính là một.

Đối với tiềm thức, mộng du là một phương thức, đi vào nhà vệ sinh, hoàn thành sự tự nhận thức là mục đích cuối cùng. Vậy thì, cô gái ngăn cản tôi đi vào nhà vệ sinh trong giấc mơ đương nhiên chính là hình ảnh tượng trưng cho sự trở ngại trong việc tôi hoàn thành sự tự nhận thức. Tiềm thức không chỉ biết rằng tôi là X, hơn nữa còn biết có thứ gì đang ngăn cản tôi tự nhận thức được điều này. Thật trùng hợp, trong quá trình mộng du đi vào nhà vệ sinh, tôi vừa hay gặp phải sự ngăn cản của bàn trà, thế là tiềm thức liền nắm lấy cơ hội, thể hiện ra nhân tố ngăn cản sự tự nhận thức của tôi trong giấc mơ. Đây chính là ẩn ý của việc cô gái bí ẩn kia cản đường đi của tôi.

Tóm lại, có một số nhân tố đã ngăn cản tôi trong việc tiến hành nhận thức bản thân, mà cô gái kia chính là sự tượng trưng cho những nhân tố này. Nếu những nhân tố này biến mất, sự nhận thức của tôi về X sẽ không bị thứ gì ngăn cản nữa, nói cách khác, tôi cũng sẽ thoát khỏi tình trạng rối loạn tự nhận thức. Đứng từ góc độ này mà xét, nhân tố mà cô gái kia ám chỉ có lẽ chính là nguyên nhân căn bản gây ra tình trạng rối loạn đa nhân cách ở tôi.

Rốt cuộc vì nguyên cớ gì mà tôi lại bị mắc hội chứng phân ly nghiêm trọng đến vậy? Cô gái trong giấc mơ rốt ám chỉ điều gì? Là một sự ám thị kín đáo hay là hình ảnh đại diện cho một con người nào đó thực sự tồn tại? Trong cuộc gặp mặt hồi ban ngày, Diệp Thu Vi đã từng cố nhắc đến “cô bé học trung học phổ thông dùng dao cứa vào cánh tay mình”, đây phải chăng cũng là một sự ám thị có mục đích riêng? Liệu có khi nào Diệp Thu Vi sớm đã biết nguyên nhân khiến tôi bị rối loạn đa nhân cách? Cô ta rốt cuộc muốn làm gì?

Vô số sự nghi hoặc không ngớt dâng trào, tôi để mặc cho tư duy lan tỏa, vậy nhưng mãi vẫn chẳng thể lần được chút manh mối nào. Mười mấy giây sau, tôi ép mình bình tĩnh trở lại, tạm thời từ bỏ việc suy nghĩ về cô gái trong giấc mơ. Tôi quyết định tiếp tục đào sâu vào ký ức của X, muốn thông qua anh ta để nhận thức rõ hơn về bản thân.

Dòng suy nghĩ quay trở lại thời điểm sáng sớm ngày 9 tháng 11 năm 2009. Lời của Chủ nhiệm Viên mang tới cho tôi cảm giác thất bại vô cùng to lớn. Sau khi gác máy, tôi đi vào nhà vệ sinh, nhưng hình như không làm gì cả, ngay sau đó đã quay trở lại phòng bệnh. Khi tôi quay trở lại phòng bệnh thì Lưu Hướng Đông đã ngủ rồi, nhưng cũng có khả năng là chưa ngủ, tôi lờ mờ nhớ là khi đó ông ta đã nhìn tôi bằng ánh mắt chứa chan niềm hy vọng, vồn vã hỏi: Anh Trương, anh đã tìm được người đó chưa?”

Tôi không nói một lời, ngồi trở lại chiếc ghế bên cạnh giường, sau đó... sau đó...

Ký ức đột nhiên trở nên hơi mơ hồ, rất nhiều chi tiết vốn sôi động ở bên rìa của ý thức dường như đột nhiên bị một thứ sức mạnh tinh thần nào đó nuốt chửng, chỉ lưu lại một chút dấu tích của việc đã từng tồn tại. Tôi hiểu, X đang cố gắng thoát khỏi sự nhòm ngó và khống chế của tôi, anh ta càng lúc càng rời xa tôi, hơn nữa còn muốn hoàn toàn thoát ly khỏi tôi. Tôi nhất định phải tranh thủ thời gian lưu giữ kí ức anh ta lại, không thể để anh ta tiếp tục ẩn nấp trong thân thể tôi nữa.

Tôi nín thở, không để tâm tới quá trình và các chi tiết cụ thể nữa mà tăng nhanh tốc độ, xem lướt qua các ký ức sau ngày 9 tháng 11 năm 2009.

Tôi ở trong phòng bệnh đến tận bốn giờ sáng, sau đó đã lại tiếp xúc với Lưu Hướng Đông rất nhiều lần, vậy nhưng ông ta vẫn không thể cung cấp cho tôi manh mối nào có giá trị hơn. Tôi cũng từng lén lút điều tra Lưu Trí Phổ, nhưng ngoài chứng mặc cảm Oedipus bệnh hoạn của anh ta ra thì không có thu hoạch nào khác nữa. Tôi lựa chọn kiên nhẫn chờ đợi, vậy nhưng người điều tra thần bí đó không hề tiến hành tiếp xúc với tôi như trong dự liệu - anh ta (cô ta) dường như đã từ bỏ việc điều tra rồi. Mấy tháng sau đó, mọi thứ trôi qua trong yên ả, người điều tra thần bí kia không còn để lộ tung tích thêm lần nào nữa.

Tháng 5 năm 2010, nhận sự ủy thác của Chủ nhiệm Viên, tôi giết chết một người tên là Tưởng Việt Dương. Anh ta là quan chức thuộc hệ thống công an của tỉnh, từng có quan hệ lợi ích với Tập đoàn A, về sau muốn thoát khỏi sự khống chế của tập đoàn. Người này tính tình u uất, bị mắc chứng rối loạn thần kinh chức năng khá nghiêm trọng ở dạ dày và ruột. Dưới sự ám thị và sắp đặt của tôi, anh ta đã bị mất nước mà chết trong nhà vệ sinh ở tầng cao nhất của Sở Công an tỉnh.

Tháng 7 năm 2010, vẫn theo sự ủy thác của Chủ nhiệm Viên, tôi giết chết một người phụ nữ tên là Khúc Na. Cô ta nhân viên kỹ thuật của cục Giám sát vệ sinh an toàn thực phẩm, dường như còn có một thân phận bí mật khác nữa, có thể tạo thành uy hiếp cực lớn đối với Công ty E. Người này tuy không có vấn đề gì rõ rệt về tâm lý, nhưng cách lại rất nhạy cảm và yếu đuối, thích lo lắng vu vơ. Tôi đã theo dõi cô ta gần nửa tháng, cuối cùng cũng tìm được cơ hội, qua đó khiến cho cô ta lỡ chân đi vào đường ray tàu hỏa và mất mạng.

Dịp Tết năm 2011, tôi nhận sự ủy thác của Chủ nhiệm Viên nhờ giết chết Chu Vân. Chủ nhiệm Viên từng vô tình kể lại rằng trong tay Chu Vân có một tập tài liệu quan trọng, còn muốn giao nó cho một cơ quan nào đó của nhà nước, điều này đã tạo thành một mối uy hiếp nghiêm trọng đối với Tập đoàn A. Chu Vân tâm tư tinh tế, tính cách kiên định, chín chắn, đối phó với cô ta thực không phải là việc dễ dàng. Mãi đến cuối tháng Ba, tôi mới tìm được một tài xế taxi thích hợp, sau đó lại tính trước hành trình của Chu Vân, đồng thời tiến hành ám thị tài xế taxi kia để khiến Chu Vân mất mạng trên vạch sang đường.

Tháng 4 năm 2011, một đôi nam nữ qua đời trong nhà riêng, nguyên nhân dẫn đến cái chết là trúng độc tetrame thylenedisulifotetramine1. Bác sĩ pháp y phát hiện ra dấu tích của chất độc trong đường tiêu hóa, thận cùng với bữa cơm trưa của hai người bọn họ hôm đó, từ đó xác định được nguyên nhân tử vong. Hai người này người đàn ông tên là Giả Phụng Hiến, quan chức ở ủy ban Sinh đẻ có hoạch của tỉnh, người phụ nữ tên là Quách Nguyệt Linh, nhân viên trong biên chế của Cục Vệ sinh thành phố.

1. Một hợp chất hóa học có công thức phân tử C4H8N4O4S2 là thành phần chủ yếu tạo nên thuốc chuột – ND.

Qua điều tra, Giả Phụng Hiến có gia đình hoàn chỉnh nhưng lại từng quan hệ nam nữ bất chính với Quách Nguyệt Linh trong một thời gian dài. Có người biết chuyện từng kể là một tuần trước khi chết hai người bọn họ từng cãi nhau mấy lần. Cuối cùng cảnh sát nhận định Quách Nguyệt Linh chính là người đã bỏ thuốc độc, động cơ gây án là mâu thuẫn trong vấn đề tình cảm và gia đình.

Giả Phụng Hiến không chỉ đảm nhiệm một chức vụ quan trọng ở ủy ban Sinh đẻ có kế hoạch của tỉnh, đồng thời còn là cổ đông ngầm lớn của Tập đoàn A. Xuất phát từ tâm lý cẩn trọng, Chủ nhiệm Viên ủy thác tôi tiến hành đi sâu vào điều tra vụ án này. Trong quá trình điều tra, tôi phát hiện ra rất nhiều điểm đáng ngờ, đồng thời còn chú ý thấy tung tích của người điều tra thần bí đã mất tích một năm rưỡi kia.

Chính bởi vì chuyện này nên người điều tra thần bí kia mới lại một lần nữa nhận được sự coi trọng của Chủ nhiệm Viên. Dưới sự ủy thác của ông ta, tôi chính thức tiến hành điều tra thân phận của đối phương, bắt đầu từ Quách Nguyệt Linh.

Theo ý của Chủ nhiệm Viên, tôi nhờ Lưu Hướng Đông giúp đỡ tiến hành phân tích chi tiết chất độc xuất hiện trong vụ án mạng kia. Dựa vào độ tinh khiết của chất độc, Lưu Hưóng Đông phán đoán người chế tạo ra nó ắt hẳn có kiến thức khá vững chắc về hóa học, ngoài ra còn có kinh nghiệm chế tạo hợp chất hóa học rất chuyên nghiệp nữa. Tôi cũng vì thế mà nắm bắt được điểm đặc trưng đầu tiên của người điều tra thần bí kia.

Tháng 5 năm 2011, tôi tiến hành điều tra Thư Tình thông qua điện thoại, còn lấy lý do phỏng vấn để tới gặp vợ của Đinh Tuấn Văn là Lã Thần ở khu ba của Bệnh viện Tâm thần thành phố, cuối cùng đã xác định được người điều tra thần bí đó hiện đang làm việc tại Học viện Hóa học và Phân tử trực thuộc Đại học Z. Tôi liệt kê ra một danh sách những người mà trước đó đã bị tôi dùng phương pháp ám thị khiến cho mất mạng hoặc là trở thành tàn phế, sau đó dùng thời gian một tháng để điều tra về tình hình gia đình cũng như các mối quan hệ xã hội của bọn họ, để rồi từ đó liệt kê ra danh sách mười người đáng nghi ngờ nhất, trong số đó có Diệp Thu Vi. Mãi đến khi đó tôi vẫn vô thức cho rằng người điều tra là đàn ông, do đó trọng điểm điều tra của tôi tất nhiên cũng tập trung vào những người đàn ông trong danh sách.

Cuối tháng Tám, sau khi bảy người đàn ông trong danh sách tình nghi lần lượt bị loại trừ, tôi rốt cuộc đã ý thức được rằng người điều tra rất có thể là phụ nữ. Đầu tháng Chín, hai người phụ nữ khác trong danh sách tình nghi cũng đã bị loại trừ, thế là danh sách mười người chỉ còn lại duy nhất cái tên Diệp Thu Vi mà thôi.

Tôi nhớ tới bộ dạng của Diệp Thu Vi, đầu óc bất giác có chút mơ màng, thế là liền thoát ra khỏi dòng ký ức mà quay trở về thực tại. Đúng vậy, đầu tháng 9 năm 2011, tôi đã bắt đầu hoài nghi Diệp Thu Vi rồi.

Tôi nhớ là đêm ngày 10 tháng 9, tôi và Chủ nhiệm Viên đã gặp nhau giữa một bãi chôn rác thải xây dựng ở ngoại ô thành phố. Ông ta đưa cho tôi một xấp tài liệu, tôi xem ngay trước mặt ông ta, thế rồi giật mình phát hiện không ngờ Diệp Thu Vi lại có những điểm đặc trưng toàn trùng khớp với người điều tra thần bí kia, chẳng hạn như cô ta am hiểu về hóa học và tâm lý học, khi mang thai từng bị hiếp dâm đến nỗi sẩy thai, chồng thì uống thuốc độc biến thành người thực vật, có qua lại với cả Thư Tình và Lã Thần... Còn chưa xem xong tư liệu, tôi đã ngẩng đầu lên nói với Chủ nhiệm Viên: “Rất có thể chính là cô ta.”

”Chỉ dựa vào tài liệu đã có thể khẳng định được ư?” Chủ nhiệm Viên nheo mắt lại nhìn tôi. “Anh có cần đích thân đi điều tra không?”

Tôi liếc nhìn Chủ nhiệm Viên một chút, trong đoạn ký ức này, tôi đã có ấn tượng rõ ràng hơn về khuôn mặt của ông ta: ông ta bị hói gần như trụi hết tóc ở đỉnh đầu, mũi thì to và hơi khoằm, môi dày và rộng, hai mắt có thần, tại nơi tiếp nối giữa cổ và tai trái dường như còn có một vết sẹo mờ.

Mười mấy giây sau, tôi xem xong chữ cuối cùng trong tập tài liệu, bèn đưa trả cho Chủ nhiệm Viên, sau khi suy nghĩ một lát bèn nói:“Để cho chắc chắn, tốt nhất là hãy cho tôi thêm ba ngày nữa. Tuy tài liệu này đã khá đầy đủ, thông tin cũng rất trùng khớp, nhưng lỡ như có sai sót thì chắc chắn sẽ rút dây động rừng.”

”Ừm.” Chủ nhiệm Viên châm một điếu thuốc, rít một hơi, sau đó liền đốt cháy tập tài liệu về Diệp Thu Vi và vứt sang đống đá vụn ở bên cạnh, nhả ra một hơi thuốc.“Việc này rất quan trọng, nhất định đừng để xảy ra chút sơ suất nào “

Phía đằng xa, tiếng động cơ rền vang ầm ĩ của những chiếc xe tải cỡ lớn không ngừng vọng lại.

** *

Bước đầu tiên trong việc điều tra Diệp Thu Vi chính là xác định mối liên quan giữa cô ta và mấy vụ chết người kia.

Sáng ngày 11 tháng 9 năm 2011, tôi gọi điện cho Thư Tình trước tiên. Dưới sự dẫn dắt của tôi, cô ta nhớ ra rất nhiều chi tiết có liên quan tới Diệp Thu Vi trong quãng thời gian trước và sau khi cô ta gặp tai nạn. Cô ta nói cho tôi biết, trước khi xảy ra tai nạn cô ta thường xuyên đến bệnh viện thăm Tần Quan, cũng thường xuyên tâm sự với Diệp Thu Vi - cô ta có vẻ rất thông cảm với Diệp Thu Vi, đồng thời còn vô cùng tin tưởng cô ta nữa, đây chính là điều kiện tiền đề để Diệp Thu Vi lợi dụng cô ta.

Cô ta còn nhắc đến một việc, đó là dịp cuối năm Âm lịch, cô ta từng dẫn Diệp Thu Vi đến thành phố D cầu phúc, hai người vốn đã bàn sẵn với nhau là ngày Rằm tháng Giêng sẽ tới đó thêm lần nữa, nhưng khi đến ngày thì Diệp Thu Vi lại đổi ý, còn đề nghị cô ta dẫn Tạ Bác Văn theo. Đối với một người phụ nữ bình thường mà nói, cầu phúc cho người chồng đang bệnh nặng của mình lẽ ra phải là việc quan trọng hàng đầu, điều này khiến Diệp Thu Vi lại càng đáng ngờ hơn. Cùng với đó, đề nghị “dẫn Tạ Bác Văn theo'' cũng phù hợp với sự an bài của người điều tra trong việc gây tai nạn.
 

root

Tác Giả
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,953
Reaction score
185
Points
9,999
Quyển 2 - Chương 8-2: Cuộc đọ sức ở sâu trong nội tâm (2)
Ngoài ra, tuy Thư Tình không thể nhớ lại chuyện về nhạc chuông điện thoại, vậy nhưng cô ta vẫn lờ mờ nhớ được khoảng hai mươi phút trước khi xảy ra tai nạn, cô ta từng nhận được một tin nhắn như thế này từ Diệp Thu Vi: Tình, đi đường nhớ cẩn thận, đừng nhìn nhầm những cái hố thành nhựa đường nữa đấy. Theo tôi thấy, đây đã là một sự ám thị hết sức rõ ràng rồi.

Buổi chiều, tôi lại đến Bệnh viện Tâm thần thành phố gặp Lã Thần thêm lần nữa. Sau hơn hai năm điều trị, trạng thái tinh thần của cô ta đã dần có chiều hướng ổn định. Dưới sự dẫn dắt của tôi, cô ta cũng nhớ lại rất nhiều chi tiết có liên quan tới Diệp Thu Vi. Cô ta nói cho tôi biết, năm 2009 sở dĩ mình đẩy ngã chồng xuống dưới nhà như thế là vì có một người phụ nữ tên là W thường xuyên nói chuyện trong đầu cô ta, còn ra lệnh cho cô ta nữa. Mà câu chuyện về W chính là do Diệp Thu Vi vô tình nói cho cô ta biết. Đây hiển nhiên lại là một lần ám thị nữa.

Sau khi rời khỏi Bệnh viện Tâm thần thành phố, tôi bắt đầu nghiên cứu về cái chết của Triệu Hải Thời và Hà Ngọc Bân. Giữa hai người này và Diệp Thu Vi không có sự qua lại nào, việc điều tra cũng vì thế mà tạm thời không có tiến triển. Mãi đến buổi tối hôm đó, đúng vào lúc chuẩn bị ngủ, tôi mới để ý tới một chi tiết quan trọng: Theo như lời tiết lộ của người trong cuộc, việc Triệu Hải Thời giết chết Hà Ngọc Bân có một nguyên nhân quan trọng là Hà Ngọc Bân có thể đã có qua lại với vợ của Triệu Hải Thời là Tiêu Tiểu Yên. Tôi chuyển dời trọng tâm điều tra qua Tiêu Tiểu Yến, phát hiện cô ta từng mở một phòng tập thể thao dành cho nữ. Dưới sự giúp đỡ của Chủ nhiệm Viên, tôi lấy được danh sách tất cả các hội viên từng đăng ký tập luyện ở phòng tập thể thao đó trong thời gian nó hoạt động, thế rồi tìm thấy tên của Diệp Thu Vi ở trong đó.

Sáng hôm sau, tôi tiến hành thăm dò Tiêu Tiểu Yên qua mạng internet, cuối cùng đã xác định được vụ án Triệu Hải Thời giết người bằng súng có liên quan tới Diệp Thu Vi.

Ngoài ra, tên của Quách Nguyệt Linh cũng xuất hiện trong danh sách các hội viên, cô ta và Diệp Thu Vi rất có thể đã quen nhau tại phòng tập thể thao đó. Vậy nên, vụ án Quách Nguyệt Linh bỏ thuốc độc có khả năng cũng có liên quan tới Diệp Thu Vi. Tôi xem xét kĩ vụ án bỏ thuốc độc đó thêm một lần nữa, sau đó phát hiện ra một số dấu tích can dự của Diệp Thu Vi. Đến chiều ngày 12 tháng 9 năm 2011, tôi cuối cùng đã có thể xác định được người điều tra thần bí đứng ở phía đối địch với Tập đoàn A chính là Diệp Thu Vi - một Phó giáo sư đang công tác tại Đại học Z.

Đến lúc này, nhiệm vụ của tôi đã hoàn thành. Dựa theo kế hoạch, tôi lẽ ra phải lập tức nói kết quả điều tra cho Chủ nhiệm Viên biết, sau đó thì chờ chỉ thị tiếp theo của ông ta. Nhưng, trong khoảnh khắc cầm điện thoại lên chuẩn bị gọi, tôi bỗng lại cảm thấy do dự. Tôi bỏ điện thoại xuống, trong lòng dâng lên một cảm giác kỳ lạ.

Bao nhiêu năm nay tôi vẫn luôn ẩn nấp trong chỗ tối, giúp Chủ nhiệm Viên hoàn thành rất nhiều cuộc điều tra và ám sát. Có một năng lực siêu phàm nhưng lại không thể công bố ra trước mặt mọi người, điều này khiến tôi cảm thấy kiêu hãnh từ tận đáy lòng, nhưng đồng thời cũng mang lại cho tôi sự cô độc sâu sắc. Tháng 3 năm 2009, dấu vết tác động vào tâm lý của Thư Tình đã khiến tôi hiểu được rằng, ở một góc khuất nào đó trong thành phố này có lẽ còn ẩn nấp một cao thủ tâm lý khác.

Bắt đầu từ lúc đó tôi đã không còn cảm thấy cô độc nữa, đồng thời còn nảy sinh lòng tò mò vô hạn về vị cao thủ tâm lý kia, xen lẫn trong đó còn có một chút tình cảm trân trọng đối với“đồng loại” của mình. Tôi vẫn luôn muốn lần ra thân phận của người này, nhưng không chỉ là vì sự ủy thác của Chủ nhiệm Viên mà còn là vì chính bản thân tôi nữa. Tôi muốn gặp “đồng loại” của mình, muốn nói chuyện với người đó, giao đấu, thậm chí là muốn xây dựng một tình bạn mà người ngoài không hay biết. Tuy người điều tra đó đã từng bặt vô âm tín trong khoảng thời gian một năm mới, nhưng tình cảm không rõ ràng của tôi với người đó thì chưa từng thay đổi.

Lúc này, tôi rốt cuộc đã phát hiện ra thân phận của cô ta, nhưng điều này cũng đồng nghĩa với việc cô ta sắp bị Tập đoàn A trừ khử. Tự nơi đáy lòng, tôi không thể chịu đựng nỗi đau khổ khi mà vừa gặp mặt đã phải vĩnh viễn chia ly đó. Tôi muốn gặp cô ta, muốn chính thức làm quen với cô ta, muốn xem xem “đồng loại” của mình rốt cuộc là một con người như thế nào.

Trưa ngày 12 tháng 9 năm 2011, tôi tắt điện thoại đi, bắt taxi đến Bệnh viện Nhân dân số 2, đúng ba giờ mười phút thì tìm được phòng bệnh của Tần Quan. Khi đó, Diệp Thu Vi đang ngồi bên mép giường bệnh, quay lưng về phía cửa, ngẩn ngơ nhìn người chồng ngày một gầy đi của mình. Tôi đứng trước cửa quan sát suốt một hồi lâu, cuối cùng mới hạ quyết tâm, đưa tay lên gõ cửa phòng.

Tôi đặt tay trái lên tay phải, nói dối một cách bình tĩnh: “Chúng tôi là bạn học cùng lớp với nhau hồi học cấp hai.”

Diệp Thu Vi bước về phía trước mấy bước, đóng một ô cửa sổ chớp khác lại, căn phòng lại càng tối tăm hơn. Cô ta mở chiếc đèn tiết kiệm điện năng ở đầu giường lên, điều chỉnh độ sáng tới mức cao nhất, sau đó bèn nhìn tôi, nói: “Ồ, hóa ra là bạn học cấp hai, chẳng trách anh ấy lại bị mắc bẫy của anh như thế.”

Tôi thoáng sững người, ngay sau đó liền hiểu ra ý của cô ta, trầm giọng nói: “Những năm nay cô quả nhiên không ở yên một chỗ.”

Cô ta kéo ghế ngồi xuống chỗ đối diện với tôi, gạt mấy sợi tóc rối ra sau tai, hai mắt nhìn chằm chằm vào tôi. “Nếu không đến đây gặp tôi, anh nhất định sẽ phải hối hận cả đời, đúng vậy chứ?” Tôi ngẩn ra, thế rồi cô ta lại nhanh chóng bổ sung thêm một câu: “Cảm giác khi bị người ta nhìn thấu thế nào?”

Tôi khẽ mỉm cười, trong trái tim xưa nay vẫn luôn lý trí và lạnh lẽo bất giác trào lên những tia ấm áp xen lẫn thấp thỏm bất an. Tôi gật đầu, nói với cô ta: “Đúng vậy, nếu không tới đây gặp cô, tôi nhất định sẽ phải hối hận. Tôi tới đây với tư cách là một “đồng loại” của cô, không đại diện bất cứ thế lực nào.”

”Kỳ thực không chỉ có anh và tôi.” Cô ta nghiêm túc nói: “Còn có một người thứ ba nữa cũng giống như chúng ta vậy.”

Lòng tò mò đối với “đồng loại” nhanh chóng làm nhiễu loạn tâm trí của tôi. Tôi hoàn toàn buông bỏ lòng để phòng, nôn nóng nói co ta: “Còn có người khác nữa ư? Là ai vậy?”

”Tôi có thể nói cho anh biết tên của cô ta.” Diệp Thu Vi khẽ chớp mắt, hờ hững nói: “Anh có thể còn chưa biết cô ta là một người quen của anh đấy.”

Trái tim tôi đập rộn lên, nhịp thở cũng trở nên hơi rối loạn. Nếu bắt buộc phải nói tôi có nhược điểm tâm lý nào đó, vậy thì có lẽ chính là lòng tò mò đối với “đồng loại“.“Người mà tôi quen ư?” Tôi lập tức truy hỏi: “Rốt cuộc là ai vậy?”

Diệp Thu Vi hơi hé miệng ra. “Cô ta tên là...”

* * *

Đúng vào khoảnh khắc cái tên này sắp đi từ khu vực bên rìa tiềm thức vào trong ký ức của tôi, tôi đột nhiên cảm thấy đầu óc quay cuồng, bên tai lại một lần nữa vang lên tiếng rít quái dị kia, ngay sau đó, một luồng sáng dữ dội chẳng biết từ đâu rọi đến khiến cho hai mắt của tôi đau nhói. Theo bản năng, tôi bịt tai và nhắm mắt lại, nhưng tiếng rít và luồng sáng rực rỡ kia vẫn chẳng chịu tan đi. Tôi đau khổ kêu to một tiếng, cảm thấy đầu nặng chân nhức, rồi đổ gục xuống đất, trán đập mạnh vào mép bàn trà. Tôi đưa tay lên ôm trán, nằm ngửa người ở chỗ giữa xô pha bàn trà, không ngừng thở dốc.

Một loạt những tiếng bước chân nhè nhẹ bất chợt vang lên, thế rồi một đôi tay dịu dàng đặt lên người tôi. Bà xã một tay ôm lấy cổ tôi, một tay vừa xoa ngực tôi vừa nôn nóng gọi:“Nhất Tân! Nhất Tân!” Giọng nói của cô ấy vang lên giữa những tiếng rít vẫn đang kéo dài mãi không dứt kia. “Anh đừng dọa em nữa mà!”

Giọng nói của cô ấy mang tới cho tôi cảm giác chân thực vô cùng, tôi há to miệng, hít sâu một hơi, hai chân dùng sức đạp mạnh xuống đất, từ trong ký ức và ảo giác trở về thực tại, trở về trong phòng khách nhà tôi vào thời điểm ngày 23 tháng 7 năm 2012. Tôi ngẩng đầu lên, ngửi thấy mùi cơ thể vô cùng quen thuộc của bà xã tôi, thế là tinh thần mới từ từ khôi phục trở lại.

Ngay sau đó, tôi nghe thấy tiếng hờn giận và oán trách quen thuộc của bà xã: “Ôi, đã nói với anh là đừng nghĩ nhiều rồi mà, thế mà anh còn cứ ngồi đây suy nghĩ lung tung. Chẳng lẽ anh muốn dọa chết em hay sao? Anh có biết em lo lắng cho anh thế nào không?”

Tôi lại thở dốc mấy hơi nữa, sau đó thè lưỡi liếm môi đưa tay xoa mặt, nói:“Không sao, anh không nghĩ nhiều gì cả, chỉ hơi mệt thôi.”

”Mệt rồi thì mau đi ngủ đi!” Cô ấy đỡ tôi ngồi lên xô pha. “Anh đừng có đi phỏng vấn gì thêm nữa!”

Nhắc đến phỏng vấn, tôi tức thì nhớ đến Diệp Thu Vi. Chiều ngày 12 tháng 9 năm 2011, tôi đã gặp được cô ta trong ICU của Bệnh viện Nhân dân số 2. Cô ta nói cho tôi biết, còn có một cao thủ tâm lý thứ ba giống như chúng tôi, hơn nữa cũng là một người phụ nữ. Diệp Thu Vi đã nói ra tên của người phụ nữ đó, nhưng bất luận thế nào tôi cũng không nhớ ra được. Ký ức sau đó thì đã trở nên hết sức mơ hồ, tôi chỉ nhớ được rằng mình đã trò chuyện với Diệp Thu Vi rất lâu, sau đó thì rời khỏi phòng bệnh, nói kết quả điều tra cho Chủ nhiệm Viên biết. Sau đó nữa thì…

Sau đó nữa thì ký ức của tôi đã chạy tới thời điểm trung tuần tháng 10 năm 2011. Chủ nhiệm Viên tìm đến tôi, nói là Diệp Thu Vi đã được bảo vệ, đang ở trong Bệnh viện Tâm thần thành phố, tùy tiện ám sát cô ta sẽ rút dây động rừng. Ông ta hy vọng tôi có thể đặt ra một kế hoạch kín kẽ sau đó dùng phương pháp ám thị giải quyết Diệp Thu Vi luôn trong bệnh viện. Nhưng tôi vẫn còn lờ mờ nhớ được, trạng thái của tôi khi đó hình như đã bị quấy nhiễu bởi một thứ gì đó. Chủ nhiệm Viên đồng ý là sẽ cho tôi thời gian để hồi phục. Sau đó, ký ức lại một lần nữa xuất hiện sự rạn nứt, tôi lờ mờ nhớ được một buổi đêm nào đó trong năm 2012, tôi và Chủ nhiệm Viên đã gặp nhau trong một ngôi nhà ở ngoại ô thành phố. Ông ta vừa hút thuốc vừa nói với tôi: “Thời cơ đã chín muồi, tháng sau tôi sẽ sắp xếp cho anh tới Bệnh viện Tâm thần thành phố để phỏng vấn. Anh bây giờ có vấn đề gì không? Có thể khống chế được anh ta không?”

Tôi nhớ là mình đã khẽ gật đầu, sau đó liền nói bằng giọng lạnh lùng và âm u vô hạn: “Tôi sẽ ẩn nấp kĩ một chút, không để cho anh ta hay biết gì.”

Chủ nhiệm Viên nhả ra một hơi thuốc. “Cẩn thận một chút, anh ta tuy là lá chắn của anh, nhưng đồng thời cũng có thể trở thành vũ khí để Diệp Thu Vi đối phó với anh. Nhớ đấy, nếu như thất bại, sẽ không có ai bảo vệ anh đâu.”

Tôi nhắm mắt lại, cảnh tượng tiếp theo là lãnh đạo đặt một tập tài liệu xuống bàn làm việc của tôi. “Nhất Tân, đây là chủ đề chính của tháng Chín, cậu xem qua đi.”

Tôi cầm tập tài liệu đó lên xem, thấy trên trang đầu viết là “Phân tích tâm lý của tội phạm giết người trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội“.

Cảnh tượng tiếp nữa thì là lão Ngô đưa tay sờ gáy, nói với tôi bằng giọng mang đầy ý vị sâu xa: “Lão Trương, về chủ đề tâm lý tội phạm trong giai đoạn chuẩn bị kia của cậu có một người chưa biết chừng có thể giúp được cậu đấy.”Cảnh tượng cuối cùng là lão Ngô ngẩng mặt lên, nhìn tôi, nói: “Là một bệnh nhân trong bệnh viện của tớ...”

Trái tim trở nên nặng nề vô hạn, tôi khẽ lắc đầu theo bản năng rồi giật mình bừng tỉnh từ trong dòng ký ức hỗn loạn.

Là X - người tới Bệnh viện Tâm thần thành phố gặp Diệp Thu Vi là X, tôi chỉ là lá chắn của anh ta mà thôi. Anh ta đi gặp Diệp Thu Vi chỉ vì một mục đích, đó là giúp Tập đoàn A loại trừ sự uy hiếp. Nhưng, tôi rốt cuộc đã làm gì? Tôi là X ư? Tôi và anh ta là cùng một người ư? Diệp Thu Vi từng gặp tôi rồi, cũng biết rõ thân phận của tôi, tại sao lại đồng ý gặp tôi nhiều lần như thế, hơn nữa còn kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện của bản thân? Cô ta rốt cuộc muốn làm gì? Lời mà cô ta nói với tôi rốt cuộc có bao nhiêu phần là thật, bao nhiêu phần là giả? Tôi rốt cuộc là ai? Tôi rốt cuộc bị làm sao vậy?

”Nhất Tân...” Bà xã khẽ xoa lưng tôi, mấy lần muốn nói gì đó mà lại thôi, cuối cùng mới nức nở nói: “Anh đừng suy nghĩ nhiều nữa, cũng đừng đi phỏng vấn gì nữa cả, em xin anh đấy...”

Giọng nói của cô ấy khiến tôi lại một lần nữa quay trở về thực tại. Tôi đưa tay day mắt, cắn mạnh vào đầu lưỡi, cố ép cho mình phải tỉnh táo trở lại. Tôi không thể để mặc cho X khống chế bản thân, tôi nhất định phải làm rõ mối quan hệ giữa mình và X, nhất định phải làm rõ trạng thái tâm lý của mình. Tôi suy nghĩ một lát rồi đột ngột nhớ ra tập tài liệu về những vụ chết người kia, thế là bèn đứng bật dậy đi về phía phòng đọc sách. Bà xã vội vàng kéo tôi lại từ phía sau, đồng thời hạ thấp giọng nói: “Nhất Tân, anh đừng suy nghĩ nhiều nữa, em xin anh đấy...”

”Em hãy đi với anh, chỉ một lát thôi.” Tôi bình tĩnh nhìn cô ấy. “Anh sắp làm rõ mọi việc rồi.”

Bà xã mặt mày nhăn nhó thở dài, nhưng rốt cuộc cũng chỉ đành khẽ gật đầu vẻ hết cách. Đúng vào lúc này, con trai tôi mở cửa phòng của nó ra, bất an đứng ở cửa, lại đưa tay dụi cặp mắt lim dim, nhìn tôi bằng ánh mắt quái dị.

”Đản Đản!” Bà xã vội vàng chạy tới. “Mẹ làm con thức giấc phải không?”

Thằng bé vội vàng lắc đầu đáp: “Dạ không, con chỉ đang buồn tiểu thôi.”

Tôi cũng bước tới xoa đầu con trai, đồng thời khẽ nở nụ cười với nó. Nó cười lại với tôi, nhưng nụ cười rõ ràng là đầy vẻ căng thẳng và nôn nóng. Khi đó tôi đang đặt toàn bộ tâm tư lên người X, do đó chẳng nói lời nào, cứ thế đi vào trong phòng đọc sách, bà xã thì kéo con trai đi vào trong nhà vệ sinh.

Tôi ngồi xuống trước bàn, lấy tập tài liệu về những vụ chết người mà Thang Kiệt Siêu giao cho tôi ra, bắt đầu lật từ đầu tới cuối một cách chậm rãi. Sáu người chết đầu tiên lần lượt là Tạ Bác Văn, Đinh Tuấn Văn, Trần Hy, Vương Vĩ, Triệu Hải Thời, Hà Ngọc Bân. Người chết thứ bảy là Lưu Hướng Đông, nhưng ông ta căn bản chưa chết, thời gian tử vong của ông ta được ghi là ngày 8 tháng 11 năm 2009, nhưng đó thực ra là ngày mà tôi và Diệp Thu Vi giao chiến với nhau lần đầu tiên – thời điểm được cố tình nhắc đến trong tập tài liệu này có lẽ cũng ẩn chứa một sự ám thị nào đó.

Người chết thứ tám tên là Vu Khang, vừa mới nhìn thấy cái tên này trước mắt tôi đã xuất hiện ngay hình tượng một người đàn ông lưng hùm eo gấu, hai tay xăm trổ xanh lè. Ngay sau đó, một số mảnh ký ức vụn vặt bỗng ùa vào trong đầu tôi, tôi loáng thoáng nhớ ra: Hồi đó là tháng 7 năm 2003, tôi đã đến một làng nhỏ ở ngoại ô phía nam thành phố, hỏi thăm mấy người dân trong làng về một người đàn ông tên là Vu Khang. Tôi đã tìm hiểu được rất nhiều thông tin hữu dụng, chẳng hạn như về gia đình, về quá trình trưởng thành, về đặc điểm tính cách của Vu Khang. Một người dân còn nói cho tôi biết, hồi nhỏ Vu Khang từng bị vùi lấp bởi đất cát đổ xuống từ một chiếc xe tải, thiếu chút nữa thì mất mạng, về sau, tôi đã lợi dụng nỗi sợ hãi đối với xe tải cỡ lớn của Vu Khang, lại dùng biện pháp ám thị khiến anh ta nảy sinh chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế tiêu cực, cùng thì khiến cho anh ta bỏ mạng trong một vụ tai nạn xe cộ ở đường Vành đai 4 phía tây thành phố.

Tôi nhanh chóng nhìn lướt qua tài liệu một chút:

Vu Khang, nam, sinh năm 1977, người bản địa, không nghề nghiệp, bị một chiếc xe tải hạng nặng cán chết tại đường Vành đai 4 phía tây thành phố. Qua giám định của cảnh sát giao thông, phải chịu hoàn toàn trách nhiệm về vụ tai nạn giao thông này.

Trên tài liệu không có ghi chép gì về thời gian tử vong, nhưng tôi nhớ rất rõ ràng, anh ta chết vào đầu tháng 8 năm 2003, là do chính tôi giết chết bằng biện pháp ám thị. Còn về việc tại sao lại phải giết anh ta thì tôi nhất thời không thể nào nhớ ra được.

Tôi đưa tay lên day mạnh trán, lại lần đến trang thứ chín của tập tài liệu kia:

Trần Đồng Kính, nam, sinh năm 1972, người bản địa không nghề nghiệp, chết do nhảy từ tầng cao của khách sạn xuống đất, qua giám định được xác định là tự sát.

Sau khi đọc đi đọc lại mấy lần, tôi rốt cuộc đã có một chút ấn tượng về người tên Trần Đồng Kính này. Anh ta là một gã đàn ông béo phệ, đầu trọc, cẳng chân còn to hơn đùi tôi một chút. Tuy không nhớ rõ giữa mình và anh ta đã xảy ra chuyện gì, nhưng trực giác nói cho tôi biết, anh ta là một người mặt thiện lòng gian, hơn nữa còn đáng ghê tởm vộ cùng. Tôi vẫn loáng thoáng nhớ được là anh ta bị mắc chứng rối loạn nhân cách thể xung động khá nghiêm trọng, rất dễ chịu sự ám thị từ người khác. Tôi đã lợi dụng đặc điểm này của anh ta, từ đó tiến hành phá hoại mối quan hệ giữa anh ta và bạn bè, người thân, từ đó dẫn dắt cho anh ta nhảy lầu tự sát trong một cơn xung động.

Vụ tự sát này của anh ta hình như diễn ra vào mùa thu năm 2003, thời gian cụ thể là khoảng tháng Mười.

Người chết thứ tám và thứ chín đều là do tôi giết. Tôi hít sâu một hơi, tiếp tục lật tới những trang tiếp theo. Người chết thứ mười tên là Mã Thạch Nguyên. Trong ấn tượng của tôi, anh ta là một người khá ít nói, vóc người hơi gầy, nhưng toàn thân đều toát ra vẻ dữ dằn và hung hãn. Mọi người đều rất sợ anh ta, tôi cũng sợ anh ta - tại sao tôi lại sợ chứ? Tôi không nhớ giữa mình và anh ta rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì, nhưng kết cục của anh ta thì có thể nhớ được đại khái: Anh ta thích kìm nén sự giận dữ, sau đó chờ thời cơ bùng nổ. Tôi đã lợi dụng điều này, tìm cơ hội thổi bùng lên cơn giận dữ của anh ta, khiến anh ta lao vào một khu chợ chém bị thương nhiều người, cuối cùng thì bị cảnh sát bắn chết tại chỗ, thời gian là vào khoảng tháng Giêng năm 2004.

Tôi xem lướt qua tập tài liệu: Mã Thạch Nguyên, nam, sinh năm 1975, người bản địa, nhân viên công ty sửa chữa ô tô Tại quảng trường ** ở trung tâm thành phố đã cầm dao chém bị thương bảy người không quen biết, bị cảnh sát bắn chết tại chỗ.

Anh ta cũng là do tôi giết.

Tôi lại lật đến trang tiếp theo, thông tin về người chết thứ mười một được ghi như thế này: Trương Nghĩa Quân, nam, sinh năm 1960, người bản địa, Tổng giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn **.

Tôi bất giác ngây người ra đó, người tên Trương Nghĩa Quân được nhắc tới trong tập tài liệu này là một người chú trong họ đã qua đời từ nhiều năm trước của tôi, lúc ban ngày khi trò chuyện với Hà Hải Phong ở đồn công an tôi từng vô tình nhắc đến tên ông ta. Ông ta và cha tôi có chung một ông sơ1, tuy về mặt máu mủ thì đã xa xôi lắm rồi, song quan hệ giữa hai bên vẫn luôn không tệ.

1.Tức là cha của ông cố, ông nội của ông nội – ND.

Hồi đầu những năm chín mươi của thế kỷ trước, ông ta từ quê nhà lên thành phố lập nghiệp, trong thời gian này cha tôi còn từng giúp đỡ ông ta rất nhiều về mặt vật chất, hai bên gia đình cũng giữ mối quan hệ khá thân mật với nhau. Mùa đông năm 2004, ông ta đột ngột qua đời trên đường phố vì một cơn nhồi máu cơ tim cấp tính, hồi đó tôi còn tới dự tang lễ của ông ta...

Nghĩ đến đây, một số ký ức xa xôi và mới mẻ bất giác ùa vào trong đầu tôi, phát sinh những sự xung đột và hòa hợp với ký ức vốn có của tôi. Tôi nhớ rất rõ là dịp đầu đông năm 2004, tôi đã tiến hành đi sâu vào điều tra trạng thái tâm lý của Trương Nghĩa Quân, thế rồi phát hiện hồi nhỏ ông ta từng rất sợ chó. Về sau, tôi đã lợi dụng chó để khiến cho nỗi sợ hãi này của ông ta bùng phát, cuối cùng thì mất mạng ngay trên đường phố.

Trương Nghĩa Quân là chú của tôi, thế mà tôi lại đi giết ông ta ư? Dù tôi nhất thời khó có cách nào tiếp nhận sự thật này, vậy nhưng quá trình điều tra, trù tính và cuối cùng là ám thị đối với ông ta đang hiển hiện ra hết sức rõ ràng trong đầu tôi. Đúng thế, chính tôi đã giết ông ta. Nhưng tại sao tôi lại phải giết ông ta chứ? Tôi đã cố gắng nhớ lại trong hơn hai phút, rốt cuộc vẫn chẳng thể nhớ ra nguyên nhân cụ thể, chỉ lờ mờ cảm thấy là Trương Nghĩa Quân dường như từng làm ra chuyện gì đó có lỗi với tôi.

Lại một phút nữa trôi qua, tôi dừng việc suy nghĩ lại, cúi xuống nhìn vào tập tài liệu kia một lần nữa. Khi nhìn thấy cái tên Trương Nghĩa Quân, tôi đột nhiên ý thức được một vấn đề nghiêm trọng: Trước đây tôi từng không chỉ một lần lật xem tập tài liệu về những vụ chết người này, tại sao lại chẳng có chút ấn tượng nào về những người chết ở sau Lưu Hướng Đông? Những người khác tạm chưa xét đến, nhưng Trương Nghĩa Quân là họ hàng của tôi cơ mà, hơn nữa còn từng qua lại nhiều năm với gia đình tôi, nếu tôi từng nhìn thấy tên của ông ta trong tập tài liệu này thì ắt không thể nào quên được. Vậy nhưng đêm đó tôi lại cảm thấy mình mới lần đầu tiên nhìn thấy cái tên Trương Nghĩa Quân trong tập tài liệu về những vụ chết người, chuyện này rốt cuộc phải giải thích ra sao đây?

Chẳng lẽ tài liệu từng bị đánh tráo? Không đúng - tôi lật xem lại bảy trang đầu tiên, thấy trên chỗ trống mỗi trang đều ghi đầy các thông tin về trạng thái tâm lý của người chết, hơn nữa bút tích rõ ràng là của tôi, qua đó đủ thấy tài liệu nhất định chưa từng bị đánh tráo. Nhưng nếu tập tài liệu này vẫn luôn nằm trong tay tôi, vậy thì tại sao tôi lại cảm thấy mình chưa từng nhìn thấy cái tên Trương Nghĩa Quân ở trong đó chứ? Nếu người chết thứ mười một trong tập tài liệu này không phải là ông ta, vậy thì có thể là ai được đây? Tôi đã suy nghĩ rất lâu, vậy nhưng vẫn không nhớ ra những cái tên khác, ngược lại còn bắt đầu cảm thấy mình trước đó hình như thực sự đã từng nhìn thấy cái tên Trương Nghĩa Quân rồi.

Rốt cuộc đoạn ký ức nào mới là thật đây? Tôi nằm bò trên bàn đọc sách, dùng tay đỡ trán, đầu óc trở nên có chút hỗn loạn. Lúc này, bà xã đẩy cửa đi vào, bước tới trước bàn, lại đặt tay lên lưng tôi, đưa cho tôi một cốc trà hoa nhài tỏa hương thơm thoang thoảng. Tôi đón lấy cốc trà, cô ấy nhẹ nhàng xoa lưng tôi, sau đó không nói một lời, lẳng lặng bước qua chỗ khác. Nghe âm thanh mà phán đoán, có lẽ cô ấy đã ngồi xuống chiếc xô pha ở sau lưng tôi rồi. Tôi uống mấy ngụm trà, cảm thấy tâm trạng vốn đang phiền muộn bất giác nguôi ngoai đi rất nhiều. Sau khi đặt chiếc cốc xuống, một số cảnh tượng hơi mơ hồ đột nhiên tràn vào trong đầu tôi, lóe hiện trước mắt tôi, tuy cực kỳ khó nắm bắt nhưng tôi vẫn có thể phát hiện ra một số thông tin có giá trị từ trong những mảnh vụn ký ức này.

Tôi nhìn thấy một cảnh tượng như thế này: Đó dường như là một buổi sáng, tôi ngồi trong xe đọc tập tài liệu về những vụ chết người, những cái tên như Vu Khang, Trần Đồng Kính, Mã Thạch Nguyên lần lượt lọt vào trong tầm mắt tôi. Ngay sau đó, tôi nhìn thấy tên của Trương Nghĩa Quân, nhưng chỉ mới nhìn thoáng qua thôi tôi đã vội vàng dùng ngón trỏ tay trái che cái tên này lại - tôi căn bản không muốn làm như thế, người đó không phải là tôi, mà là...

Là X.
 

root

Tác Giả
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,953
Reaction score
185
Points
9,999
Quyển 2 - Chương 9: Nhiệm vụ ám sát khó khăn
Sau nháy mắt tôi đã trở về thực tại từ trong dòng ký ức mơ hồ, bàn tay phải hơi run lên một chút, suýt nữa thì đánh rơi chiếc cốc xuống đất. Đúng thế, tôi đã từng không chỉ một lần đọc tập tài liệu về những vụ chết người này, cũng nhìn thấy cái tên Trương Nghĩa Quân, vậy nhưng lại không lần nào nhớ được. Bởi lẽ, X vẫn luôn ngầm ngăn cản tôi đọc tập tài liệu này, còn thường xuyên dùng các phương như phân tán sự chú ý hay xóa bỏ ký ức trong tiềm thức để loại trừ hoặc là sửa đổi ký ức của tôi về những gì đã đọc được, điều này cũng giống như việc anh ta từng nhiều lần sửa đổi ký ức của tôi ở các phương diện khác vậy.

Hoặc cũng có thể nói thế này, trong những thời khắc quan trọng, tôi sẽ không còn là tôi nữa, mà là X. Anh ta có quyền khống chế tuyệt đối với tâm lý, cũng là chủ nhân thực sự của Trương Nhất Tân, còn tôi thì chỉ là lớp vỏ che chắn bên ngoài của anh ta mà thôi.

Tôi bỏ chiếc cốc xuống, không những không cảm thấy hoảng sợ mà ngược lại còn hưng phấn vô cùng. Tự nơi đáy lòng tôi nảy sinh niềm cảm kích tột độ với Diệp Thu Vi - cô ta đã tiến hành một cuộc ám thị nhằm vào tôi từ nhiều mặt, dưới sự giúp đỡ của cô ta, lúc này tôi rốt cuộc đã được đứng ở một vị trí hoàn toàn bình đẳng với X. Đây là một cơ hội ngàn năm hiếm gặp, tôi nhất định phải nắm lấy để rồi đoạt lại quyền khống chế tâm lý từ trong tay X.

Tôi mới là Trương Nhất Tân.

Tôi vô thức nhếch khóe môi, lại uống một ngụm trà nữa, sau đó tiếp tục lật đến những trang sau của tập tài liệu.

Thông tin về người chết thứ mười hai được ghi lại như thế này: Dương Dũng, nam, sinh năm 1980, người bản địa, không nghề nghiệp, chết vì ngộ độc khí ga.

Tôi dễ dàng nhớ ra các thông tin về người này. Lúc đó dường như là ngày Hai mươi tháng Giêng năm 2005, tôi bắt đầu điều tra về Dương Dũng, phát hiện anh ta từng bị tổn thương về tình cảm ở nhiều phương diện như tình thân, tình bạn, dẫn đến bị mắc chứng rối loạn khí sắc1 chu kì nghiêm trọng. Tôi đã nghiên cứu về quy luật luân chuyển các tâm trạng của anh ta, lại dùng một số biện pháp để kích thích, cuối cùng đã khiến anh ta bỏ mạng trong căn phòng thuê trọ khi tâm trạng bi quan chiếm vị trí chủ đạo trong tâm lý. Tôi không thể nhớ ra nguyên nhân giết chết anh ta.

1. Rối loạn khí sắc là một thuật ngữ được dùng để thay thế rối loạn cảm xúc, trong đó khí sắc là chỉ một tâm trạng, một trạng thái tình cảm lâu dài, bền vững hơn so với cảm xúc - ND.

Tiếp theo là người chết thứ mười ba: Dương Hạo, nam, sinh năm 1981, người bản địa, không nghề nghiệp, chất do tự thiêu.

Dương Hạo hình như là em họ của Dương Dũng. Mùa hè năm 2005, tôi bắt đầu tiến hành đi sâu vào điều tra và phân tích tâm lý của Dương Hạo, qua đó phát hiện anh ta bề ngoài thì có vẻ mạnh bạo nhưng thực chất nội tâm lại vô cùng yếu đuối. Anh ta hết lòng tin theo một thứ tôn giáo nào đó, và tôi đã lợi dụng thứ tín ngưỡng có phần hơi quá khích này để khiến anh ta tự thiêu. Còn về nguyên nhân giết chết anh ta thì tôi cũng không thể nhớ ra được.

Người chết thứ mười bốn tên là Nghiêm Tuấn Khanh, nam, sinh năm 1959, là một quan chức ở Sở Xây dựng của tỉnh. Trong phần ký ức về người đàn ông này đã xuất hiện bóng dáng của Chủ nhiệm Viên. Đó là mùa thu năm 2006, Chủ nhiệm Viên nhờ tôi tiến hành điều tra Nghiêm Tuấn Khanh và tìm cách trừ khử ông ta. Sau hơn nửa tháng điều tra và phân tích, tôi phát hiện trong giai đoạn ngủ đông của tình dục, Nghiêm Tuấn Khanh từng bị một người phụ nữ trưởng thành dụ dỗ, thế nên sau khi trưởng thành, tâm lý buông thả dục vọng vẫn luôn tồn tại. Dưới sự sắp đặt của tôi, ông ta cuối cùng đã đột tử trong nhà người tình vì buông thả dục vọng quá độ.

Người chết thứ mười lăm tên là Phùng Nam, nữ năm 1969, là bác sĩ nội khoa ở Bệnh viện Nhân dân số 1 của thành phố. Tôi không rõ cô ta đã gây ra một sự uy hiếp như thế nào cho Tập đoàn A, tóm lại là mùa xuân năm 2007, tôi được Chủ nhiệm Viên nhờ giết chết cô ta. Khá giống với tình trạng của Lã Thần, Phùng Nam cũng bị mắc chứng rối loạn nhân cách thể hoang tưởng rất nghiêm trọng. Thông qua biện pháp ám thị, tôi làm tình trạng hoang tưởng của cô ta nặng thêm, đồng thời khiến cho cô ta nảy sinh ham muốn tự sát, và cuối cùng cô ta đã quyết định dùng thuốc độc để kết liễu cuộc đời mình - đây quả thực là phương thức tự sát thích hợp với một bác sĩ nội khoa.

Tôi dừng lại một chút, ngẩng đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, lại ngoảnh đầu liếc nhìn bà xã đang ngồi gật gà gật gù trên xô pha, sau đó tiếp tục lật mở tài liệu, thấy người chết ở trang thứ mười sáu tên là Lý Tùng.

Nhìn thấy cái tên này, tôi đột nhiên nảy sinh ấn tượng rõ ràng hơn hẳn về Chủ nhiệm Viên.

Tôi lờ mờ nhớ lại một cảnh tượng thế này: Đó là một ngày mùa hè, tôi ngồi trên ghế lái phụ của một chiếc xe, ô cửa sổ bên cạnh mở hé, những tiếng ve kêu râm ran không ngớt vang lên. Tôi ngoảnh đầu nhìn ra ngoài cửa sổ, thấy nơi đó là một rừng cây dương khá chỉnh tề, cành lá rất rậm rạp, ánh sáng gần như không qua lọt. Ở nơi cuối của khu rừng đó loáng thoáng có thể nhìn thấy mấy phiến ngói xanh, ngoài ra còn có mùi phân trâu cùng với mùi hương thanh tân của hoa cỏ trộn lẫn vào nhau không ngừng tràn vào mũi tôi. Tôi ngoảnh đầu nhìn qua phía bên trái, thấy Chủ nhiệm Viên đang ngồi trên ghế lái của chiếc xe.

Ông ta liếc mắt nhìn tôi, hai bờ môi mím chặt rồi chợt ho mạnh một tiếng, nhổ ra ngoài cửa sổ một bãi đờm. Sau đó, ông ta lấy từ trong chiếc cặp da màu đen ở ghế sau ra một túi hồ sơ, lại lấy từ trong túi ra một xấp ảnh. Ông ta xem đi xem lại những tấm ảnh đó mấy lượt, cuối cùng mới đưa tới cho tôi một cách cẩn thận.

Xấp ảnh đó tổng cộng có tám tấm, kích thước đều vào khoảng 15x10. Trong đó có một tấm chụp lại cảnh một người đàn ông đứng phát biểu trong một buổi hội nghị nào đó, vừa nhìn đã biết là tác phẩm của một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp. Có bốn tấm khác thì dường như là chụp trộm, đều là ảnh về cuộc sống cũng như công việc của người đàn ông này. Đó là một người đàn ông khoảng trên dưới năm mươi tuổi, vóc người cao lớn, bụng tuy có mỡ nhưng không nhô lên nhiều lắm, tứ chi đều có vẻ chắc nịch, dáng đi cũng rất vững chãi, có lẽ là một người thường xuyên tập luyện thể dục thể thao. Ông ta đeo một cặp kính hình vuông, mặt cũng là kiểu hình vuông chữ điền, tóc mai đã lốm đốm điểm bạc, môi dưới dày và hơi chĩa ra ngoài một cách tự nhiên, ánh mắt thì vừa sâu sắc vừa tràn đầy sức mạnh.

”Lý Tùng.” Chủ nhiệm Viên giới thiệu: “Bí thư ủy ban Kiểm tra Kỷ luật tỉnh đương nhiệm.”

Tôi cầm xấp ảnh đó trong tay, hơi thở vốn đang đều đặn đột nhiên trở nên hơi rối loạn.

”Các thông tin về người này tôi không cần thiết phải giấu cậu, đương nhiên cũng không giấu nổi cậu.” Chủ nhiệm Viên đưa mắt nhìn tôi một chút, sau đó nói tiếp: “Người này nổi tiếng về phương thức làm việc cứng rắn, những năm qua từng đánh đổ không ít nhân vật tai to mặt lớn ở tỉnh ngoài, đến đầu năm nay thì đột nhiên được điều qua đây, nhất định là cũng muốn làm nên thành tích gì đó. Ông ta muốn có thành tích thì mục tiêu nhắm đến đầu tiên tất nhiên chính là Tập đoàn A. Nửa năm gần đây, tập đoàn đã sử dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không ăn thua vì người này cả rắn lẫn mềm đều không chịu, dường như đã nhất quyết muốn thiết lập lại trật tự trong chính giới cũng như giới thương nghiệp.”

Tôi đưa trả lại xấp ảnh đó cho Chủ nhiệm Viên, lẳng lặng gật đầu, không nói năng gì cả.

Chủ nhiệm Viên đưa mắt nhìn ra ngoài cửa sổ một chút, sau đó mới khẽ thở dài, nói: “Theo nguồn tin đáng tin cậy, ủy ban Kiểm tra Kỷ luật sẽ có hành động vào trung tuần tháng Tám, một khi hành động bắt đầu thì cục diện sẽ vượt ra ngoài tầm kiểm soát.” Rồi ông ta ngoảnh đầu qua nhìn tôi. “Nhiệm vụ của cậu lần này chính là trừ khử ông ta càng nhanh càng tốt, thời gian hạn định là trong tháng này. Hơn nữa, để giảm bớt phiền phức trong tương lai, cái chết của ông ta nhất định phải là một vụ tự sát.”

Ký ức càng lúc càng trở nên rõ ràng, tôi nhớ ra hôm đó hình như là ngày 20 tháng 7, chỉ còn mười một ngày nữa là sang tháng mới. Khi ấy, tôi suy nghĩ một lát rồi bèn lắc đầu, nói: “Không được, thời gian ngắn quá.”

”Đây đương nhiên không phải là một chuyện dễ dàng, nhưng chúng ta đã không còn lựa chọn nào khác nữa rồi” Chủ nhiệm Viên nói. “Chúng ta nhất định phải đồng tâm hiệp lực vượt qua cửa ải khó khăn này. Có một điều cậu cần phải hiểu, đó là nếu tập đoàn mà gặp vấn đề, thân phận của cậu chắc chắn sẽ bị bại lộ, về điều này tôi có thể dùng nhân cách của mình để đảm bảo với cậu. Nhất Tân...” Ông ta nhìn chằm chằm vào đôi mắt của tôi. “Giữa chúng ta không chỉ là quan hệ giữa chủ thuê và người làm thuê thôi đâu, cậu đã bước chân lên con thuyền của tập đoàn rồi.”

Tôi khẽ gật đầu, cố giữ bình tĩnh nói: “Tôi hiểu, nhưng thời gian thực sự quá ngắn. Với loại quan chức ở cấp bậc như ông ta, chỉ riêng việc tiếp xúc và điều tra đã khó khăn lắm rồi, càng đừng nói gì tới việc tiến hành tác động vào tâm lý...”

”Điều này thì cậu không cần phải lo lắng.” Chủ nhiệm Viên cắt ngang lời tôi, đồng thời lấy từ trong túi hồ sơ ra ba trang tài liệu dày đặc toàn những chữ là chữ.“Toàn bộ thông tin về ông ta, bao gồm thói quen sinh hoạt, hứng thú sở thích, hoàn cảnh gia đình, thậm chí là cả quá trình trưởng thành nữa, tôi đã thay cậu điều tra hết sức tỉ mỉ và chi tiết rồi.” Vừa nói ông ta vừa đưa mấy trang tài liệu đó cho tôi. “Nhiệm vụ của cậu là dựa vào đây để phân tích ra nhược điểm trong tâm lý của ông ta, sau đó trừ khử ông ta trong tháng này. Còn về vấn đề tiếp xúc, tập đoàn sẽ dùng mọi nguồn lực để giúp cậu. Trong vòng mười một ngày sắp tới, cậu sẽ có cơ hội tiếp xúc với ông ta hai lần ở cự ly gần. Ngoài ra, tập đoàn sẽ nghĩ cách sắp xếp cho cậu ăn cơm riêng với ông ta một bữa nữa.”

Tôi chậm rãi lật xem tài liệu nhưng vẫn không thể hạ quyết tâm.

”Nhất Tân.” Chủ nhiệm Viên đột nhiên hỏi- “Cậu bây giờ còn nợ khoảng bao nhiêu nữa?”

Tôi lập tức hiểu ngay ra ý của ông ta, thế là bèn thành thực trả lời:“Không tính đến nợ ngân hàng thì còn khoảng tám triệu một trăm nghìn nữa.”

”Nợ ngân hàng không phải là vấn đề gì lớn lắm, nhưng nợ tư nhân thì thật không dễ giải quyết chút nào.” Ông ta nở một nụ cười đầy ý vị. “Cuộc sống của cậu bây giờ vẫn ổn chứ?”

Tôi cũng khẽ mỉm cười, sau khi suy nghĩ một chút bèn nói: “Sau mấy lần làm nhiệm vụ trước, tôi đã nhận được hơn một triệu, về cơ bản vẫn còn có thể ứng phó được.”

”Với chút tiền vặt vãnh đó chỉ có thể ứng phó được tạm thời mà thôi.” Chủ nhiệm Viên nói tiếp: “Phải rồi, nghe nói cậu và cô gái kia vẫn giữ liên lạc với nhau, hơn nữa cô ta còn từ chối không đi xem mặt bất kỳ ai, một lòng muốn đợi cậu, làm cha mẹ đều giận đến nỗi đổ bệnh, có đúng vậy không?”

Nghĩ đến câu nói này, dòng suy nghĩ của tôi đột nhiên lại quay trở về thực tại. Tôi ngoảnh đầu nhìn bà xã lúc này đã sắp ngủ gật trên xô pha, sống mũi bất giác cay sè - mấy năm trước, cô ấy quả thực đã vì tôi mà phải chịu quá nhiều nỗi khổ sở.

Sau khi cha mẹ qua đời, tôi vẫn luôn phải cố gắng để hoàn trả món nợ khổng lồ mà bọn họ để lại. Đến năm 2004 tôi đã bán đi toàn bộ các món tài sản có thể bán được, từ đó trả xong phần lớn các khoản nợ, cuộc sống vì thế mà bình lặng hơn trước một chút, có thể đi làm một cách bình thường. Nhưng dù rằng như thế, tôi vẫn phải gánh một món nợ hơn tám triệu, những tranh chấp có liên quan thì lại càng không thể tránh khỏi, thế nên phần lớn tiền lương mỗi tháng của tôi đều phải dùng để trừ nợ, chỉ có thể giữ lại mấy trăm nhân dân tệ để giải quyết những nhu cầu cơ bản của cuộc sống. Trong quãng thời gian đó, buổi tối tôi chỉ có thể ngủ lại ở công ty, ăn uống thì khắc khổ vô cùng. Nếu không có mấy người bạn và bà xã (khi đó vẫn còn là bạn gái) ngấm ngầm tiếp tế, chắc tôi không sống được đến bây giờ.

Tôi không muốn làm liên lụy tới bạn gái, do đó bắt đầu từ năm 2001, tôi đã từng mấy chục lần đề nghị chia tay, nhưng lần nào cũng chỉ đổi lại được nước mắt của cô ấy cùng với lòng quyết tâm chờ đợi càng thêm son sắt hơn. Bề ngoài cô ấy nói với người thân và bạn bè là đã chia tay với tôi rồi nhưng lại từ chối không đi xem mặt bất cứ ai mà người nhà giới thiệu, hơn nữa cứ có cơ hội là lại lén lút đi gặp tôi ngay. Năm 2005, cha mẹ cô ấy vì chuyện này mà lần lượt đổ bệnh phải vào nằm viện, tôi thì lại một lần nữa đề nghị chia tay, bảo cô ấy hãy cố gắng sống cho tốt và báo hiếu cha mẹ. Nhưng cô ấy cố chấp vô cùng, nói là nếu không thể thành hôn với tôi, cô ấy sẽ sống một mình cả đời. Trong những năm tháng đó, có một lần tôi đã lén trốn đến nơi khác, hy vọng có thể thoát khỏi những khoản nợ, đồng thời khiến cho bạn gái vì tuyệt vọng mà thôi không chờ đợi tôi nữa. Nhưng vô ích, cô ấy rất nhanh đã tìm được tôi, các chủ nợ cũng vậy. Tôi chỉ đành quay trở lại thành phố này, tiếp tục sống trong sự giày vò đau khổ hết ngày này tháng nọ.

Cuộc sống vốn dĩ chẳng hề có chút hy vọng nào, vậy nhưng vận may bỗng buông xuống vào năm 2007. Lúc sinh tiền, cha tôi từng mở một công ty chế biến thực phẩm, đến năm 2003 thì bị ngân hàng tịch thu để gán nợ, nhưng vì cha tôi khi còn sống có thực hiện một số hành vi trái pháp luật thế nên giấy tờ sở hữu nhà đất của công ty đó có tồn tại các vấn đề rất nghiêm trọng, thủ tục thu hồi vì thế mà không thể hoàn thành, đất đai và nhà xưởng từ đó liền trở thành vật chết, bất kể là tôi, ngân hàng, công ty bảo lãnh hay là dân làng và quan chức sở tại ở nơi công tỵ đó tọa lạc đều chẳng có biện pháp gì với khu đất đó cả. Đến tháng 8 năm 2007 thành phố có kế hoạch mở rộng, cần dùng đến đất đai của công ty chế biến thực phẩm, thế là tôi, ngân hàng và dân làng địa phương đã bắt tay liên kết với nhau, lại nhở cậy sự giúp đỡ của một số người làm việc trong chính phủ, cuối cùng đã thành công nhận được một khoản tiền bồi thường là hai mươi hai triệu nhân dân tệ. Sau việc này, tôi không chỉ trả xong tất cả các khoản nợ, còn dư ra được hơn hai triệu nữa. Cuộc sống đột nhiên phát sinh thay đổi, thế rồi tôi và bạn gái đã kết hôn luôn vào tháng Chín cùng năm...

Nghĩ đến đây, tôi bất giác sững người ra đó, phát hiện ký ức đã lại một lần nữa xuất hiện mâu thuẫn hết sức rõ ràng: Trong ký ức vốn có của tôi, sự thay đổi trong cuộc sống bắt nguồn từ khoản tiền bồi thường thu hồi đất vào tháng 8 năm 2007. Nhưng trong ký ức của X, tôi cuối cùng có thể kết hôn với bà xã hoàn toàn là nhờ vào nhiệm vụ được giao hồi tháng 7 năm 2007.

Tôi nhớ rất rõ ràng, chiều ngày 20 tháng 7 năm 2007, nghe Chủ nhiệm Viên nhắc đến chuyện giữa tôi và bạn gái, tôi nhất thời im lặng không nói gì. Không chờ tôi mở miệng, Chủ nhiệm Viên đã lại nói tiếp: “Cô gái đó đã vì cậu mà phải chịu nhiều nỗi khổ như vậy, lẽ nào cậu không muốn sớm kết hôn với cô ta để cô ta được sống một cuộc sống tốt đẹp hơn sao?”

Tôi vẫn giữ im lặng, đợi ông ta nói tiếp.

”Cậu quả thực rất thông minh.” Chủ nhiệm Viên khẽ gật đầu với tôi. “Tôi sẽ nói rõ ràng luôn với cậu vậy, nếu cậu giúp được tập đoàn, tập đoàn nhất định sẽ không bạc đãi cậu. Chỉ cần Lý Tùng tự sát trong tháng này, các khoản nợ còn lại của cậu tập đoàn sẽ giúp cậu thanh toán hết luôn trong một lần.”

”Không đủ.” Tôi nhìn chằm chằm vào mắt ông ta. “Ngoài việc trả hết các khoản nợ, tôi muốn được nhận thêm hai triệu tiền mặt nữa.”

Chủ nhiệm Viên hơi nhíu đôi hàng lông mày lại, các bắp thịt trên mặt cũng khẽ rung lên, cặp mắt thì nheo lại thành một đường thẳng - lời của tôi hiển nhiên đã khiến ông ta thấy phản cảm. Có điều, chỉ một giây sau đó ông ta đã lại mở to mắt ra, mỉm cười rạng rỡ, thở phào một hơi, nói:“Được thôi, cậu cứ xem kĩ chỗ tài liệu này trước đi đã.”

Tôi lập tức đưa trả tài liệu lại cho ông ta. “Tôi đã ghi nhớ hết vào đầu rồi.”

Ông ta nhướng mày lên, sống mũi hơi run rẩy, trong mắt thoáng qua một tia kinh ngạc, nhưng ngay sau đó liền gật đầu mỉm cười, xuống xe đi tới bên cạnh một dòng sông nhỏ ở phía đối diện với khu rừng kia, đốt sạch toàn bộ ảnh và tài liệu. Sau khi trở về trong xe, ông ta vừa nổ máy vừa nói:“Nhớ đấy, nhất định phải khiến cho ông ta tự sát trong tháng này. Còn có một câu này nữa cậu cũng cần phải nhớ kĩ, tất thảy đều là hành vi cá nhân của cậu, nếu xảy ra chuyện gì không ai có thể bảo vệ được cậu đâu.” Hơi dừng lại một chút, ông ta nói bằng giọng nhẹ nhàng hơn: “Tiền vẫn sẽ được gửi vào tài khoản đó.”

Nghĩ tới đây, tôi lại một lần nữa quay trở về thực tại thế rồi liền bất an đứng dậy, đi đi lại lại mấy bước trong phòng. Bà xã nghe thấy tiếng động thì liền tỉnh dậy, đưa mắt nhìn tôi, hỏi: “Nhất Tân, anh xem xong rồi ư?”

Nhìn vào đôi mắt đầy vẻ mỏi mệt của bà xã, tôi bất giác nhớ lại sự kiên định của cô ấy trong quãng thời gian khó khăn kia, trong lòng không ngừng trào dâng những nỗi niềm chua xót và cảm động.

”Em yêu...” Tôi đã lâu lắm không gọi cô ấy như vậy rồi. “Nếu em đã buồn ngủ rồi thì hãy đi ngủ trước đi, đừng đợi anh nữa.”

Cô ấy thoáng sững người ra một chút rồi không kìm được đưa tay bụm miệng, khẽ sụt sịt mấy tiếng, nước mắt lập tức ứa ra ầng ậng trong khóe mắt. Sau một lát, cô ấy mím chặt đôi môi, dụi mạnh mắt, hít sâu một hơi, cất giọng thoáng mang theo chút vẻ nghẹn ngào: “Anh cứ làm việc của anh đi, em đi rót cho anh cốc trà nữa.”
Tôi vốn muốn nói gì đó nhưng đến cuối cùng vẫn chẳng thể mở miệng. Bà xã cầm cốc rời khỏi phòng đọc sách, tôi thì ngồi trước bàn, mở máy tính ra, vào một trang Web tìm kiếm dòng chữ “bồi thường thu hồi đất của công ty chế biến thực phẩm ** ở thành phố ** năm 2007” và ấn nút tìm kiếm. Sau khi lật liền một mạch hơn ba mươi trang tìm kiếm, tôi vẫn chẳng thể tìm thấy những thông tin bồi thường đất đai có liên quan. Kế đó, tôi lại gõ từ khóa “công ty chế biến thực phẩm ** ở thành phố **” và ấn nút tìm kiếm, rất nhanh sau đó đã sợ hãi phát hiện nhà xưởng và đất đai của công ty ấy sớm đã bị ngân hàng thu hồi thành công từ năm 2005 rồi, hơn nữa còn được bán đấu giá một cách thuận lợi, tới năm 2006 thì trở thành phân xưởng của một công ty chế biến thực phẩm khác. Nói như vậy, việc tôi nhận được tiền đền bù đất và dùng để trả hết các khoản nợ vào tháng 8 năm 2007 căn bản chưa từng xảy ra.

Đây rõ ràng lại là một đoạn ký ức hư cấu nữa được X bịa đặt ra và cấy vào trong ý thức của tôi.

Tôi hít sâu một hơi, sau đó gõ từ khóa “Bí thư ủy ban Kiểm tra Kỷ luật tỉnh ** Lý Tùng tự sát năm 2007” và ấn nút tìm kiếm. Tại dòng cuối cùng của trang tìm kiếm thứ bảy hiển thị một đường link có đoạn văn tự trích dẫn như thế này: Ngày 28 tháng 7 năm 2007, Bí thư ủy ban Kiểm tra Kỷ luật tỉnh ** Lý Tùng qua đời trong văn phòng làm việc do treo cổ, nghi là tự sát, động cơ không rõ.

Tôi cẩn thận nhấn vào đường link đó, dòng suy nghĩ lại một lần nữa trở về thời điểm cuối tháng 7 năm 2007.

Buổi chiều hôm ấy, Chủ nhiệm Viên sau khi đốt sạch ảnh và tài liệu thì liền lái xe đưa tôi rời khỏi khu rừng kia.

Sau khoảng mười phút, ông ta đưa tôi tới một trạm xe khách ở cách đó mấy cây số rồi liền lái xe rời đi luôn. Lúc chiều tối, khi tôi đang ngồi trên chiếc xe khách đường dài trở về thành phố thì nhận được tin nhắn do bạn gái gửi tới: “Nhất Tân, em vừa mới thử bằng que thử thai xong, hai vạch, lần này thì có thật rồi, phải làm sao đây?”

Tin nhắn này đã khiến tôi hoàn toàn hạ quyết tâm là phải giết Lý Tùng bằng được. Tôi gọi điện thoại cho bạn gái, đảm bảo là sẽ cưới cô ấy trong vòng hai tháng tới, sau đó bèn giữ lòng bình tĩnh để bắt đầu suy nghĩ về kế hoạch ám sát.

Trên tập tài liệu mà Chủ nhiệm Viên đưa cho tôi xem có viết rằng: Lý Tùng sinh tháng 5 năm 1949, trình độ học vấn thạc sĩ, từng có mấy năm phải tham gia đội sản xuất ở nông thôn1, sau khi trở lại thành phố thì tiếp tục học tập, đầu những năm tám mươi được vào làm trong một đơn vị cấp bộ nào đó, đến giữa những năm chín mươi thì được điều xuống địa phương, từng giữ chức vụ Bí thư ủy ban Kiểm tra Kỷ luật ở nhiều nơi, nổi tiếng về sự thiết diện vô tư cùng với phương thức làm việc cứng rắn. Năm 2005, trong thời gian đảm nhiệm chức Bí thư ủy ban Kiểm tra Kỷ luật của một tỉnh nào đó, Lý Tùng đã gạt bỏ sự dụ dỗ về tiền bạc và sự uy hiếp tới tính mạng sang một bên, cuối cùng thành công đập tan một tập đoàn lợi ích khổng lồ có dính dáng tới cả chính giới, giới thương nghiệp và giói xã hội đen trong tỉnh, từ đó nức tiếng một thời. Đến đầu năm 2007, Lý Tùng được điều về vùng này

1. Chỉ việc các thanh niên tri thức tham gia phong trào vô sản hóa bằng cách gia nhập các công xã, đội sản xuất ở nông thôn trong thời kỳ Cách mang văn hóa ở Trung Quốc - ND.

giữ chức Bí thư ủy ban Kiểm tra Kỷ luật tỉnh, rất nhanh sau đó đã tỏ ý rằng sẽ nghiêm trị hủ bại và loại trừ đám u nhọt trong Đảng. Nghe thấy những lời này, một số quan chức cùng với Tập đoàn A vốn có dính dáng rất nhiều tới chính giới về mặt lợi ích đương nhiên là cảm thấy như đứng đống lửa, như ngồi đống than rồi.

Trên tài liệu còn viết, ông nội của Lý Tùng từng giữ chức Chính ủy của một đơn vị bộ đội nào đó, trong thời chiến đã lập nên những công lao không nhỏ, sau khi đất nước được thành lập thì vào làm việc trong cơ quan nhà nước, vậy nhưng lại đã bị bức hại mà chết trong mười năm loạn lạc1. Tuy Lý Tùng và cha mẹ ông ta không hề vì thế mà bị liên lụy, nhưng việc này nhất định là đã tạo ra những ảnh hưởng nhất định đối với ông ta, có thể còn dẫn đến sự xuất hiện của một nhược điểm nào đó trong tâm lý của ông ta nữa - đây chính là một trong các trọng điểm mà tôi cần tiến hành thăm dò trong quá trình tiếp xúc với Lý Tùng sắp tới.

Trong tài liệu còn nhắc đến một chuyện thế này: Mùa xuân năm 1985, Lý Tùng đã từng phải chịu một sự đả kích to lớn cả về mặt gia đình lẫn sự nghiệp, dẫn đến tâm trạng suy sụp vô cùng. Về sau, ông ta từng có lần công khai kể chuyện này ra và coi đó như một cuộc trải nghiệm trong đời, nguyên văn như sau: “Hơn hai tháng liền, cứ đúng vào ba giờ đêm mỗi ngày là tôi lại tỉnh dậy, sau đó thì không cách nào ngủ tiếp được nữa. Hồi đó đầu óc tôi cũng trở nên ngốc nghếch, chẳng suy nghĩ được việc gì, chẳng nhớ được việc gì, cũng chẳng có hứng thú với chuyện gì cả.

1. Chỉ thời kỳ Cách mạng văn hóa - ND.

Khi phải đối mặt với sự chỉ trích của lãnh đạo và đồng nghiệp, tôi cảm thấy mình sống mà chẳng có chút giá trị nào, chẳng bằng chết đi cho xong (cười lớn). Ôi, bây giờ nghĩ lại, khi đó bản thân đúng là còn non dại quá, cứ gặp phải khó khăn là liền dễ dàng cúi đầu. Trạng thái đó đã kéo dài khoảng gần ba tháng thì phải, nhưng rồi cuối cùng dưới sự trợ giúp của người nhà, tôi đã thoát được khỏi tình cảnh khó khăn, từ đó học được cái gọi là tâm lý kiên cường thực sự.”

Nghĩ đến đây, trong lòng tôi thoáng nảy ra chủ ý: Sự mất ngủ có tính quy luật, sự suy giảm đột ngột của năng lực tư duy, năng lực nhận thức cùng hứng thú đối với mọi vật, ngoài ra là cảm giác không có giá trị, cảm giác sống không bằng chết, những tình trạng này rõ ràng đều là biểu hiện lâm sàng của chứng trầm cảm. Nếu ông ta thực sự từng bị mắc chứng trầm cảm, vậy thì muốn dẫn dắt cho ông ta tự sát hẳn cũng không phải là việc gì quá mức khó khăn.

Tôi lập tức gửi tin nhắn cho Chủ nhiệm Viên, yêu cầu ông ta nhanh chóng điều tra rõ ràng xem trongnăm 1985, Lý Tùng rốt cuộc đã gặp phải những sự đả kích như thế nào, tâm trạng suy sụp được biểu hiện ra sao, ngoài ra cũng cần làm rõ quá trình ông ta trở lại bình thường nữa. Sáng sớm ngày hôm sau, Chủ nhiệm Viên gọi điện thoại cho tôi, nói là thời gian đã qua lâu quá rồi, việc điều tra quá mức khó khăn, do đó chỉ có thể lần ra được một số chi tiết vụn vặt thôi.

Khi đó, tôi suy nghĩ trong chốc lát rồi bèn hỏi: “Năm đó, ông ta rốt cuộc đã phải chịu những sự đả kích như thế nào?”

Chủ nhiệm Viên nói: “Đầu năm 1985, không biết ông ta đã làm mất lòng ai mà đột nhiên bị điều từ trung ương xuống địa phương đảm nhiệm một chức vụ nhàn hạ, hơn nữa rất có khả năng ngay cả chức vụ này cũng không giữ nổi. Cũng trong thời gian đó, cha ông ta mắc bệnh cấp tính qua đời, mẹ thì vì bệnh tim mà phải vào nằm viện, nghe nói con gái ông ta còn bị ngã gãy tay nữa. Nói tóm lại là trong thời điểm đó ông ta đã gặp phải những tai họa liên miên.”

Tôi suy nghĩ một chút rồi lại hỏi: “Tâm trạng của ông ta đã bị suy sụp trong khoảng hai, ba tháng, về sau đã khôi phục như thế nào vậy? Khi đó ông ta có từng đi gặp bác sĩ tâm lý nhờ tư vấn không? Hay có từng uống thứ thuốc gì đó hay không?”

”Có một tin tức này tôi cũng không rõ là có đáng tin cậy hay không.” Chủ nhiệm Viên hơi dừng một chút rồi mới nói tiếp: “Bởi lẽ nó được lan truyền sau khi đã qua miệng của mấy người. Nghe đâu, Lý Tùng từ năm hơn hai mươi tuổi đã bắt đầu uống thứ thuốc gì đó rồi, mãi tới năm chín mươi mấy mới dừng lại.”

”Là thuốc gì vậy?” Tôi hỏi. “Có biết tên thuốc không?”

''Việc này tôi còn đang điều tra.” Chủ nhiệm Viên nói: ‘Phải rồi, nghe nói ông ta còn từng nhờ người mua thuốc từ nước ngoài về nữa.”

Tôi suy nghĩ một lát rồi bèn hỏi tiếp: “Trong thời gian tâm trạng suy sụp, ông ta có từng thể hiện ra khuynh hướng tự sát không?”

”Chuyện này...” Chủ nhiệm Viên do dự trong phút chốc rồi mới nói: “Có từng thực sự tìm đến cái chết hay không thì tôi không rõ, nhưng ông ta có một người em họ trong quãng thời gian khó khăn đó đã từng đến giúp ông ta chăm sóc con gái. Nghe người này kể lại thì khi giúp ông ta thu dọn bàn làm việc, cô ta từng tìm thấy một bức di thư do chính tay ông ta viết.”

Tôi khẽ gật đầu. Bất kể là đã có hành động thực tế hay chưa, việc viết di thư cũng chứng tỏ rằng Lý Tùng ít nhất cũng từng xuất hiện ý nghĩ tự sát. Khuynh hướng tự sát, dùng loại thuốc nào đó trong một thời gian dài, khi gặp khó khăn thì tâm trạng có những sự thay đổi đột ngột, những biểu hiện này đều chứng tỏ Lý Tùng rất có khả năng từng mắc chứng trầm cảm. Nếu loại thuốc mà ông ta uống kia là thuốc chữa trị trầm cảm, vậy thì xét từ việc ông ta bắt đầu uống thuốc từ năm hơn hai mươi tuổi, căn nguyên của chứng trầm cảm mà ông ta mắc phải căn bản không phải là những sự đả kích về mặt gia đình và sự nghiệp...

Tôi lại một lần nữa nhớ đến cảnh ngộ mà ông nội của ông ta đã gặp phải trong mười năm loạn lạc.

Đương nhiên, bản thân việc “Lý Tùng từng mắc chứng trầm cảm” cũng chỉ là một suy đoán mà thôi, nói đến căn nguyên thì vẫn còn sớm quá. Việc cấp bách trước mắt là phải điều tra ra tên của loại thuốc mà năm xưa ông ta đã uống - nghĩ đến đây, trong lòng tôi bỗng nhiên lóe lên một tia sáng rực. Nếu Lý Tùng quả thực đã từng uống thuốc chữa trị trầm cảm trong một thời gian dài, vậy thì chứng tỏ ông ta bị mắc chứng trầm cảm mãn tính. Chứng trầm cảm mãn tính thông thường có liên quan tới các nhân tố không dễ thay đổi như khiếm khuyết gen, nhân cách trầm cảm, do đó rất khó dùng thuốc và các liệu pháp tâm lý để chữa khỏi tận gốc. Đối với người bệnh dạng này mà nói, cho dù không có biểu hiện trầm cảm rõ ràng trong một thời gian dài thì cũng vẫn phải kiên trì dùng thuốc, ít nhất thì cũng cần mang sẵn loại thuốc thường dùng bên người.

Tôi đưa tay mân mê cằm, trầm ngâm nói: “Chủ nhiệm Viên, hãy đặt trọng điểm điều tra vào Lý Tùng hiện giờ đi. Ông cần cố gắng điều tra xem gần đây ông ta có mua và uống loại thuốc nào không, hoặc là ông ta có thường xuyên mang theo loại thuốc nào bên người không. So với những chuyện đã xảy ra từ mấy chục năm trước, chuyện này chắc là dễ điều tra hơn đúng không?”

”Tôi hiểu rồi.” Chủ nhiệm Viên nói. “Cậu yên tâm, trước buổi trưa hôm nay tôi sẽ có câu trả lời cho cậu. Phải rồi, sáng ngày mai có một cuộc họp ở Sở Giám sát, Lý Tùng sẽ tới đó phát biểu. Sau cuộc họp, tôi sẽ sắp xếp cho cậu tiến hành phóng vấn riêng ông ta khoảng mười phút. Cậu cứ chuẩn bị trước cho cẩn thận đi, cơ hội này không dễ gì có được đâu.”

Khi đó, tôi phải sống trong một căn phòng trọ rẻ tiền ở ngoại ô thành phố, tiền thuê một tháng là một trăm hai mươi tệ, mà khoản tiền đó còn là do bạn gái tiếp tế cho tôi. Căn phòng ấy rất nhỏ, không có cửa sổ, chỉ có duy nhất một chiếc giường tưởng như sắp sập đến nơi. Sáng hôm đó bạn gái đến thăm tôi, còn mang cho tôi một miếng thịt bò. Cô ấy ôm chặt lấy tôi mà khóc rất lâu. Tôi nhẹ nhàng vuốt ve bụng cô ấy, đảm bảo với cô ấy là trong vòng hai tháng nữa sẽ mang lại cho cô ấy một gia đình ấm áp. Cô ấy hỏi tôi là dựa vào cái gì, tôi bèn ôm lấy cô ấy và dịu dàng nói: Đất của công ty chế biến thực phẩm sắp được chính phủ trưng dụng rồi, anh cùng với Bí thư chi bộ của thôn ** và người của ngân hàng đã bắt tay hợp tác với nhau được một thời gian rất dài, tin rằng đến tháng sau sẽ lấy về được một khoản tiền lớn.”

Cô ấy nhìn tôi bằng ánh mắt mong chờ. “Được khoảng bao nhiêu?”

Tôi suy nghĩ một chút rồi nói: “Ngoài khoản tiền chi cho Bí thư chi bộ và người của ngân hàng thì còn khoảng hơn mười triệu, trả xong tất cả các khoản nợ thì chúng ta còn được chừng hai triệu.”

Cô ấy đổi khóc thành cười, mở to hai mắt ra nhìn tôi. “Thật vậy ư?”

Tôi mỉm cười gật đầu, ân cần lau nước mắt cho cô ấy...

Nghĩ tới đây, bàn tay phải đột nhiên hơi run lên, tôi lại một lần nữa quay trở về thực tại. Nửa giây sau, tôi ngó mắt nhìn cảnh đêm bình lặng bên ngoài cửa sổ, trong lòng nổi lên một sự nghi hoặc trước giờ chưa từng có.

Sáng ngày 21 tháng 7 năm 2007, khi tôi gặp bạn gái, để khiến cô ấy yên tâm tôi đã bịa đặt ra chuyện trưng thu và bồi thường đất - đây là lần đầu tiên lời nói dối đó xuất hiện. Trước đó, tôi vẫn luôn ngỡ rằng lời nói dối đó là do X bịa đặt ra, là một lần X tiến hành thao túng ký ức của tôi. Nhưng sau khi ngẫm lại nguồn cơn mọi chuyện, tôi đột nhiên cảm thấy khi nói ra những lời đó, tôi - chứ không phải là X - kỳ thực biết rõ đó là một lời nói dối. X không hề lừa gạt tôi, chính tôi đã lừa gạt bạn gái của mình, sau đó thì nhân tiện lừa gạt luôn chính bản thân mình nữa, tôi...

Tôi hít sâu một hơi, đưa tay lên ôm chặt mặt, nỗi nghi hoặc trong lòng càng lúc càng nhiều thêm. Trước đó, ký ức của tôi và X không có chút dính dáng gì tới nhau, cứ tựa như hai đường thẳng hoàn toàn song song. Nhưng lúc này, thông qua một lời nói dối vào ngày 21 tháng 7 năm 2007, ký ức của chúng tôi đột nhiên lại đan xen vào với nhau, đồng thời lấy đó làm điểm khởi đầu để bắt đầu hòa quyện, hơn nữa còn càng lúc càng khăng khít. Tôi thử nhớ lại những ký ức khác thuộc về X, thế rồi bất ngờ cảm thấy tất cả ký ức của anh ta đều thuộc về tôi - không phải là lúc này mới thuộc về tôi mà là bấy lâu nay vẫn luôn thuộc về tôi.

Chỉ mấy giây sau, hai đường thẳng song song đó đã hoàn toàn dung hòa thành một thể, thật và giả được phân tách rõ ràng, dần dần hình thành nên một ký ức hoàn chỉnh và chân thực của chính bản thân tôi.

Tôi vẫn luôn cho rằng tôi là tôi, X là X, nhưng bắt đầu từ lúc đó tôi đã hiểu rằng tôi chính là X. Hoặc có thể nói thế này, từ trước đến giờ chưa từng có X nào cả, tôi chính là tôi, tôi là Trương Nhất Tân.

Tôi uống một ngụm trà, tiếp tục nhớ lại chuyện xưa.

Trưa ngày 21 tháng 7 năm 2007, trong căn phòng trọ rẻ tiền ở ngoại ô thành phố, bạn gái vừa mới rời đi chưa lâu tôi liền nhận được một cuộc điện thoại do Chủ nhiệm Viên gọi đến.

“Tra ra rồi.” Giọng của ông ta nghe rất bình tĩnh, nhưng vẫn có thể nhận ra sự hưng phấn ẩn bên trong. “Thứ thuốc đó là Luvox, có mấy người bên cạnh Lý Tùng đã xác nhận ràng ông ta thường xuyên mang theo một loại thuốc có tên gọi Luvox trên người.”

Quả nhiên không nằm ngoài dự đoán của tôi.

Trong cơ thể người có tồn tại một thứ vật chất tên là serotonin. Nói một cách đơn giản thì serotonin là một chất dẫn truyền thần kinh, có hàm lượng cao nhất ở vỏ ngoài của đại não và các khớp thần kinh. Xét về mặt vi mô, nó có tác động đến việc truyền thông tin giữa các tế bào thần kinh, về mặt vĩ mô, nó có khả năng tác động đến tất cả mọi hoạt động của đại não, từ đó làm ảnh hưởng đến các mặt như tâm trạng, trí nhớ, khả năng tư duy và sức sống của con người.

Có thể nói serotonin là một thứ vật chất có thể khiến con người ta cảm thấy thoải mái, tạm bỏ qua các nhân tố khác (nhân tố bên ngoài như là áp lực xã hội, sự uy hiếp của người khác, nhân tố bên trong như là số lượng thụ thể dẫn truyền thần kinh, độ nhạy cảm) chưa xét đến, hàm lượng serotonin càng cao thì tâm trạng của con người sẽ càng vui vẻ. Ngược lại, nếu hàm lượng serotonin xuống thấp hơn mức thông thường, con người ta sẽ cảm thấy lo âu, mệt mỏi, bất an, thậm chí là phẫn nộ, từ đó nảy sinh các tình trạng như tâm trạng suy sụp, trí nhớ giảm sút, năng lực tư duy không ổn định, thường xuyên mất ngủ. Nếu hàm lượng này tiếp tục xuống đến mức quá thấp, năng lực của đại não sẽ lại càng giảm sút thêm/ từ đó gây ra các biểu hiện điển hình của chứng trầm cảm.

Chứng trầm cảm là một loại bệnh tâm lý hết sức đặc thù, việc phát bệnh của nó vừa có liên quan tới sự kích Thích về mặt tinh thần ở thế giới bên ngoài, lại vừa liên quan tới việc sụt giảm của hàm lượng serotonin trong đại não – nguyên nhân tâm lý và nguyên nhân sinh lý hoàn toàn có thể xúc tiến và tác động đến nhau. Cho nên, muốn chữa trị chứng bệnh này nhất định phải kết hợp giữa dùng thuốc và tư vấn tâm lý. Riêng đối với một số người mắc chứng trầm cảm vì nguyên nhân khiếm khuyết gen, việc thường xuyên dùng thuốc để duy trì hàm lượng serotonin

là điều vô cùng cần thiết. Các loại thuốc thường dùng để chữa trị chứng trầm cảm có rất nhiều, một trong số đó là Fluvoxamine, thường được gọi tắt là Luvox. Tôi đã biết cần phải giết Lý Tùng bằng cách nào rồi. Có hai nguyên nhân gây ra chứng bệnh trầm cảm, do đó muốn dẫn dắt một người bị mắc chứng trầm cảm mãn tính tự sát thì cần phải bắt tay vào từ hai phương diện: Thứ nhất nghĩ cách khiến ông ta dừng việc dùng thuốc từ đó làm giảm hàm lượng serotonin trong đại não của ông ta, tạo điều kiện tiền đề cho sự tác động vào tâm lý. Thứ hai, tìm ra căn nguyên gây ra chứng trầm cảm, suy đoán ra quá trình tâm lý trong khi phát bệnh, tiếp đến tìm cách dẫn dắt cho tâm lý của ông ta tái hiện lại quá trình này, khiến cho chứng trầm cảm lại một lần nữa bùng phát. Điều thứ nhất thì không có gì là quá khó khăn để thực hiện, Luvox là một loại thuốc được kê theo đơn, chỉ có thể

mua dưới sự giúp đỡ của bác sĩ. Lý Tùng thường xuyên mang theo Luvox trên người, điều này chứng tỏ rất có thể ông ta có một bác sĩ tâm lý riêng đã hợp tác nhiều năm.
 

root

Tác Giả
Staff member
Tác giả VW
Bài viết
19,953
Reaction score
185
Points
9,999
Quyển 2 - Chương 9-2: Nhiệm vụ ám sát khó khăn (2)
Chỉ cần mua chuộc được người này và nhờ đưa ra lời đề nghị tạm thời ngừng dùng thuốc, Lý Tùng chẳng có lý nào lại không nghe.

Mấu chốt vẫn nằm ở điều thứ hai: Lý Tùng sinh năm 1949, hơn hai mươi tuổi thì bắt đầu dùng thuốc, căn nguyên của chứng trầm cảm hiển nhiên là có liên quan tới một vụ việc nào đó đã xảy ra từ những năm sáu mươi, bảy mươi của thế kỷ trước. Đến năm 1985, chứng trầm cảm xuất hiện một lần bùng nổ trong thời gian ngắn, điều này chứng tỏ việc xảy ra vào năm đó đã lại một lần nữa chạm đến căn nguyên trầm cảm ở sâu trong nội tâm của ông ta. Dựa vào tài liệu điều tra mà Chủ nhiệm Viên cung cấp, căn nguyên trầm cảm của ông ta rất có thể có liên quan tới việc ông nội ông ta bị bức hại đến chết, nhưng điều này dù sao cũng chỉ là suy đoán mà thôi. Nếu là các nhiệm vụ khác, có lẽ tôi sẽ không ngừng thăm dò để tiến hành kiểm chứng điều này, nhưng nhiệm vụ lần này quá ư quan trọng, cơ hội tiếp xúc với mục tiêu cũng cực kì đáng quý, do đó trước khi phán đoán được chứng thực, tôi tuyệt đối không thể hành động một cách khinh suất.

”Chủ nhiệm Viên.” Tôi trầm giọng nói: “Vẫn còn thiếu một chuyện cuối cùng nữa. Hãy giúp tôi điều tra hai mốc thời gian này, thứ nhất là ngày tháng cụ thể ông nội của Lý Tùng bị bức hại đến chết, thứ hai là thời điểm Lý Tùng bắt đầu dùng thuốc. Trước khi tôi bắt đầu phỏng vấn riêng Lý Tùng, ông nhất định phải đưa kết quả điều tra tới cho tôi đấy.”

”Tôi hiểu.” Chủ nhiệm Viên nói “Tôi sẽ bắt đầu điều tra luôn từ bây giờ, nhưng kết quả ra sao thì thật không dám đảm bảo, tôi chỉ có thể nói là sẽ cố hết sức mình thôi.”

”Ít nhất cũng phải điều ưa rõ ràng một trong hai chuyện đó.” Tôi nói. “Như vậy thì tôi mới có căn cứ để suy đoán.”

Vừa nghĩ đến đây, một bàn tay ấm áp, mềm mại chợt đặt lên gáy của tôi, theo bản năng tôi hơi rùng mình, lại một lần nữa quay trở về thực tại. Bà xã đặt cốc trà xuống bàn, nhìn tôi bằng ánh mắt áy náy và thoáng mang theo chút vẻ sợ hãi. “Có phải là em đã làm ảnh hưởng đến anh rồi không?”

”Đâu có.” Tôi thở phào một hơi, ngẩng đầu lên khẽ mỉm cười với cô ấy, sau đó lại nhanh chóng cúi xuống. “Em yêu, vất vả cho em rồi. Ý anh là, những năm nay vất vả cho em rồi.”

Cô ấy khom người xuống ôm lấy cổ tôi, khẽ hôn lên má tôi một cái, hai giây sau mới đưa mắt nhìn thoáng qua màn hình máy tính, rồi bèn hỏi: “Người này là ai vậy?”

”À.” Tôi nhìn vào bức hình Lý Tùng đang phát biểu trong một cuộc họp trên màn hình máy tính, khẽ ho một tiếng, nói: “Là một người bạn cũ của anh, nhưng đã qua đời được mấy năm rồi.”

* *

Tám giờ ba mươi phút sáng ngày 22 tháng 7 năm 2007, Sở Giám sát tỉnh mở một cuộc họp thường kỳ, Lý Tùng đại diện cho ủy ban Kiểm tra Kỷ luật tham dự và đứng ra phát biểu. Tôi một mặt chụp ảnh và ghi chép trong hội trường giống như một phóng viên bình thường, mặt khác lẳng lặng quan sát Lý Tùng ở cự ly gần. Tuy đây là một cuộc họp thiên về phương diện hành chính, vậy nhưng lời phát biểu của Lý Tùng lại nhấn mạnh vào công tác chống tham nhũng, hủ bại. Khi nói tới cảm nhận của bản thân hồi mới được điều tới đây nửa năm trước, ông ta thẳng thắn phát biểu mà không chút kiêng dè:

“Các vị hiện đang ngồi ở đây chắc hẳn đều rõ cả, trong tỉnh ta có tồn tại một thế lực ngoan cố, một tập đoàn lợi ích khổng lồ. tập đoàn này đã len lỏi vào trong nội bộ Đảng, trở thành mộ khối u nhọt không thể không loại trừ…Tôi có thể khẳng định một điều thế này, một số người đang ngồi đây ắt hẳn là có mối liên quan cực kỳ sâu sắc với tập đoàn lợi ích đó, chuyện này tôi sẽ điều tra tới cùng. Nhưng mọi người cũng đừng sợ, tôi khuyên những đồng chí đã đi nhầm vào con đường sai trái thế này, đừng nên ngồi đó chờ chết, hãy chủ động đến các cơ quan bộ nghành có liên quan mà khai báo thành thực, như thế các đồng chí sẽ được xử lý một cách khoan hồng…Tôi có thể kể cho mọi người nghe về một số người và việc mà tôi đã gặp gần đây, để mọi người thấy được tập đoàn lợi ích này ngông cuồng thế nào, coi trời bằng vung ra sao.. Khi tôi mới nhậm chức chưa đầy một tháng, thực sự là chưa đầy một tháng mà đã có người dám mang tiền mặt tới gặp tôi…Ba tháng gần đây, tôi còn nhận được không ít thư nặc danh, một số thì uy hiếp bản thân thôi, một số khác thì uy hiếp người nhà của tôi, thậm chí có một số bức thư còn nói thẳng tuột gì mà“Bí thư Lý, ông đừng có rượu mời không uống lại uống rượu phạt”, “Ông ở nơi khác thì còn có thể hô mưa gọi gió, nhưng đến tỉnh này rồi thì đừng có đùa với lửa”… Hôm nay, tại nơi này, tôi có thể nói cho mọi người biết chút về hoàn cảnh gia đình của tôi. Thế này nhé, cha mẹ tôi *

đều đã qua đời, con gái cũng gặp tai nạn xe cộ rồi bỏ tôi mà đi, hiện giờ tôi chỉ còn mỗi người vợ kết tóc đang nằm trên giường bệnh. Tôi vẫn thường xuyên đến bệnh viện thăm bà ấy, thường xuyên nói chuyện với bà ấy. Bà ấy nói với tôi là đã chuẩn bị sẵn sàng cho việc rút ống thở bất cứ lúc nào. Hai vợ chồng chúng tôi trên thực tế đều chẳng sợ gì cái chết, cho nên, tôi có thể nói rõ với những người đang uy hiếp tôi thế này, có trò gì thì cứ việc lôi ra hết đi. Thứ nhất, tôi với vợ tôi đã chuẩn bị sẵn quan tài rồi, chúng tôi không sợ chết; thứ hai, các người mà dám động đến tôi, ô dù bảo vệ của các người nhất định sẽ gặp phải vô vàn phiền phức, hành động đó thực chẳng khác nào vác đá tự đập vào chân mình đâu...”

Lời phát biểu của ông ta hùng hồn khẳng khái, trong hội trường tiếng vỗ tay không ngớt vang lên, có không ít người dự họp và phóng viên còn cảm động rơi nước mắt. Tự nơi đáy lòng tôi rất kính phục sự can đảm của Lý Tùng, nhưng cùng với đó, tôi còn phát hiện ra một số điểm lạ thường trong các biểu hiện của ông ta.

Tôi để ý thấy cứ mỗi lần nhắc đến cái chết là ông ta lại cúi đầu xuống một chút, đôi hàng lông mày nhíu chặt, hơi thở cũng trở nên dồn dập trong thời gian ngắn. Ngoài ra, trong ba lần nhắc đến cái chết của bản thân, ông ta đều vô thức đặt tay lên vị trí trái tim. Những biểu cảm và hành vi kể trên chưa từng xuất hiện một lần nào khi ông ta nhắc tới những việc không liên quan gì tới cái chết, điều này chứng

tỏ giữa chúng và cái chết có một mối liên quan đặc biệt nào đó. Vô thức cúi đầu và nhíu lông mày thông thường thể hiện sự thiếu tự tin, hơi thở dồn dập thì tượng trưng cho sự căng thẳng đột ngột, những điều này đều là biểu hiện bên ngoài của việc thiếu thoải mái trong tâm lý. Còn về hành động đặt tay lên chỗ trái tim thì hình như cũng có một ý nghĩa hết sức đặc biệt nào đó, có khả năng là một hành vi nghi thức hóa.

Tôi ý thức được rằng đối với Lý Tùng mà nói, “cái chết” là một khái niệm gì đó hết sức đặc biệt có khả năng tác động mạnh tới tâm lý của ông ta.

Lúc mười rưỡi, khi cuộc họp đang được tiến hành, tôi nhận được tin nhắn từ Chủ nhiệm Viên: “Ông nội Lý Tùng chết vào tháng 5 năm 1973, trong quá trình đấu tố, bệnh tim của ông ta tái phát dẫn đến tử vong, hoàn toàn là một việc ngoài ý muốn. Theo một nguồn tin chưa được xác minh, Lý Tùng bắt đầu dùng thuốc vào năm hai mươi lăm tuổi, thông tin này có thể dùng để tham khảo, thật giả chưa rõ.”

Tôi trả lời: “Mau xác minh.”

Thời gian cứ thế trôi qua từng giây từng phút, vậy nhưng bên phía Chủ nhiệm Viên vẫn chẳng có thêm thông tin nào khác được gửi đến. Lúc mười một giờ bốn mươi lăm phút, cuộc họp rốt cuộc đã đi tới hồi kết, một nhân viên hành chính tìm đến tôi, nói rằng việc phỏng vấn Lý Tùng đã được sắp xếp xong xuôi, sẽ bắt đầu sau mười phút nữa. Tôi gửi tin nhắn cho Chủ nhiệm Viên hỏi về tình hình điều tra, Chủ nhiệm Viên nhanh chóng trả lời: “Có lẽ không thể xác minh trong hôm nay được.”

Tôi xóa hết tin nhắn đi, sau đó liền theo nhân viên hành chính kia rời khỏi hội trường, đồng thời ngấm ngầm suy tính kế hoạch. Việc đã đến nước này, xem ra chỉ có thể dựa vào các thông tin đã nắm được để tiến hành suy đoán mà thôi.

Sự việc rất có thể là như thế này: Lý Tùng bị khiếm khuyết gen, khả năng tổng hợp serotonin có vấn đề. Ông ta sinh năm 1949, năm 1973 thì hai mươi tư tuổi. Đúng vào năm hai mươi tư tuổi đó ông ta đã phải tận mắt nhìn thấy ông nội mình chết thảm, tâm lý phát sinh một loạt những biến hóa phức tạp, mà sự biến hóa trong tâm lý lại thông qua các phương thức như điều tiết nội tiết tố để tác động đến sinh lý, từ đó dẫn đến tình trạng hàm lượng serotonin giảm mạnh, mà gen có liên quan tới khả năng tổng hợp serotonin của ông ta lại bị khiếm khuyết, thế là bắt đầu từ lúc này Lý Tùng liền mắc phải chứng trầm cảm mãn tính. Năm 1974, Lý Tùng hai mươi lăm tuổi, trải qua sự đau khổ kéo dài trong một năm, ông ta và người nhà rốt cuộc đã nhận ra sự tồn tại của chứng trầm cảm, thế là liền bắt đầu dùng thuốc chống trầm cảm. Năm 1985, đối mặt với sự đả kích nặng nề cả về mặt gia đình lẫn sự nghiệp, tâm lý của ông ta lại một lần nữa xuất hiện quá trình biến hóa tương tự như năm 1973, từ đó tác động đến sinh lý, khiến cho chứng trầm cảm của ông ta xuất hiện và kéo dài trong ba tháng. Sau đó, nhờ tác dụng của thuốc cũng như sự an ủi của người nhà, ông ta rốt cuộc đã dần dần bình phục.

Dựa theo mạch suy nghĩ này mà phán đoán, hai sự kiện xảy ra năm 1973 và năm 1985 đều khiến cho chứng trầm cảm của Lý Tùng bùng phát, vậy thì căn nguyên trầm cảm của ông ta rất có thể là có liên quan tới một nhân tố chung nào đó cùng tồn tại trong hai sự kiện này. Có điều, trong hai sự kiện này quả thực có quá nhiều nhân tố chung, ví dụ như áp lực cuộc sống tăng đột ngột, sự qua đời của người thân, ác ý đến từ người khác, sự u ám của tương lai vân vân. Tôi để mặc cho tư duy lan rộng, lần lượt lồng từng nhân tố có thể nghĩ đến vào trong suy đoán của bản thân, vậy nhưng từ đầu đến cuối vẫn chẳng thể xác định rốt cuộc là căn nguyên nào đã dẫn đến chứng trầm cảm của ông ta. Có lẽ, căn nguyên trầm cảm của ông ta không phải là một nhân tố đơn lẻ, mà là do rất nhiều nhân tố tập hợp lại mà thành. Nếu sự thực quả đúng là như vậy, tôi rốt cuộc nên bắt tay vào từ phương diện nào để khiến chứng trầm cảm của ông ta lại một lần nữa bùng phát đây?

Tôi chậm rãi đi theo nhân viên hành chính kia, không kìm được có chút tự trách: Mười phút phỏng vấn sắp tới đây là cơ hội hiếm có mà Tập đoàn A chẳng dễ dàng gì mới tạo ra được cho tôi, nếu lãng phí mất thì quả thực quá ư đáng tiếc. Tại sao tôi không cố gắng suy luận và phán đoán từ trước mà cứ nhất định phải chờ kết quả điều tra từ Chủ nhiệm Viên làm gì? Nếu tôi sớm đã có chuẩn bị thì lúc này có lẽ đã không phải bị động như thế này.

Nhưng dù có tự trách thế nào đi nữa thì cũng chẳng ích gì, mười mấy giây sau, tôi đã theo nhân viên hành chính kia đi vào trong phòng làm việc của Lý Tùng. Khi đó, Lý Tùng đang đứng một mình trước cửa sổ, trầm tư dõi mắt nhìn về phía xa. Nhân viên hành chính đó nhìn thoáng qua tôi một chút, rồi lại đưa mắt nhìn Lý Tùng, nói: “Bí thư Lý, phóng viên Trương đến rồi đây.”

”Ừm.” Lý Tùng xoay người lại, chậm rãi đi tới bên cạnh tôi, ân cần chìa tay ra, đồng thời vừa quan sát tôi vừa nói: “Ồ, thật không ngờ lại là một cậu trai trẻ tuổi thế này.”

Nhân viên hành chính đứng kế bên nở một nụ cười đầy ý vị, sau đó liền đóng cửa phòng lại.

Tôi vội vàng đưa cả hai tay ra bắt tay với ông ta, đồng thời tươi cười, nói: “Bí thư Lý, được phỏng vấn riêng ngài thế này thật có thể nói là phúc đức ba đời của tôi. Tôi cảm thấy ngài so với trong tưởng tượng của tôi thì còn bình dị dễ gần hơn.”

Ông ta khẽ lắc đầu vẻ hết cách.“Này chàng trai trẻ, cậu nên bớt dùng mấy trò miệng lưỡi đó đi thì hơn, phải làm sao để học được những bản lĩnh thật sự mới là điều quan trọng.”

Tôi bất giác cười trừ, đồng thời ngấm ngầm quan sát sự bố trí trong căn phòng này và tưởng tượng ra tình cảnh ông ta tự sát. Khi đó, nghĩ đến cái chết của Lý Tùng, trái tim tôi đột nhiên chấn động, nhớ ra một vấn đề vừa rồi đã bị mình bỏ sót.

Buổi sáng hôm nay trong khi phát biểu, Lý Tùng từng không chỉ một lần nhắc đến cái chết, hơn nữa lần nào cũng đều thể hiện ra sự khó chịu khá rõ ràng trong tâm lý, mà khi nhắc đến cái chết của mình, ông ta còn vô thức đặt tay lên vị trí trái tim - đây dưòng như là một hành vi nghi thức hóa nào đó. Ngay từ lúc ấy tôi đã cảm thấy đối với Lý Tùng, cái chết dường như có mang một ý nghĩa tâm lý vô cùng đặc biệt.

Vậy thì, liệu chứng trầm cảm của ông ta có liên quan gì tới khái niệm về “cái chết” không?

Khả năng này là rất lớn. Dựa theo suy đoán trước đó, hai lần chứng trầm cảm của ông ta bùng phát lần lượt là vào năm 1973 và năm 1985. Năm 1973, ông nội của ông ta bị bức hại mà chết, năm 1985, cha ông ta đột ngột qua đời vì bệnh cấp tính, trong cả hai lần chứng trầm cảm bị phát ông ta đều phải trải qua nỗi đau mất người thân. Ông nội ông ta chết do bệnh tim tái phát dưới áp lực nặng nề, Lý Tùng mỗi khi nhắc đến cái chết của bản thân thì đều vô thức đặt tay lên vị trí trái tim, giữa hai việc này liệu có tồn tại mối liên quan gì không? Cha của Lý Tùng qua đời vì bệnh cấp tính, nhưng chứng bệnh cấp tính đó rốt cuộc là gì? Phải chăng cũng là một loại bệnh tim nào đó? Việc Lý Tùng đặt tay lên vị trí trái tim của mình có ẩn chứa một ý nghĩa tâm lý như thế nào? Chuyện này thì có mối liên quan như thế nào đến khái niệm về “cái chết”?

Tôi quyết định phải bắt tay vào điều tra từ “cái chết“.

Nhân viên hành chính kia đặt hai cốc nước xuống bàn trà, đồng thời vội vã nhìn thoáng qua tôi một chút, trong ánh mắt mang đầy vẻ cảnh giác và mong chờ. Tôi lập tức ý thức được rằng anh ta có lẽ cũng là người của Tập đoàn A. Trong quá trình phỏng vấn riêng lần này, anh ta là nội ứng của tôi, nhưng đồng thời cũng là người giám sát tôi nữa. Xem ra Tập đoàn A đến giờ vẫn chưa hoàn toàn tin tưởng vào tôi.

Tôi thu nụ cười trên mặt lại, cất giọng dè dặt hỏi: “Bí thư Lý, thời gian của ngài rất quý báu, chúng ta hãy bắt đầu luôn đi, ngài xem vậy có được không?”

”Ừm.” Lý Tùng khẽ gật đầu, sau đó liền chỉ tay vào xô pha, nói: “Ngồi đi Tiểu Trương, hôm nay tôi có thể trò chuyện với cậu trong mười phút.”“Dạ, mời ngài.” Tôi cung kính đưa tay ra dấu mời, chờ ông ta ngồi xuống rồi mới dè dặt ngồi xuống đầu bên kia của xô pha, sau đó lấy ra giấy bút chuẩn bị ghi chép. “Bí thư Lý, được phỏng vấn ngài tôi thực sự rất lấy làm vinh hạnh. Tôi đã chuẩn bị sẵn mấy câu hỏi thế này, mong được nghe ý kiến của ngài.”

”Được.” Ông ta ngồi mà lưng thẳng tắp. “Tôi đang nghe đây, hãy nói câu hỏi của cậu ra đi.”

Tôi đưa mắt liếc nhìn người giám sát ở cách đó mấy mét, suy nghĩ một chút rồi mới hỏi: “Trong cuộc họp hồi sáng hôm nay, ngài từng nhắc tới một tập đoàn lợi ích đã len lỏi vào trong nội bộ Đảng. Tôi muốn hỏi ngài thế này, tập đoàn lợi ích ở đây rốt cuộc là phiếm chỉ các thế lực hủ bại trong tỉnh hay là có hàm ý ám chỉ đặc biệt nào đó?”

Lý Tùng cầm cốc nước lên, nở một nụ cười mang đầy hàm ý sâu xa. “Câu hỏi này thoạt nghe thì sắc bén, kỳ thực lại rất thiếu suy nghĩ. Tôi đã từng làm công tác kiểm tra kỷ luật ở rất nhiều địa phương cấp huyện, cậu biết không, chỉ trong một vụ án tham nhũng ở một huyện lị nhỏ thôi mà khi điều tra xử lý cũng có thể lôi ra rất nhiều người, rất nhiều ban ngành, thậm chí là rất nhiều hệ thống có liên quan. Cậu thử nghĩ xem, một tỉnh là khái niệm như thế nào đây? Khi việc tham nhũng, hủ bại đã tồn tại trong thời gian dài, vậy thì không thể chỉ đơn thuần tập trung trong một khu vực nhỏ được, mà sẽ hình thành nên một hệ thống riêng của nó. Cho nên, nếu cậu hỏi rằng tập đoàn lợi ích này có phải là phiếm chỉ các thế lực hủ bại trong tỉnh hay không, câu trả lời của tôi là khẳng định, vì muốn chống hủ bại thì phải bắt hết cả cá lớn lẫn cá bé. Nhưng cùng với đó, muốn hình thành hệ thống thì trước tiên cần phải có nòng cốt, bọn khỉ vượn thường thích nấp trên cây cổ thụ, để tóm được bọn chúng thì phải chặt bỏ cây cổ thụ này đi, cho nên nếu cậu hỏi tôi là có hàm ý ám chỉ đặc biệt gì hay không, câu trả lời của tôi cũng vẫn là khẳng định.”

Tôi mỉm cười gật đầu, sau đó lại hỏi tiếp: “Chẳng hay ngài có thể tiết lộ một số chi tiết cụ thể về cây cổ thụ đó không?”

Ông ta uống một ngụm nước, sau đó vừa đặt cốc nước xuống vừa nói: “Trong một cuộc họp hồi đầu tháng tôi đã từng nói rồi, tình hình ở tỉnh nhà có hơi đặc biệt, giới thương nghiệp không chỉ chủ động tấn công vào chính giới, hơn nữa còn chiếm địa vị chủ đạo trong hệ thống tham nhũng, hủ bại. Gốc rễ của cây cổ thụ đó không hề nằm ở trong đảng. Cậu muốn tìm hiểu về chi tiết trong chuyện này, vậy thì đây chính là câu trả lời của tôi.”

Tôi khẽ gật đầu. “Nói vậy tức là cây cổ thụ đó chính là một xí nghiệp cỡ lớn nào đó trong tỉnh rồi.”

Lý Tùng chỉ cười mà không nói gì.

Tôi cho rằng thời cơ đã chín muồi, thế là sau khi trầm tư một lát liền quyết định bắt đầu thăm dò: “Nghe xong lời phát biểu của ngài trong cuộc họp hồi sáng, tôi thực sự rất cảm động, hơn nữa cũng vô cùng chấn động, tin rằng rất nhiều người có mặt tại đó cũng đều có cảm giác như tôi. Điều khiến tôi có ấn tượng sâu sắc nhất là những lời tuyên ngôn dũng cảm của ngài với thế lực hủ bại, tôi muốn hỏi rằng bọn họ thực sự gan lớn tày trời, dám trắng trợn uy hiếp là sẽ giết chết ngài ư?”

”Đúng vậy.” Lý Tùng vô thức đưa tay lên sờ ngực một chút. “Gần như mỗi ngày tôi đều nhận được thư nặc danh hoặc là điện thoại nặc danh, những ví dụ mà tôi đã liệt kê ra trong cuộc họp vẫn còn là nhẹ đấy.” Ông ta nở một nụ cười vẻ hết cách. “Có một số lời dọa dẫm và nhục mạ thực sự khó nghe vô cùng, người bình thường sợ là không chịu đựng nổi đâu.” Tôi thở dài một hơi, sau đó lại hỏi tiếp: “Ngài có thể nói ra cảm nhận của mình khi đối mặt với những lời uy hiếp và nhục mạ đó không?” Ông ta đột nhiên nheo mắt lại, đôi hàng lông mày nhăn tít, cùng với đó còn dùng tay phải ấn lên gáy, một giây sau mới khôi phục lại trạng thái tự nhiên. Trong quá trình buông tay xuống, ông ta còn để bàn tay dừng lại ở vị trí trái tim khoảng nửa giây.

”Cảm nhận ư?” Ông ta dừng lại một chút rồi mới nói:

”Bản thân tôi thì không thấy có chút phẫn nộ hay sợ hãi nào, nhưng tôi có thể cảm nhận được rõ ràng sự sợ hãi và bất lực của bọn họ. Nếu không vì bất lực, tại sao bọn họ lại phải dốc hết tâm tư để tiến hành đả kích tôi như thế? Nếu không vì sợ hãi, tại sao bọn họ lại nói ra những lời lẽ ác độc như vậy?”

”Ngài thực sự không sợ chút nào ư?” Tôi lập tức truy hỏi. “Ngài không lo bọn họ thực sự sẽ làm ra chuyện gì quá đáng ư?” Nói tới đây, tôi đưa tay gãi đầu, đưa mắt nhìn ông ta vẻ lúng túng.

”Tất nhiên là không rồi.” Ông ta đặt tay lên vị trí trái tim, khóe miệng hơi nhếch lên để lộ một nụ cười mỉm, lông mày thì hơi cau lại. “Tôi sẽ không run sợ trước bất cứ thủ đoạn hèn hạ nào. Đảng và nhà nước chính là chỗ dựa vững chãi nhất của tôi, dù tôi có chết đi thì quyết tâm loại trừ tham nhũng, hủ bại của nhà nước cũng tuyệt đối không bao giờ dao động.” Nói xong những lời này, ông ta khẽ hắng giọng một cái, trong cổ họng dường như có thứ gì đó bị mắc lại – đây là tín hiệu của sự căng thẳng và lo lắng tiềm tàng.

“Ừm.” Tôi suy nghĩ một chút rồi nói: “Ý của tôi là tạm gác thân phận và chức vụ qua một bên không xét tới, đứng từ góc độ của một con người, lẽ nào ngài chưa từng sợ hãi ư? Theo như tôi được biết, hình như con người ai cũng sợ chết thì phải?”

Ông ta hít sâu một hơi, khẽ thở dài một tiếng không dễ gì phát giác, sau đó liền cất giọng kiên định nói: “Cậu nói vậy không sai, đã là con người thì ai cũng đều sợ chết. Nhưng tôi muốn bổ sung một câu thế này, đã là một con người, vậy thì cần phải gánh vác những sứ mệnh xã hội xứng đáng với vai trò trong xã hội của bản thân. Tôi không có gì phải sợ hãi cả.”

Khi nói ra những lời này, bàn tay của ông ta thỉnh thoảng lại đặt lên vị trí trái tim, tần suất chớp mắt rõ ràng tăng thêm không ít, hơn nữa còn xuất hiện hai lần ngẩn ngơ ngắn ngủi. Những chi tiết nhỏ này đều chứng tỏ, trong tiềm thức, ông ta kì thực không hoàn toàn đồng tình với câu trả lời này của mình. Trực giác nói cho tôi biết, trong lòng ông ta thực ra cũng có tồn tại nỗi sợ hãi đối với cái chết.

Tôi cố giữ bình tĩnh, sau mấy phen do dự liền hạ quyết tâm cất tiếng hỏi: “Bí thư Lý, ngài có từng suy nghĩ về ý nghĩa của cái chết bao giờ chưa?”

Tôi biết đây là một hành động rất mạo hiểm, bởi câu hỏi này mang hàm ý xúc phạm khá rõ ràng, nếu không thể đánh động nội tâm của Lý Tùng, ông ta ắt sẽ nảy sinh sự hoài nghi, cảnh giác, thậm chí là phản cảm. Nhưng hành động mạo hiểm này rất đáng để thử một phen. Tôi tin rằng đối với Lý Tùng, cái chết nhất định là có một ý nghĩa tâm lý đặc biệt nào đó, câu hỏi này nhất định sẽ có thế khiến tiềm thức của ông ta nảy sinh sự đồng cảm. Mà một khi tiềm thức đã nảy sinh sự đồng cảm rồi, tự nơi đáy lòng ông ta sẽ sinh ra cảm giác thân thiết đối với tôi, từ đó liền coi tôi như là tri âm vậy. Với nền tảng này, tôi sẽ có thể tiến hành tìm hiểu sâu hơn về tâm lý của ông ta, thậm chí là trực tiếp tác động để khiến ông ta tự sát.

Hỏi xong câu hỏi này, tôi đưa mắt liếc nhìn nhân viên hành chính đang đứng một bên kia. Anh ta nhìn lại tôi một chút, sau đó liền ngoảnh đầu qua nhìn chằm chằm vào Lý Tùng, từng sợi cơ trên mặt đều trở nên căng cứng.

Khi đó, Lý Tùng nhanh chóng cúi đầu xuống, đôi hàng lông mày nhíu chặt, liên tục chớp mắt mấy lần, hơi thở cũng đột nhiên trở nên nhẹ bẫng, hiển nhiên là đã rơi vào trong một trạng thái suy tư đầy bức bối. Một lát sau, ông ta uống một ngụm nước, thân thể bỗng trở nên cứng đờ trong vòng một giây, thiếu chút nữa thì đánh rơi cốc nước trong tay xuống đất.

”Anh Trương.” Nhân viên hành chính kia lập tức quát khẽ. “Xin hãy chú ý tới ngôn từ của mình! Đây là một cuộc phòng vấn về công việc, anh hỏi kiểu gì vậy?”

Tôi hiểu là anh ta đang giải vây giúp tôi, thế là vội vàng đưa tay gãi đầu, cười trừ nói: “Úi chao, Bí thư Lý, thật có lỗi quá, vừa rồi tôi lỡ lời, mong ngài đừng trách! Thường ngày tôi vốn hay nghĩ đến những vấn đề triết học, hôm nay mới lần đầu tiên được gặp một nhân vật lớn như ngài, thành ra căng thẳng quá, thế nên...”

”Không sao.” Lý Tùng rốt cuộc cũng đã tỉnh táo trở lại, liền đặt chiếc cốc xuống bàn trà, khẽ xua tay nói, sắc mặt cũng nhanh chóng dãn hẳn ra vẻ thư thái. “Thật không ngờ cậu hãy còn trẻ như vậy mà đã bắt đầu suy nghĩ về những vấn đề triết học nặng nề đến thế. Tôi có thể trả lời câu hỏi này của cậu. Thực sự thì trong cuộc đời này tôi đã phải trải qua quá nhiều cái chết, do đó thường xuyên suy nghĩ về ý nghĩa của cải chết đối với con người. Chính vì như thế nên tôi sớm đã hiểu được một điều, đó là cần phải sống sao cho có ý nghĩa, vậy thì cái chết mới có ý nghĩa. Cho nên, vẫn là câu nói vừa rồi thôi, đối mặt với các thế lực hủ bại, tôi không có gì phải sợ hãi cả.”

Khi nói ra những lời này, ông ta không chỉ một lần đặt tay lên vị trí trái tim.

Tôi gật đầu lia lịa, tiếp tục dẫn dắt: “Tôi thì chưa từng có trải nghiệm gì cả, chỉ suy nghĩ vu vơ mà thôi, lời của ngài thực sự đã khiến tôi thu được rất nhiều lợi ích. Tôi nhất định sẽ ghi nhớ kĩ những lời dạy này, sống sao cho có ý nghĩa, để cho cái chết...” Tôi cố ý dừng lại một chút, sau đó mới nói giọng nhấn mạnh: “Để cho cái chết cũng trở nên có ý nghĩa.”

Trong quãng thời gian ba, bốn giây sau đó, Lý Tùng một mực cúi đầu, thân thể trở nên cứng đờ như khúc gỗ, hơi thở thì rất chậm rãi và nhẹ nhàng, hai mắt lộ vẻ ngẩn ngơ, những biểu hiện này đều chứng tỏ ông ta đang đi sâu vào suy nghĩ. Thế rồi ông ta đột nhiên tỉnh táo trở lại, tay phải đặt trên đùi chậm rãi xoa bóp, hơi thở khi thì nhẹ nhàng, khi lại dồn dập, đây là tín hiệu rõ ràng cho thấy sự bức bối trong tâm lý.

Lý Tùng thích suy nghĩ về ý nghĩa của cái chết, vậy nhưng việc suy nghĩ này lại khiến ông ta cảm thấy bức bối, đây chính là một trong các ý nghĩa tâm lý của “cái chết” đối với ông ta.

Tuy lần thăm dò này hoàn toàn được tiến hành trên cơ sở phán đoán, vậy nhưng rất may là sự mạo hiểm của tôi đã thành công. Tiếp theo đó, chỉ cần công tác chuẩn bị được tiến hành thuận lợi là trong lần gặp mặt sau tôi sẽ có thể thăm dò Lý Tùng lần cuối và bắt đầu thực hiện việc tác động vào tâm lý của ông ta.

Sau khi cuộc phỏng vấn kết thúc, tôi lập tức liên lạc với Chủ nhiệm Viên, bảo ông ta dừng tất cả các cô việc điều tra lại, nhanh chóng tìm cho ra bác sĩ tâm lý của Lý Tùng và mua chuộc đối phương. Hiệu suất làm việc của Chủ nhiệm Viên quả thực rất cao, ngay tám giờ tối ông ta đã gọi điện cho tôi, nói là đã mua chuộc được bác sĩ kia rồi, mà Lý Tùng cũng đã nghe theo lời đề nghị, bắt đầu dừng dùng thuốc ngay trong tối hôm đó.

Tôi biết là tập đoàn A có cài người bên cạnh Lý Tùng, thế là bèn hỏi về người giám sát đã ở bên cạnh tôi và Lý Tùng trong suốt cuộc phỏng vấn hôm nay. Chủ nhiệm Viên cười nói: “ Đúng là không giấu được cậu chuyện gì. Có điều mục đích của chúng tôi không phải là giám sát cậu, mà là giúp đỡ cậu khi cần. Người đó tên là Đường Bác Hiên, đã làm việc ở ủy ban Kiểm tra Kỷ luật mười mấy năm rồi mà vẫn chẳng thể ngóc đầu lên được, lần này tập đoàn phải mất rất nhiều công sức mới bố trí được anh ta tới bên cạnh Lý Tùng làm tai mắt, cậu có thể hoàn toàn tin tưởng anh ta. Phải rồi, Đường Bác Hiên còn nói cho tôi biết, chiều nay Lý Tùng từng không chỉ một lần nhắc tới cậu, hình như còn rất tán thưởng cậu nữa, xem ra thu hoạch của cậu trong lần gặp mặt này không nhỏ chút nào.”

”Đúng vậy.” Tôi nói. “Tiếp theo đây chỉ cần sắp xếp thêm một lần gặp mặt nữa là đủ rồi. Có điều tôi có một yêu cầu thế này, nhất định phải để tôi và Lý Tùng gặp riêng nhau với tư cách cá nhân, điều này thì cần Đường Bác Hiên phải cố gắng nghĩ cách mới được.”

”Chuyện này thì cậu không cần lo lắng.” Chủ nhiệm Viên nói: “Chắc cậu cũng biết chuyện về bà xã của Lý Tùng rồi chứ? Bà ta sắp không cầm cự được nữa rồi, gần đây vẫn luôn ở trong Bệnh viện Nhân dân số 1 của thành phố. Quãng thời gian này, Lý Tùng dù bận rộn thế nào thì mỗi tối cũng đều đến bệnh viện bầu bạn với bà ta một lát. Cấp trên đã có sắp xếp rồi, bắt đầu từ hôm nay tới đầu tháng Tám, sau sáu giờ tối mỗi ngày sẽ không có bất cứ ai đến bệnh viện thăm nom người bệnh cả. Chỉ cần cậu cảm thấy thời cơ đã chín muồi thì có thể chọn lấy một buổi tối bất kỳ và lấy danh nghĩa đi thăm bệnh để tới bệnh viện, sau đó chắc chắn sẽ gặp được Lý Tùng. Đương nhiên, Đường Bác Hiên cũng sẽ toàn lực phối hợp với cậu, cậu có yêu cầu gì thì cứ việc nói với tôi, tôi sẽ nghiêm túc dặn dò anh ta.”

”Tôi quả thực có một nhiệm vụ quan trọng muốn giao cho anh ta đây.” Tôi nói. “Bắt đầu từ sáng ngày mai, ông hãy bảo anh ta cứ cách ba giờ lại báo cho tôi biết trạng thái tinh thần của Lý Tùng một lần, trong đó bao gồm cả tâm trạng, sinh lực, khả năng ghi nhớ, khả năng phân tích, mỗi một mục đều phải có sự miêu tả chi tiết kèm theo. Tôi nhất định phải nắm được trạng thái tinh thần của Lý Tùng và tiến hành phân tích, vậy thì mới có thể tìm ra thời cơ tốt nhất để bắt đầu tác động vào tâm lý của ông ta.”

”Tôi hiểu rồi.” Chủ nhiệm Viên nói những lời cuối cùng bằng giọng nhấn mạnh: “Chuyện này vô cùng quan trọng, nhất định phải thành công. Sau khi mọi việc xong xuôi, tiền sẽ lập tức được chuyển đến tài khoản của cậu. Những người mà trước đây từng ức hiếp cậu, làm nhục cậu, tập đoàn cũng sẽ giúp cậu giải quyết luôn, không cần cậu phải tự mình ra tay làm gì cả.”

Những người từng ức hiếp tôi, làm nhục tôi... Khi nghĩ tới câu nói này, một chuỗi những thông tin vừa hỗn loạn vừa xa lạ bỗng tràn vào trong ý thức của tôi từ khu vực bên rìa tiềm thức. Sau nháy mắt tôi đã có được một sự nhận thức rõ ràng hơn về quá khứ của mình.
 

Bình luận facebook

Top Bottom