Full Cảnh Thịnh Đế tân truyện

Phong Lưu

Try My Best
Bài viết
251,631
Reaction score
643
Points
278
Chương 65: Xuất quân Bắc chinh
Tin đại thắng năm mươi vạn quân Thanh nhanh chóng lan ra trên toàn cõi Việt Nam. Các tờ báo lớn đăng tải những tựa đề rất kêu như “Mười bảy năm, hai lần đại phá quân Thanh” hay “Tự hào con cháu Lạc Hồng”. Phải nói, đây là lần đầu tiên trong lịch sử, một triều đại phương Bắc xâm chiếm nước Việt những hai lần và cả hai lần đều là thảm bại. Một sự trùng hợp ngẫu nhiên nữa, năm xưa, vua Quang Trung đại thắng quân Thanh dưới triều Càn Long. Lần này, con của vua Quang Trung là Quang Toản lại làm con vua Càn Long là Gia Khánh phải mất mặt.

Phải nói, tin tức đại thắng này đã làm nức lòng hàng triệu con tim người dân đất Việt. Đi đến đâu, người ta đều nghe bàn luận sôi nổi. Nào là Việt Nam nay đã khác, nào là Việt Nam đã thực sự trở thành một quốc gia, nào là Việt Nam đã có thể đứng trên đôi chân của mình. Lại có một đề tài khác, mang hơi hướm của lòng tin tuyệt đối vào bản lĩnh và sức mạnh quân sự của nước nhà. Có người nói, Việt Nam đã có đủ sức mạnh để làm khiếp sợ bất cứ kẻ nào muốn xâm lược. Có người còn bạo dạn hơn, họ dám cược với nhau, liệu Việt Nam có đem quân đi đánh nhà Thanh, để rửa hận cho bao nhiêu thế hệ hay không. Và nếu có thì đó là khi nào.

Và có vẻ như triều đình muốn đáp ứng mọi ước muốn của người dân khi mà tờ Dân Việt, tờ báo và cũng là cơ quan phát ngôn chính của triều đình đăng một bài báo. Không, phải nói chính xác là hai bài mới đúng. Một bài có tựa “Chiến thư gửi Đại Thanh triều”, bài kia có tựa “Nước Anh Cát Lợi tuyên chiến Đại Thanh”.

Báo ra ngày 3 tháng 12 năm 1806. Bài đầu tiên có đăng tải đoạn trích chiếu thư Toản gửi toàn dân. Chiếu viết:

“Đất nước Việt Nam vốn dành cho người dân Việt. Dân tộc ta cũng là dân tộc yêu hòa bình. Mấy mươi năm qua, đất nước chìm trong nội chiến. Biết bao gia đình phải ly tán, biết bao người vợ phải xa chồng, người con phải xa cha. Đất nước trì trệ, dân chúng cơ hàn, đói khổ. Nay dân chúng mới được nghỉ ngơi và vui sống được mấy năm. Thế mà, người phương Bắc lại không có giờ phút nào lại không dòm ngó non sông ta. Nhớ ngày trước, Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem ba mươi vạn quân sang xâm lấn và bị Tiên đế đánh bại. Đời cha đã vậy, nay lại đến lượt Gia Khánh nhân lúc Trẫm mang trọng bệnh mà thừa cơ giày xéo non sông ta. Điều này thực sự là quá thể. Tuy chúng ta lại một lần nữa đánh đuổi chúng đi nhưng Trẫm không dám đảm bảo rằng đời con cháu chúng ta liệu có còn bị chúng lăm le chiếm đất, giết người nữa hay không. Bởi thế nên, Trẫm quyết định, ngày 5 tháng 12 sắp tới sẽ cất quân thảo phạt chúng. Trẫm làm thế này không bởi vì hiếu chiến, cũng không phải vì ham muốn danh vọng, quyền lực. Trẫm chỉ muốn cho chúng biết, nếu còn có ý đồ với Việt Nam, người dân Việt dù nhỏ bé vẫn sẽ cho chúng ôm hận nghìn thu”.

Bài báo còn cho hay, Toản sẽ chỉ phái đi hai quân đoàn với quân số không quá chín vạn người. Chính điều này cũng gây ra một trận tranh luận gay gắt trong dân. Có người nói chín vạn là con số vô cùng nhỏ so với hàng trăm vạn đại quân của nhà Thanh. Cũng có người nói, với ưu thế về hỏa lực, chín vạn con người đó thừa khả năng khiến người phương Bắc ôm hận. Lại có người còn cho rằng, con số chín vạn ấy chỉ là bề nổi, có lẽ số người tham chiến còn lớn hơn nhiều. Chung quy, tranh luận thì có, ấy mà lạ kỳ là không có một người dân nào phản đối. Dẫu biết có chiến tranh tức là sẽ có người nằm xuống nhưng người người, nhà nhà đều ủng hộ. Đã bao đời nay, ngoại trừ danh tướng Lý Thường Kiệt năm xưa, chưa có một triều đại hay vị vua nào lại dám tuyên chiến với người Trung Quốc. Có người còn tự góp tiền, góp của cho quân đội hay xung phong vào quân ngũ, những mong được một lần giết giặc.

Bài báo thứ hai lại là bài phỏng vấn Ngài Đại sứ đặc mệnh toàn quyền, tướng quân Mã Kim Đa. Ông nói, Việt Nam có mối quan hệ chiến lược với Anh Cát Lợi. Nếu như Việt Nam gặp phải bất cứ vấn đề gì thì quyền lợi của nước ông cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Chưa hết, mối bang giao giữa hai nước không chỉ đơn giản là bang giao. Kể từ ngày Chinh Tây Vương Nguyễn Quang Bàn cưới công chúa nước Anh là Sophia thì nhân dân hai nước đã là anh em. Thế mà Đại Thanh lại dám đem quân xâm lược Việt Nam. Làm như vậy cũng chẳng khác nào Hoàng đế Gia Khánh tuyên chiến với Anh Cát Lợi. Ông còn nói, kể từ năm ngày trước, hải quân nước Anh Cát Lợi lên đường trừng phạt người phương Bắc.

Như vậy, không còn người dân nào lo lắng đoàn quân Việt Nam sẽ chiến bại nữa. Nhà Thanh giờ đây sẽ phải hứng chịu cơn thịnh nộ của nhà vua trẻ Quang Toản cùng nước Anh Cát Lợi hùng mạnh từ hai hướng. Không khéo, họ lại còn phải chịu tổn thất không nhỏ khi mà các thế lực “Phản Thanh Phục Minh” như Thiên Địa hội trong nước đứng lên lật đổ. Đất nước Trung Hoa giờ đây nguy trong sớm tối.

Cùng ngày hai bài báo đó được phát hành, Gia Khánh cũng mở một cuộc họp quân cơ. Trái với không khí cuồng nhiệt và đầy hứng khởi ở Việt Nam, triều thần Đại Thanh mấy ngày nay chìm sâu trong sầu muộn. Bá quan không có ngày nào lại không phải chịu cơn giận của Gia Khánh. Cũng phải thôi, suốt năm ngày nay, họ phải hứng chịu nhiều đợt tấn công của Hải quân Hoàng Gia Anh Cát Lợi. Lần lượt đảo Hải Nam rồi Đài Loan rơi vào tay Anh Cát Lợi. Hiện tại, Hồng Kông cũng đang bị uy hiếp.

Cũng như mọi ngày, Gia Khánh đập bàn, giận dữ hỏi:

- Các Khanh làm việc kiểu gì mà cho đến bây giờ vẫn không hiểu tại sao người Anh Cát Lợi vô lý gây sự thế hả? Quân Anh Cát Lợi giờ này đang đe dọa Hồng Kông. Họ có chưa đến một trăm chiến thuyền trong khi ta có đến hàng nghìn chiếc vẫn không chặn được bước tiến của họ, lại tổn thất hơn năm trăm chiếc là sao?

Trước câu hỏi của Hoàng đế, mấy vị Quân cơ đại thần lạnh ngắt cả chân tay, không ai dám đứng ra trả lời. Lời của Gia Khánh đúng quá còn gì. Sở hữu cả mấy nghìn chiến thuyền vẫn không thể chống lại đoàn thuyền chưa đến một trăm chiếc của người ta. Ấy là còn nói hơi quá, Gia Khánh đã bị chính bề tôi của mình che mắt khi mà thực tế người Anh Cát Lợi chỉ có bốn mươi chiến thuyền và hai mươi chiếc thuyền chở lính đổ bộ. Vậy mà họ lại dám tâu lên đối phương có những một trăm chiếc.

Một lúc sau, Chu Khuê vốn là Thừa tướng trong triều bước ra, nói:

- Khởi bẩm Hoàng thượng. Thần đã tra ra nguyên do họ đem binh đánh ta.

- Nói! – Gia Khánh gằn giọng nói ra chỉ một từ.

- Khởi bẩm. Đám man di An Nam và Anh Cát Lợi vốn có mối quan hệ bang giao khắng khít. Nay chúng ta thảo phạt An Nam chính là đang đụng chạm đến lợi ích Anh Cát Lợi. Họ nói rằng họ có nghĩa vụ bảo vệ đồng minh nên đánh ta. Đây là kế vây Nguỵ cứu Triệu, buộc chúng ta rút quân ở An Nam về.

- Ý Khanh nói Trẫm quyết định thảo phạt An Nam là sai hay sao?

- Thần không dám. Thảo phạt An Nam là việc phải làm. Chỉ là chúng ta tính sót mối quan hệ của chúng với người Anh Cát Lợi.

Nghe vậy, Gia Khánh ra chiều suy nghĩ. Lát sau ông ta hỏi Chu Khuê:

- Vậy ý Khanh là trước chúng ta rút quân ở An Nam, sau lại hoà đàn với người Anh Cát Lợi à?

- Khởi bẩm. Không thể. Chúng ta không rút binh về. Có câu “không có bằng hữu mãi mãi, chỉ có lợi ích là vĩnh cửu”. Bang giao giữa họ bởi vì lý do nào khác ngoài lợi ích. Trước, chúng ta nên phái ra một người thủ vững biên giới trên biển. Sau, ta lại phái một người có tài hùng biện đến nói chuyện với người Anh Cát Lợi. Chúng ta sẽ cho họ biết Đại Thanh vốn là nước lớn, hợp tác với ta đương nhiên có nhiều lợi ích hơn là đám An Nam kia. Thần tin là họ biết cân nhắc nặng nhẹ mà quay đầu mũi giáo, cùng ta tấn công An Nam.

- Thần đồng ý với Thừa tướng – Binh bộ Thượng thư Khánh Quế nói. – Chúng ta không thể tha đám An Nam kia được.

Ngẫm nghĩ hồi lâu, Gia Khánh lại hỏi:

- Vậy theo các khanh, Trẫm sẽ phái ai đi làm hai việc này?

- Thần đề cử Thuỷ sư Đô đốc Quảng Đông Hoắc Nhĩ Thái đảm nhiệm việc phòng thủ. Còn thuyết khách, thứ lỗi thần ngu muội, chưa nghĩ ra người thích hợp – Khánh Quế đáp.

- Thần đề cử Thập nhất Bối lặc Hạo Mân làm thuyết khách, trợ tá là Đại học sĩ Lưu Dong – Chu Khuê nói.

- Hoắc Nhĩ Thái thì Trẫm tin tưởng, còn Hạo Mân, Trẫm e nó không thể làm thuyết khách được.

- Hoàng thượng chớ lo – Chu Khuê lại nói. – Bối Lặc là người văn võ song toàn, lại có thầy dạy là Lưu Đại học sĩ đi cùng thì tỷ lệ thành công là rất lớn.

Vẻ mặt Gia Khánh lúc này cũng dãn ra đôi chút. Về mặt Thập nhất Bối lặc Hạo Mân con mình, ông ta quả là không thật yên tâm khi y vẫn còn quá trẻ. Song, có Lưu Đại học sĩ đi cùng thì mọi việc có thể sẽ thuận lợi hơn. Cuối cùng ông ta cũng đồng ý với hai vị đại thần.

Vậy là ngay hôm sau, Thuỷ sư Đô đốc Quảng Đông Hoắc Nhĩ Thái được phong làm Thuỷ sư Đại Đô đốc, chỉ huy một nghìn hai trăm chiến thuyền, rải đều vùng biển Quảng Đông để phòng thủ, phần Hồng Kông thì bỏ mặc cho đối phương. Thập nhất Bối lặc Hạo Mân lại được phong làm An Định Vương, cùng Đại học sĩ Lưu Dong đảm nhận vai trò hoà đàm cùng người Anh Cát Lợi.

Quả thật, suy tính của quân thần Đại Thanh là đúng. Nhưng đó là nếu việc hôm nay rơi vào mấy mươi năm trước, thời Hoàng đế Càn Long trị vì thì còn có thể áp dụng. Thời đó, Đại Thanh quả là một nước lớn mạnh, hùng cường. Song, ngày nay, trải bao sóng gió trong lịch sử, thời đại huy hoàng đó đã dần đi vào lụn bại, kinh tế trì trệ, quân lực suy yếu. Chưa hết, Việt Nam ngày nay đã phát triển hết sức bền vững, quân đội tuy nhỏ nhưng lại có sức mạnh cực lớn. Nếu xét đến việc người Anh Cát Lợi chọn bên nào để hợp tác thì không cần suy nghĩ cũng có thể đoán được. Vậy thì có lẽ chuyến đi này của Hạo Mân cũng là vô ích.
 

Phong Lưu

Try My Best
Bài viết
251,631
Reaction score
643
Points
278
Chương 66: Rúng động Thanh triều
Sáng sớm hôm sau, khi mặt trời vừa ló dạng, Hải quân Hoàng gia Anh Cát Lợi lại tiếp tục phát động một cuộc tấn công mới vào xứ Cảng Thơm. Một điều làm đạo quân viễn chinh thấy khá bất ngờ là họ hầu như không gặp phải sự kháng cự nào đáng kể. Chỉ huy hải đội là viên đại tá Thomas Simon. Đó là một người đàn ông cao to với làn da đen sạm, đặc trưng của những người dành phần lớn thời gian của mình lênh đênh trên biển cả.

Càng ngạc nhiên hơn khi mà Simon và mấy viên sĩ quan lại được chào đón trên đảo này. Những người dân hiền lành nhìn họ với ánh mắt đầy thiện cảm. Hỏi ra mới biết, thì ra mặc dù Hồng Kông xưa nay vẫn thuộc Đại Thanh nhưng mấy khi được triều đình quan tâm tới. Đa số dân cư hành nghề đánh cá. Đất đai ở đây thuộc dạng đồi núi, khó có thể trồng được các loài cây lương thực. Ấy vậy mà cũng chẳng thấy triều đình chủ động trong việc tiếp tế bao giờ. Để lo cho cái ăn của mình, người dân chỉ còn hai cách. Một là họ cập cảng Quảng Châu để bán con cá, con tôm mình mới đánh bắt được và mua về mớ rau, nắm gạo. Thứ hai, khác với đại lục, các thương nhân thường xuyên ghé lại buôn bán, đó cũng chính là kế sinh nhai của người dân.

Cũng bởi như thế mà trong lòng mỗi người dân nơi đây, họ không muốn làm một phần của Đại Thanh nữa. Nhân người Anh Cát Lợi tiến chiếm, họ lại mở cửa chào đón. Sự kháng cự mấy ngày trước chẳng qua là của thủy quân Quảng Đông. Có thể nói, việc người Anh Cát Lợi chiếm Hồng Kông cũng chính là cứu cánh cho những người dân hiền lành nơi đây.

Đặt chân lên cảng, dạo bước trên những con đường, Simon đã định hình được tương lai của hòn đảo mang tên Hồng Kông này nếu nó nằm dưới sự quản lý của Vương quốc Anh Cát Lợi. Ông nhanh chóng tìm đến dinh thự vốn dùng làm trung tâm quản lý của cả vùng. Đó là một quần thể dinh thự mang đậm nét kiến trúc “Tứ hợp viện” đặc trưng của Trung Quốc.

Bước chân vào đây, Simon được tiếp đón bởi ba người đàn ông, hai người còn khá trẻ, người kia thì lớn tuổi hơn và lưng hơi bị gù. Người thanh niên trẻ mở lời:

- Xin chào, có lẽ ông là người chỉ huy cao nhất của hải đội nước Anh Cát Lợi. Chúng tôi chờ ông ở đây đã lâu rồi.

- Các ngài là… – Simon hỏi.

- Đây là An Định Vương Hạo Mân, còn đây là Lưu Dung, Lưu Đại học sĩ. Tôi là Đổng Các, người sẽ phiên dịch cho hai vị đại nhân.

- Xin chào, tôi là Đại tá Thomas Simon, chỉ huy phó Hải đội Hoàng gia số mười bảy, dưới quyền của Đô Đốc Mark Downing.

Thông qua người phiên dịch Đổng Các, Hạo Mân hỏi Simon:

- Vậy ông cho ta hỏi, Mã Đại nhân hiện thời có mặt ở đây hay không? Và ông có quyền định đoạt mọi sự thay ngài ấy hay không?

- Đô đốc hiện đang giữ vai trò Tổng Lãnh sự Hoàng gia tại Việt Nam. Ông ấy đang ở Phú Xuân. Tôi có thể định đoạt mọi sự. Tuy nhiên…

Simon trả lời, bỏ lại một câu nói lấp lửng làm cho mấy người đối diện cảm thấy ngạc nhiên. Hạo mân hỏi:

- Tuy nhiên thế nào? Xin ngài hãy nói rõ.

- Ý tôi là các ngài chờ tôi ở đây là vì mục đích gì?

- Giao dịch – Hạo Mân nói. – Ta muốn cùng ông làm một giao dịch.

- Giao dịch? Giữa chúng ta có gì mà giao dịch. Và cũng xin các ngài cũng đừng quên, đất này nay đã thuộc về quyền quản lý của Hoàng gia Anh. Các ngài nên hiểu và chú ý thái độ của mình.

Đổng Các bỗng nhiên thấy khó xử khi phiên dịch lại câu này. Cuối cùng, anh ta nói lại với Hạo Mân và Lưu Dong:

- Ngài ấy nói Vương gia muốn giao dịch gì với người Anh Cát Lợi.

Rõ ràng là Đổng Các sợ rằng Hạo Mân sẽ nổi giận khi dịch lại nguyên văn. Bởi vậy, không có gì khó hiểu khi mà Hạo Mân vẫn giữ thái độ cao cao tại thượng cố hữu:

- Ta muốn các ông từ bỏ An Nam và hợp tác với Đại Thanh triều.

Chưa đợi Đổng Các phiên dịch, Simon gằn giọng với vẻ giận dữ:

- Tôi nhắc lại, các ngài phải chú ý thái độ của mình. Đây không phải là tư thế của kẻ bại trận.

Thấy vẻ mặt cùng giọng nói hậm hực của người sĩ quan cao cấp Anh Cát Lợi, Hạo Mân tỏ vẻ không hiểu và khó chịu. Trong khi đó, Lưu Dong cảm thấy có gì đó không ổn, ông hỏi Đổng Các:

- Phải chăng ngươi phiên dịch có gì sai mà ngài ấy giận dữ thế này? Còn không mau nói lại cho đúng.

Đổng Các run rẩy rồi hướng Hạo Mân mà quỳ sụp xuống. Y bất đắc dĩ nói mình không dám dịch nguyên văn câu nói trước đó vì sợ hai người, nhất là Hạo Mân nổi giận. Đoạn, y ấp úng dịch lại nguyên văn câu nói trước đó sau khi Lưu Dong bảo.

Lúc này Hạo Mân muốn phát tác. Song, Lưu Dong đã kịp thời cản lại. Ông nói:

- Vương gia, xin bớt nóng giận mà hư đại sự. Để thần nói với y vài câu.

Nói rồi ông quay sang Simon:

- Xin ngài thứ lỗi. Chúng tôi ở đây là có thành ý cùng quý quốc bàn chuyện hợp tác.

- Nếu muốn nói hợp tác thì trước tiên, các ngài hãy bỏ thái độ đó đi. Chưa hết, hãy bước xuống, các ngài không có quyền ngồi trên cao mà nói chuyện với tôi. Nhắc lại, nơi đây không còn là đất của các ngài nữa. Nếu muốn, tôi có thể cho người bắt lấy các ngài mà không cần hỏi nguyên do.

Nghe lời phiên dịch, giữa ba người nhà Thanh lại nói chuyện xì xào. Cuối cùng, Hạo Mân đành nhượng bộ mà hạ thấp tư thế, bước xuống đứng ngang hàng với Simon. Lưu Dong lại hỏi:

- Chúng tôi như thế này đã được hay chưa? Chúng ta đã có thể bàn bạc với nhau hay chưa, Sài Đại nhân

Lưu Dong nói Thomas Simon là Sài Đại nhân do biết Simon là họ của ông ta và phát âm theo tiếng Hoa là Sài, phiên âm là Xĩmẽn. Lúc này, Simon đã dịu xuống đôi phần. Ông ta cũng đồng ý nghe thử những người trước mặt muốn nói gì. Đến khi biết được mục đích của họ, ông ta cười lớn:

- Ha… ha… Các ngài nói dễ nghe nhỉ. Bảo tôi đình chiến. Nên nhớ, tôi là một quân nhân, mệnh lệnh của cấp trên trực tiếp là tối thượng. Vả lại, tôi cũng không có đủ thảm quyền để nói chuyện từ bỏ bang giao với Việt Nam mà hợp tác với các ngài. Hơn nữa…

- Hơn nữa gì? – Hạo Mân có vẻ muốn phát tác.

- Hơn nữa, Trung Quốc các ông giờ chỉ là con rồng giấy còn Việt Nam mới thực là một con rồng. Nói thật với các ông. Nếu như Việt Nam muốn xâm chiếm Trung Hoa, thật không cần người Anh chúng tôi nhúng tay vào. Trong vòng chưa tới ba tháng, họ thừa khả năng càn quét đất nước các ông. Ngay cả người Anh chúng tôi cũng không dám chắc khả năng chiến thắng nếu đối đầu với họ.

- Nếu nói như đại nhân – Lưu Dong cướp lời của Hạo Mân và nói, – An Nam cũng là mối uy hiếp với quý quốc. Có câu “kẻ thù của kẻ thù chính là bạn”. Thế tại sao quý quốc lại không chấp nhận từ bỏ nước này mà kết đồng minh với chúng tôi?

- Ngài nói thế là sai rồi. Việt Nam tuy mạnh nhưng chưa phải là mối uy hiếp với chúng tôi. Nếu xảy ra chiến tranh mà nói, chúng tôi bất quá chỉ là ngang ngửa với nhau. Tuy nhiên, điều này là không thể vì chúng tôi không hề có mâu thuẫn về lợi ích và chiến tranh chẳng đem lại điều gì tốt đẹp cho cả hai phía. Chưa hết, các ngài có thể cho chúng tôi được những gì? Trong khi tất cả những gì các ngài có, chúng tôi có. Tất cả những gì chúng tôi cần, các ngài không có nhưng Việt Nam lại có. Họ còn có những gì chúng tôi cần trong tương lai nữa.

- Ngài có thể cho chúng tôi ví dụ không? – Lưu Dong lại hỏi.

- Các ngài có thứ này không? Chắc là có nhưng lại kém xa lắm.

Simon lấy ra một khẩu TSG02 và đưa đến trước mặt ba người. Họ lúc đầu bỉu môi, tỏ vẻ chúng tôi cũng có. Thế nhưng, khi cầm lấy khẩu súng, họ biết là mình đã sai lầm. Loại súng này nhà Thanh không thể nào làm được và cũng không thể nào chống lại được.

Mồ hôi Lưu Dong chợt vả ra như tắm. Ông hiểu, đừng nói là ba tháng, với loại vũ khí này cùng với tốc độ hành quân vốn đã làm nên thương hiệu của binh sĩ Việt Nam, chỉ cần chưa đến một tháng, đối phương đã có thể đánh chiếm Bắc Kinh, buộc Hoàng đế phải đầu hàng. Các địa phương khác tất cũng sụp đổ theo.

Trái ngược với Lưu Dong, Hạo Mân chỉ biết đây là một khẩu súng như bao khẩu súng khác. Nó chẳng giúp được gì nhiều. Chỉ là nó nhìn có vẻ đẹp hơn. Nhìn sang người thầy của mình, y cảm thấy ngạc nhiên khi mà ông ta đổ mồ hôi, gương mặt có vẻ bất an. Y hỏi:

- Lưu Đại nhân, thầy, thầy làm gì mà có vẻ thất thần thế? Đây chỉ là một khẩu súng tầm thường thôi mà.

- Vương gia. Ngài không thấy đây là một cây súng đặc biệt khác thường hay sao?

- Có gì mà đặc biệt? Đại nhân nói ta nghe thử.

- Vương gia không thấy nó không có bộ phận đánh lửa và không cần nhồi đạn hay sao? Những viên đạn nằm ở đây, lại có năm viên. Tức là khi ta bắn hai viên đạn, họ đã bắn được năm viên. Như vậy thì không cần phải hỏi cũng biết ưu thế trên chiến trường của nó.

Hạo Mân cuối cùng cũng không phải là người thiển cận. Y đã hiểu ra vấn đề và suy đoán:

- Như vậy, bọn An Nam có thể chỉ bằng quân số một phần năm chúng ta cũng có thể tiêu diệt sạch ta. Nói vậy… nói vậy… nói vậy…

Y nói liền ba chữ “nói vậy” xong thì im bặt. Lưu Dong gật đầu và nói:

- Đúng vậy, thần e là năm mươi vạn quân của ta đi Nam chinh lành ít dữ nhiều. Cũng có lẽ chúng ta đã đại bại và chúng đang hành quân sang đánh nước ta.

- Có lẽ vậy. Thôi chết… thế thì chúng ta phải tức tốc trở về hồi báo Phụ hoàng. Nếu không thì mọi việc sẽ vô cùng xấu.

Đoạn, lúc này y không còn tỏ ra ngạo mạn nữa. Y quay sang nói với Simon:

- Sài Đại nhân. Chúng ta đã hiểu ra nhiều vấn đề. Ta có việc, phải về Hoàng cung gấp. Xin thứ lỗi.

- Sao các ngài lại vội thế? Các ngài không hiểu tại sao tôi lại tỏ ra hào phóng khi cho các ngài xem khẩu súng này hay sao?

- Ý ngài là…

- Đúng vậy. Mời ba ngài vui lòng ở lại nơi đây. Sau khi xong việc, chúng tôi sẽ để cho các ngài đi đâu tùy thích.

Theo quan điểm Nho giáo, trong chiến tranh, hành động bức hại hai bắt giam sứ giả là điều đáng xấu hổ. Thế nhưng, đây lại là chiến tranh hiện đại, người Anh Cát Lợi cũng là những người thực dụng. Họ cần những cái cụ thể chứ không phải là lời hứa hão huyền. Và hơn hết, họ là một dân tộc cực kỳ trọng chữ tín.
Và theo sau lời của Simon, ba người nhà Thanh không còn có thể nói được gì hơn. Họ bị mấy người lính Anh Cát Lợi dẫn đi và giam lỏng ở ba căn phòng khá xa nhau ngay trong chính tòa dinh thự này. Ít ra, người Anh Cát Lợi không có xem họ như những tù phạm. Họ được xem là tù binh chiến tranh và đối xử không đến nỗi tệ.

……………

Trở lại với biên giới Việt – Trung, ngày 5 tháng 12, hai quân đoàn Việt Nam đồng loạt tiến quân qua đất nhà Thanh. Nếu như ngày trước hai lộ quân Thanh xuất phát từ đâu thì nay chúng cũng chính là hai mục tiêu đầu tiên. Có khác với lần bảo vệ đất nước vừa rồi chính là sự tham chiến của Quân đoàn hai và Quân đoàn ba. Lý do để chọn hai quân đoàn này cũng không bởi vì Toản muốn cả bốn quân đoàn dưới tay mình đều có quân công. Điều chính yếu đó là trong thời gian vừa qua, khi hai đơn vị bạn chiến đấu bảo vệ non sông, hai quân đoàn này đã cử người đi trinh sát để nắm được địa thế cũng như bố phòng của địch.

Với ưu thế về sức mạnh của vũ khí, Quân đoàn hai nhanh chóng chiếm được tỉnh Hồng Hà, thuộc hành tỉnh Vân Nam ngay trong ngày đầu xuất quân. Sau đó, lấy tốc độ nhanh nhất, trong vòng bảy ngày, họ đã chiếm được tỉnh Khúc Tĩnh, hành tỉnh Vân Nam, Bách Sách, Hà Trì, Lai Tân, Liễu Châu thuộc hành tỉnh Quảng Tây.

Cũng trong vòng năm ngày, Quân đoàn ba chia làm hai cánh quân. Cánh thứ nhất với một phần ba quân số, được hạm đội một yểm trợ, nhanh chóng chiếm Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải, Ngọc Lâm, Ngô Châu. Cánh thứ hai lại đánh lên hướng bắc, chiếm Sùng Tả, Nam Ninh, Quý Cảng rồi hội quân với cánh thứ nhất tại Ngô Châu. Hai ngày sau, họ chiếm được Hạ Châu và Quế Lâm.

Như vậy là trong vòng một tuần lễ, hai quân đoàn đã hoàn toàn chiếm được hành tỉnh Quảng Tây. Sở dĩ Việt Nam phải mất một tuần lễ để chiếm Quảng Tây vì đây là lệnh của Toản. Lẽ ra Việt Nam có thể chỉ một đường đánh đến tận Bắc Kinh, như vậy thì quả đúng như Lưu Dong đã đoán, chỉ cần chưa đến một tháng là đã đến được dưới chân thành Bắc Kinh. Anh ra lệnh cho hai quân đoàn như vậy là để đường đường chính chính nắm Quảng Tây và Quảng Đông trong tay sau này, không phải là chiếm được nhờ vào việc đàm phán sau chiến tranh.

Lại thêm bảy ngày tiếp theo, hai quân đoàn này hội họp với đoàn quân Anh Cát Lợi và chiếm được toàn bộ hành tỉnh Quảng Đông. Vậy là chỉ trong vòng mười bốn ngày, “đất cũ” của Việt Nam đã được thu hồi. Ngay hôm sau, hai đạo quân, một Việt, một Anh Cát Lợi lại tách ra. Theo đó, hai quân đoàn của Việt Nam theo đường bộ, một đường tiến thẳng về Bắc Kinh. Phần người Anh Cát Lợi, họ men theo đường biển mà đánh thốc lên.

Vậy là chỉ trong hai tuần lễ đầu của tháng mười hai, nhằm vào cuối tháng mười âm lịch, nhà Thanh đã mất hoàn toàn Lưỡng Quảng, vùng đất được xem là trù phú bậc nhất của mình. Không, phải nói là bị thu hồi mới đúng. Bởi lẽ, từ triều đại nhà Lý kéo dài về rất xa trước đó, vùng đất này chính là của người Việt. Sự tình này đã tạo nên một trận rúng động khủng khiếp cho vương triều Gia Khánh. Nó cũng châm ngòi cho các cuộc nổi dậy của Thiên Địa hội trên toàn cõi Trung Quốc.
 

Phong Lưu

Try My Best
Bài viết
251,631
Reaction score
643
Points
278
Chương 67: Dưới chân Tử Cấm Thành
Quay lại với chuyến viễn chinh của người Anh Cát Lợi. Có lẽ rất nhiều người tự hỏi vì sao họ lại không đánh chiếm Hồng Kông trước rồi mới đến Đài Loan. Họ đang toan tính gì? Một “lỗi” trong tư duy chiến lược sao? Nên nhớ rằng khoảng cách giữa hai hòn đảo này không hề gần, lại nữa, Hồng Kông nhỏ hơn Đài Loan nhiều lắm. Người thường nghĩ như vậy, Binh bộ Thượng thư Khánh Quế cũng không khác gì. Bởi vậy, vào thời điểm Thomas Simon tấn công Đài Loan, hòn đảo này gần như vô chủ. Người Anh Cát Lợi đặt chân lên hòn đảo mà hầu như không tốn một hòn tên mũi đạn nào trong khi Hồng Kông lại chật như nêm cối với cả nghìn chiến thuyền.

Simon đã đúng. Học trò của Chuẩn Đô đốc Nelson ngày xưa có khác. Cũng như Allan Smith, người Đại úy đi cùng Bàn từ Anh Quốc về Việt Nam hiện đang giữ vai trò Tham Tán Lãnh sự quán bên cạnh Chuẩn Đô đốc Mark Downing hiện tại, ông trưởng thành với những trận đánh lớn bên cạnh người tướng hải quân vĩ đại Nelson trước khi về làm chỉ huy phó cho Downing. Dùng nhãn quan chiến lược của mình, ông nhận thấy việc nắm giữ Đài Loan một cách nhanh nhất sẽ chiếm một vai trò cực kỳ quan trọng. Từ đây, ông có thể nhìn thấy mọi diễn biến trên vùng biển phía Đông Trung Hoa đại lục.

Người nhà Thanh lại một lần nữa sai lầm khi rút quân khỏi Hồng Kông, mở đường cho cuộc đàm phán với hải đội kinh khủng này. Để rồi từ đó, khi liên quân Việt – Anh hội ngộ ở Quảng Đông, toàn bộ vùng đất trù phú Lưỡng Quảng không còn nằm trong tay họ nữa. Cũng kể từ đây, trong vòng một tháng, lần lượt các hành tỉnh Phúc Kiến, Triết Giang, Giang Tô, Sơn Đông, Thiên Tân rơi vào tay người Anh Cát Lợi.

Lại nói về Việt Nam, Quân đoàn hai và Quân đoàn ba sau khi hội họp với người Anh Cát Lợi tại Quảng Đông lại tách ra làm hai. Quân đoàn hai theo hướng bắc, trong hai mươi lăm ngày đã chiếm được Hồ Nam, Hồ Bắc và Tây Hà Nam. Quân đoàn ba lại theo hướng đông bắc, đi song song với người Anh Cát Lợi. Cũng như Quân đoàn hai, trong vòng hai mươi lăm ngày, họ đã làm chủ Giang Tây, An Huy và Đông Hà Nam. Một chiến thuật cực kỳ thông minh của họ được triển khai, phương pháp cuốn chiếu. Khi hai quân đang đụng độ nhau trên chiến trường, binh sĩ Việt Nam lại dùng tên lửa của mình, một loại tên lửa được cải tiến bắn vào hậu phương quân địch, nơi mà sắp tời sẽ là chiến trường kế tiếp. Nhờ vậy, áp lực đè trên bộ binh và kỵ binh Việt Nam được giảm đi rất nhiều.

Hai quân đoàn lớn một lần nữa lại gặp mặt nhau. Một lần nữa, họ dùng thế sét đánh mà chiếm lấy Hà Bắc. Bắc Kinh bị cô lập. Nói thế nhưng cũng phải mất non một tuần lễ họ mới làm được điều này. Tám vạn quân của cả hai quân đoàn phải tốn rất nhiều công sức khi đối chiến cùng bảy mươi vạn quân Thanh. Một sự chênh lệch quá lớn về quân số. Nơi đây tập trung phần lớn binh lực còn lại của Đại Thanh. Họ nghĩ rằng với quân số nhiều gấp gần mười lần có thể áp đảo hoàn toàn những người lính đến từ phương Nam. Song, một lần nữa, họ lại rớt từ thiên đường xuống mặt đất khi mà đến ba mươi vạn quân bị tiêu diệt.

Mấu chốt của lần thất bại này đến từ những quả tên lửa mới của Việt Nam. Kích thước của chúng lần này lớn hơn nhiều và sức công phá thì vô cùng khủng khiếp. Những quả tên lửa mới cũng với hình trụ, đường kính hai mươi lăm xen ti mét, dài một mét. Nhược điểm duy nhất của nó là quá nặng. Tuy vậy, những người kỹ sư chế tạo ra nó lại khắc phục bằng cách thay đổi chất liệu, không làm bằng ống tre hay gỗ nữa. Họ dùng kim loại, một loại hợp kim làm từ nhôm và kẽm. Dàn phóng mới cũng chỉ có thể mang theo hai quả khi bắn. Tầm xa và lực sát thương thì không cần phải bàn cãi, phải nói là vô cùng khủng khiếp. Tuy vậy, người Việt cũng phải mất đi gần một nửa quân số mới dành được chiến thắng.

Trong thời gian này, Gia Khánh cũng đâu có từ bỏ. Ông ta dùng kế “vây Ngụy cứu Triệu”, đem quân từ Vân Nam đánh sang các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn những mong Việt Nam phải dừng đà tiến công. Ấy thế nhưng Quân đoàn một đóng chốt ở đây để mà làm gì. Tất cả đều nằm trong tính toán của Toản và Bộ Quốc phòng. Đó cũng chính là lý do tại sao họ lại phái Quân đoàn hai và ba đi viễn chinh. Quân đoàn một vốn là người bản địa, nhiều năm trấn thủ ở đây và cực kỳ am hiểu địa hình. Bao nhiêu lần quân Thanh công kích là bấy nhiêu lần họ phải nếm trái đắng.

Chưa hết, Toản lại phái thêm hai quân đoàn mới toanh, được đặt tên là Quân đoàn năm và sáu với phần lớn là quân dự bị tiến đến trấn thủ hai hành tỉnh mới thu được là Quảng Đông và Quảng Tây, đồng thời cũng để tiếp tế cho hai quân đoàn lớn phía trước. Chẳng thế mà Đại Thanh gần như vô vọng khi có ý định tái chiếm hai hành tỉnh này và bịt đường lui của người Việt hòng bao vây, tiêu diệt.

Ấy thế mà vận rủi dường như chưa buông tha triều thần Gia Khánh. Hồng Hoa hội với sự hậu thuẫn về tiền bạc và vũ khí của Việt Nam cũng dấy binh làm phản. Họ nhanh chóng chiếm được những vùng đất trọng yếu của nhà Thanh sau hơn một tháng rưỡi. Vùng đất mà Gia Khánh còn nắm trong tay rốt cuộc chỉ còn Liêu Ninh, Nội Mông, Sơn Tây, Thiểm Tây, Trùng Khánh, Ninh Hạ, Cam Túc, Thanh Hải, Tây Tạng, Tân Cương và một nửa Tứ Xuyên. Viễn cảnh người Mãn Châu tức cái gốc của nhà Đại Thanh bị đuổi khỏi Trung Hoa Đại lục không còn xa nữa.

Đến tận ngày 20 tháng 1 năm 1806, liên quân Việt – Anh đã hoàn toàn cô lập Bắc Kinh. Gia Khánh và triều thần không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đầu hàng. Một hội nghị được tổ chức ở Di Hòa Viên, phía tây Tử Cấm Thành. Đây là cuộc họp ba bên với Quang Bàn đại diện cho Việt Nam, Thái tử George Frederick Augustus đại diện cho Vương Quốc Anh Cát Lợi và Gia Khánh đương nhiên đại diện cho chủ nhà.

Bước vào cuộc họp, Quang Bàn nói:

- Gia Khánh Bệ hạ, ngài phải biết, không phải vô cớ mà người Việt chúng tôi phát động tấn công Đại Thanh. Dân tộc chúng tôi vốn yêu chuộng hòa bình. Chúng tôi chỉ vì tự vệ mà mới có hành động này.

- Tự vệ? Các ngài đem quân đi đánh chiếm nước của Trẫm mà nói là tự vệ ư?

- Gia Khánh! Xin ngài hãy chú ý đến việc xưng hô. Chúng ta ở đây đều là những người có thể nói là đứng đầu một nước. Đương nhiên, tôi có hơi đề cao chính mình vì người đang tại vị tại Việt Nam là em tôi, Quang Toản. Nhưng trong một chừng mực nào đó, hiện tại tôi đang là tiếng nói lớn nhất của dân tộc ngay tại đây. Và ngài Augustus đây tương lai cũng là sẽ là vua George IV của Vương Quốc Anh Cát Lợi. Ngài không thể tự xưng là Trẫm được.

Gia Khánh thoáng bối rối một lúc, lại nói:

- Được rồi. Ngài nói xem, rõ ràng các ngài đem quân viễn chinh đánh chiếm Đại Thanh mà nói là tự vệ sao? Ngài xem Trẫm… ơ… tôi là trẻ lên ba sao?

- Chúng tôi làm thế này vì hai nguyên do. Thứ nhất, tại sao các ngài đánh chiếm nước tôi được mà không cho chúng tôi phản công? Chúng tôi đánh đến tận đây là để chứng minh mình không dễ bị bắt nạt. Và để các ngài biết rằng mình không phải là bá chủ ở đây, cũng yếu ớt giống như bất cứ quốc gia nào. Và cũng để cho ngài biết, chính nghĩa đang nằm trong tay chúng tôi.

- Thế thì các ngài đã làm được. Vậy sao các ngài còn chưa rút quân? Vẫn chiếm đóng Lưỡng Quảng và các hành tỉnh vùng Đông Nam của chúng tôi? Rõ ràng lúc này, các ngài đã biến thành kẻ xâm lược.

- Ngài lại sai rồi. Đây cũng chính là nguyên do thứ hai. Chúng tôi không đánh chiếm các tỉnh Đông Nam của Đại Thanh thì sao có thể đến được đây, buộc ngài phải nói chuyện? Và việc chiếm đóng Lưỡng Quảng là lẽ đương nhiên. Bởi vì đây vốn là đất của chúng tôi từ thời Lý Thái Tổ đến rất xa trước đó. Đây là chúng tôi “đòi lại đất”. Sau cuộc hội nghị này, chúng tôi đương nhiên sẽ rút về Lưỡng Quảng, trả lại các hành tỉnh khác cho ngài.

Gia Khánh lại im lặng. Người ta nói đúng quá còn gì. Đánh Đại Thanh đúng là để chứng tỏ, hay nói đúng hơn, dân dã hơn là báo thù. Ngoài ra, đúng là trước đây Lưỡng Quảng vốn thuộc về người ta. Ngay cả người Choang đang sinh sống ở đó cũng có gốc là người Việt. Vậy thì nói được gì nữa bây giờ. Chỉ còn cách phản bác với sự chiếm đóng của bên thứ ba, người Anh Cát Lợi mà thôi. Ông ta quay sang Frederick:

- Ảo Cổ Tử các hạ – Ông ta gọi Augustus như vậy bởi phiên âm tên ông là Ào gǔ sī. – Thế thì các ngài tấn công chúng tôi vì lý do gì? Rõ là các ngài vô cớ tấn công chúng tôi.

- Ha… ha… Cũng như Việt Nam, chúng tôi có hai nguyên do. Đầu tiên, ngài xem thử các ngài đối xử với người Anh Cát Lợi mà đại diện là tập đoàn Đông Ấn Anh thế nào? Họ chỉ là thương nhân. Thế mà, các ngài đã không cho phép họ làm ăn thì cũng thôi. Đằng này, họ bị xua đuổi, bị gọi là “mọi da trắng”. Đây là điều xỉ nhục. Tiếp nữa, ngài cũng biết Việt Nam và Anh Quốc là bạn bè, là họ hàng bởi Jack đây là con rể của cha tôi, là em tôi. Các ngài dấy binh đánh chiếm Việt Nam khác nào tát vào mặt cha tôi, đánh vào danh dự và uy tín của Vương Quốc Liên Hiệp Anh?

Mặt của Gia Khánh lại đỏ bừng. Ài, người ta, ai cũng có lý do đường đường chính chính, biết nói sao đây. Hơn nữa, mình đang ở tư thế của kẻ bại trận. Người ta bất cứ lúc nào cũng có thể bắt giết. Hai người trước mặt còn cho mình cùng ngồi nói chuyện đã là việc khó thấy rồi. Người ta đâu cần phải làm thế. Rốt cuộc, ông ta không thể nào không xuống nước. Ông nói:

- Thế thì mục đích của các ngài đã đạt được rồi. Chúng tôi phải làm thế nào để các ngài bãi binh?

- Vàng – Augustus nói. – Chúng tôi thật không có ý định chiếm lấy đất này làm gì. Nhưng chiến tranh nào mà chẳng phải tốn kém tiền của. Các ngài phải tốn một số tiền để chuộc lại mỗi vùng đất của mình. Đó là điều thiết thực nhất. Chúng tôi cũng chẳng cần các ngài phải bồi thường chiến phí để làm gì. Chưa hết, chúng tôi muốn Quảng Đông, Đài Loan và Hồng Kông.

“Ha… ha… thì ra nói thế nào các người cũng chỉ cần tiền. Cái này trẫm không cần phải đắn đo. Chưa hết, lũ An Nam kia muốn chiếm Lưỡng Quảng. Thế thì tại sao trẫm không cho các người thỏa nguyện chứ. Cả hai đều thèm muốn Quảng Đông. Vậy thì cứ để các ngươi tranh giành đi. Rồi có lúc trẫm sẽ đòi lại cả vốn lẫn lời”. Gia Khánh suy nghĩ như vậy. Song, ông ta chưa kịp lên tiếng thì Augustus lại nói tiếp:

- Jack à! Cậu đừng thắc mắc tại sao anh muốn Quảng Đông. Từ ngày cậu cưới Sophia, Hoàng gia vẫn chưa có của hồi môn cho cậu đúng không? Truyền thống của Hoàng gia Anh là khi gả con gái đi, phải có một vùng đất cho đôi vợ chồng trẻ để sinh sống và gây dựng tương lai. Vậy thì cậu hãy xem đây là quà hồi môn dành cho mình.

Augustus cố tình nói lớn bằng tiếng Anh Cát Lợi. Ông ta biết chắc chắn Gia Khánh cũng nghe người phiên dịch nói lại. Quả vậy, Gia Khánh sau khi nghe thấy thì mặt mày trở nên ủ rũ. Lúc này, Bàn lại nói:

- Về phần Việt Nam, chúng tôi cũng tính thế này. Ngoài Lưỡng Quảng, các ngài cũng phải bỏ ra một số tiền để chuộc lại đất đai của mình như người Anh Cát Lợi. Số tiền này dùng để kiến thiết hai vùng đất mới. Một phần được dùng để biếu cha vợ của tôi. Thế nào?

- Ý này cũng được đó Jack. Nhưng cậu không cần phải thế đâu. Tiền từ những vùng đất kia cũng đủ rồi.

- Không anh à. Chúng ta là anh em mà, đúng không? Cha của anh cũng chính là cha của em. Hiếu kính với cha mẹ là điều nên làm.

Hai anh em, kẻ tung người hứng làm trái tim Gia Khánh như rỉ máu. Ấy là còn may khi Bàn không nhắc đến tiền chuộc thân cho Hoàng đệ Vĩnh Tuyền và con trai Hạo Mân. Lần này quả thật Đại Thanh triều đúng là thiệt hại nặng nề rồi. Bây giờ ông ta chỉ còn biết mặc cả làm sao cho mình phải trả một số tiền thấp nhất mà thôi.

Cuối cùng, về phần đất đai, Gia Khánh không thể nói được gì. Riêng về tiền chuộc, ông ta đành chấp nhận bỏ ra tám trăm ký vàng cho mỗi hành tỉnh, riêng Thiên Tân có diện tích không lớn nên xem như không tính. Vị chi, Đại Thanh phải tốn tám tấn vàng cho mười hành tỉnh và Thiên Tân. Số vàng này vốn phần nhiều phải thuộc về Việt Nam, nhưng Bàn lại nói nhượng lại một phần cho Anh Cát Lợi để mỗi bên có được bốn tấn vàng.

Sau cuộc hội nghị, một bản hiệp ước được soạn ra với những điều khoản như trên. Nó có tên là Hiệp ước Di Hòa Viên, được sao thành chín bản, mỗi bên giữ ba bản viết bằng ba thứ tiếng Anh – Hoa – Việt và chính thức có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 1806. Đó cũng chính là thời điểm mà Đại Thanh chi trả toàn bộ số vàng, đồng thời liên quân cũng rút về. Trong thời gian một tháng này, dưới sự sắp xếp của Việt Nam, Hồng Hoa hội cũng tạm dừng tấn công. Giữa Việt Nam và Thiên Địa hội lại còn có một mật ước nữa. Theo đó, Hồng Hoa hội sẽ nhận được một tấn vàng từ Việt Nam và nước Trung Hoa mới sau khi họ giành lại từ tay người Mãn Châu sẽ là đồng minh mới của Việt Nam.

Vậy là sau ba tháng, Quang Toản cùng dân tộc mình dã đòi lại vùng đất vốn đã mất vào tay người phương Bắc. Đồng thời, anh cũng đem về cho một số tiền lớn, dùng để chi cho mục tiêu phát triển đất nước. Tên gọi Việt Nam lúc này trong một thời gian ngắn đã gây ra một cơn chấn động trên toàn cầu. Tương lai hùng cường của đất nước cũng đã được khởi đầu từ đây.
 

Phong Lưu

Try My Best
Bài viết
251,631
Reaction score
643
Points
278
Chương 68: Năm năm
Ở trên đời, có những người luôn chạy theo những việc lớn lao nhưng mãi vẫn là người tầm thường. Cũng có những người làm những việc hết sức tầm thường lại trở nên vĩ đại. Lại cũng có người từ khi xuất hiện đã được định sẵn là vĩ đại rồi. Nguyễn Quang Toản cũng không nằm ngoài quy luật đó. Có thể xem anh là một người trong nhóm thứ ba. Nhưng xét cho cùng thì anh lại nằm trong nhóm thứ hai.

Anh chàng Việt kiều tuy xuất hiện trong vai trò là vua nhưng liệu anh có trở nên vĩ đại nếu không có từng bước cố gắng? Với phương châm “mỗi người là một anh hùng” mà Toản đã định ra từ những ngày đầu đến với thời đại này, Toản chưa bao giờ trực tiếp nhúng tay vào bất kỳ một cải tiến nào về phương diện kỹ thuật hay kinh tế. Thay vào đó, anh chỉ đóng vai trò của một người hướng dẫn và gợi ý. Giả như việc chế tạo mấy loại súng trường vừa rồi, anh chỉ gợi ý cho anh mình, Quang Thuỳ và Vũ Huy Tấn, thế là chúng ra đời một cách rất tự nhiên. Làm như vậy, trong tình cờ, Toản đã khơi dậy tính sáng tạo và lòng nhiệt thành của họ. Bởi thế, trong lòng mỗi người, hình ảnh của anh nổi lên như một người vĩ đại, không gì không làm được.

Lại nói về vùng Lưỡng Quảng. Đây là vùng đất xưa kia là một phần không thể thiếu của Bách Việt. Vùng đất này có thể nói chính xác hơn chính là lãnh thổ của nước Âu Lạc, Văn Lang xưa, sau lại gọi là Âu Việt. Gọi là thế bởi theo truyền thuyết Âu Cơ – Lạc Long Quân, nơi đây chính là vùng đất mà mẹ Âu Cơ đem năm mươi người con đi với lãnh thổ vừa khéo là tỉnh Quảng Đông và một phần Quảng Tây. Đối lại, nước Lạc Việt là vùng đất mà cha Lạc Long Quân bố trí cho năm mươi người còn lại, chiếm lĩnh vùng đất rộng lớn hơn, trải dài từ Tây Nam Quảng Tây đến một phần Vân Nam và Việt Nam ngày nay.

Bởi vậy, nói hai hành tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây là của Việt Nam là không sai. Lại nhớ ngày xưa, Lý Công Uẩn, Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long là có lý do. Chính xác bởi vì Thăng Long nằm ngay trung tâm đất nước. Mãi đến cuối thời nhà Lý thì hai vùng đất này mới bị mất. Bởi thế, việc lấy lại hai vùng đất này cũng chính là nỗi khắc khoải của Quang Trung Hoàng đế năm xưa.

Người Choang là dân tộc lớn nhất ở đây cùng hai tộc người khác. Họ cũng không xa lạ gì với Việt Nam, đó chính là người Miêu được biết đến với tên gọi H’Mông và người Tai cũng chính là người Thái. Một bộ phận khác không nhỏ là người Jing, chính là người Kinh với tên gọi là người Kinh Tam Đảo sinh sống ở Tây Nam Quảng Đông, Đông Nam Quảng Tây và đảo Hải Nam. Nói đến đây, không cần dùng đầu óc cũng hiểu, ba dân tộc lớn kia chính là hậu duệ của nhóm năm mươi theo mẹ Âu Cơ sinh sống ở vùng núi rừng, người Kinh theo cha sống ở vùng đồng bằng ven biển.

Bởi thế, khi được trở về với cội nguồn, các dân tộc này phải biết là hoan hỉ đến bực nào. Họ đã trở về với những người anh em của mình. Rất nhanh chóng, họ hoà nhập với triều đại mới, họ không còn bị coi là dân tộc thiểu số nữa. Họ cũng không còn phải nhìn thấy những ánh mắt kỳ thị của người Hán nữa. Phải nhớ rằng tôn chỉ của nhà Thanh là “Mãn – Hán một nhà”, vậy thì họ ở đâu trong mắt người Trung Quốc. Chỉ có nơi đây họ mới được xem là bình đẳng với các dân tộc khác. Cũng bởi thế, một quyết sách lớn của Toản được mọi người dân ủng hộ. Anh xoá bỏ tên gọi của tất cả dân tộc, gom lại thành một. Và từ đây, mỗi người đều tự hào xưng mình thuộc dân tộc Âu Lạc.

Thấm thoát mà đã năm năm trôi qua. Việt Nam ngày nay đã mang trên mình một diện mạo mới. Hai vùng đất mới nhanh chóng hoà mình vào không khí xây dựng sôi nổi trên cả nước. Đất nước lúc này mới thực sự có hình dáng của chữ S trọn vẹn. Với địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam, Toản cũng cho phân bố lại bản đồ ngành nghề. Vùng phía Bắc bao gồm hai hành tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây có địa hình đồi núi, khoáng sản dồi dào cùng nhiều vạt rừng nguyên sinh nên ưu tiên cho công nghiệp khai khoáng và luyện kim. Chính những vạt rừng nguyên sinh vô tình trở thành lá phổi tự nhiên cho cả vùng. Đương nhiên, chính sách bảo tồn rừng được Toản cho thi hành nghiêm ngặt.

Vùng đất từ đồng bằng sông Hồng kéo dài đến Bình Định trở thành miền Trung với Phú Xuân vô tình chiếm giữ vị trí của Thăng Long xưa, nằm ngay chính giữa đất nước. Người dân ở đây vốn lãng mạn và khéo léo, vô cùng phù hợp với ngành công nghiệp chế tạo cùng mỹ thuật. Những sản phẩm họ làm ra đạt đến trình độ tinh xảo vô cùng.

Phần còn lại, đương nhiên ai cũng hiểu. Đó chính là vựa lúa của cả nước bởi thổ nhưỡng màu mỡ với đồng bằng sông Cửu Long trù phú. Thêm nữa, nếu hiểu theo cách nói dân dã, thì đây là nơi “cấp vốn” cho cả nước bởi trình độ phát triển của ngành thương nghiệp đạt mức cao nhất với đầu tàu Sài Gòn.

Lại có hai thành phố cực lớn và giàu có được khai sinh, Quảng Châu và Nam Ninh. Như vậy, mỗi miền lúc này đều có hai trung tâm lớn, điều hành hoạt động của cả vùng. Miền Bắc đã biết, miền Trung chính là Cố đô Thăng Long và Kinh thành Huế vốn được Toản cho mở rộng Phú Xuân về phía thị trấn Huế. Miền Nam là Sài Gòn và thành phố mới Cần Thơ. Cũng phải nói thêm về hai thành phố phía nam, một là thủ phủ thương nghiệp, một là thủ phủ nông nghiệp. Lại nói đến Tây Nguyên nay thuộc miền Trung lại được dành hẳn cho ngành dệt may và các loài cây công nghiệp.

Về phương diện kinh tế là vậy. Lĩnh vực khoa học và giáo dục còn phát triển đến một mức cao hơn nhiều. Các trường học lại được tổ hợp lại thành từng khối với việc sáp nhập tiểu học và mầm non thành một khối gọi là khối Cơ sở, cấp Sơ Trung và Cao Trung nhập thành khối Nền tảng, trên nữa là khối Vào đời. Các kỳ thi chỉ được tổ chức vào mỗi năm học cuối khối. Riêng ở khối Nền tảng, có hai kỳ thi lớn gọi là Tú Tài một và Tú Tài hai nhưng học sinh lại được cấp chứng chỉ Nền tảng sau khi vượt qua kỳ thi Tú tài một ở lớp mười một và Bằng Tú Tài sau khi vượt qua kỳ thi còn lại. Đây cũng chính là cơ sở để tuyển chọn binh sĩ nhập ngũ làm nghĩa vụ bảo vệ tổ quốc.

Chữ viết lúc này cũng thống nhất là chữ Quốc Ngữ. Về phần tiếng nói, Toản không ép các dân tộc khác chuyển sang tiếng Việt mà dùng nó làm ngôn ngữ chính. Các ngôn ngữ khác như Choang, Tày, Thái, Dao... vẫn được dùng như cũ nhưng khi viết lại được phiên âm thành chữ Quốc ngữ. Tuy vậy, trong cuộc họp hội đồng toàn thể các dân tộc, toan bộ mọi người đều nhất trí chính sách gộp dân tộc như đã nói. Và một điều nữa, họ lại đề nghị Toản chấp thuận quy định bất kể ai cũng phải dùng tiếng Việt. Nói thật, Toản vô cùng mừng rỡ vì điều này. Bởi vậy mới phát sinh thêm một việc nữa. Đó là biên soạn các bộ từ điển cho mọi người dễ dàng học tiếng Việt. Việc này anh giao lại cho Bộ Giáo dục cùng các vị tộc trưởng lo liệu.

Công tác nghiên cứu khoa học lại còn sôi nổi hơn. Ước mơ của Toản về tàu thủy cuối cùng cũng thành hình với người có công lớn nhất có tên Nguyễn Phúc Đảm, không có ai xa lạ, chính là con trai của Nhân Nghĩa Thái thượng hoàng Nguyễn Ánh. Anh bạn trẻ này nhanh chóng được phong làm Nhân Nghĩa Hầu, giữ chức Bộ trưởng Bộ Khoa học và là người Bộ trưởng trẻ tuổi nhất. Ngoài ra, còn có nhiều phát minh lớn như máy dệt, xe đạp, máy đập lúa dùng sức gió,...

Việc xuất hiện của tàu thủy chạy bằng động cơ hơi nước đã triệt để thay đổi bộ mặt của hải quân khi có việc mặc giáp sắt cho thuyền chiến. Đi đầu trong việc cải tiến này chính là Định Quốc. Trước tiên, người ta lắp những tấm thép dày mười xen ti mét bên ngoài vỏ gỗ rồi tháo lớp vỏ gỗ ra. Sau đó, họ lại đặt những thanh thép khác dày hơn bên cạnh các thanh gỗ rường bên trong làm khung sườn mới rồi gỡ khung cũ đi. Vậy là vỏ tàu đã xong. Việc tiếp theo là gỡ cột buồm và thay vào đó là động cơ hơi nước với bánh lái cùng chân vịt. Tuỳ vào mỗi loại tàu mà nó có số lượng động cơ khác nhau. Trong đó, Định Quốc lớn nhất với ba động cơ, ba ống khói và ba chân vịt. Tốc độ tàu nhờ thế mà càng cao hơn, đạt tới ba mươi hai knots, tức gần bảy mươi kí lô mét một giờ.

Cùng với sự xuất hiện của những chiếc tàu thủy chạy bằng hơi nước, khoảng cách giữa Việt Nam và những đồng minh của mình ở tận Âu Châu dường như ngắn lại rất nhiều. Tốc độ trung bình của chúng vào khoảng năm mươi đến sáu mươi kí lô mét một giờ. Bởi thế, nếu ngày trước phải mất ít nhất là tám tháng cho hành trình Việt Nam – Anh Cát Lợi thì nay chỉ là một tháng rưỡi nếu trời yên biển lặng và tối đa là ba tháng nếu gặp phải những sự cố giữa đường như bão biển hay cướp biển. Nhờ thế, việc giao thương trở nên thuận lợi hơn rất nhiều. Còn nữa, cũng nhờ nó mà những du học sinh và các nhà nghiên cứu khoa học, các nhà sáng chế của cả hai nước có thể giao lưu, trao đổi với nhau nhiều hơn. Bởi vậy, trình độ khoa học kỹ thuật cùng kim ngạch buôn bán của Việt Nam và nước bạn đạt mức cao chưa từng có.

Nếu như tất cả các mặt của đời sống đều được nâng cao thì sức mạnh quân đội cũng phải tịnh tiến theo. Cả nước lúc này có cả thảy sáu quân đoàn đóng ở ba miền, hai quân đoàn cơ động cùng một quân đoàn biên phòng trải đều ở biên giới trên bộ. Hải quân thì nhờ sự xuất hiện của tàu thủy mà nhân lực trên mỗi con tàu cũng được giảm đi đáng kể. Vì vậy, hạm đội thứ năm đã xuất hiện. Ngoài ra, Toản cũng gợi ý cho Bộ Quốc phòng thành lập thêm ba sư đoàn mới với tên gọi “Lính thủy đánh bộ”. Đây chính là quả đấm thép, lực lượng viễn chinh trên biển và sẵn sàng trợ giúp các đồng minh của mình nếu cần.

Tuy nhiên, quân đội có lớn đến mức nào đi chăng nữa thì vẫn là khiếm khuyết nếu như thiếu đi hai bộ phận cực kỳ quan trọng, đó là Quân cảnh hay còn gọi là Kiểm soát quân sự và Toà án binh. Hai lực lượng này là tối cần thiết để giữ gìn kỷ cương quân đội và giải quyết các mâu thuẫn xuất hiện trong quân ngũ.

Tình hình trong nước là vậy, còn thế giới bên ngoài thì thế nào? Với Trung Hoa đại lục, chính quyền Đại Thanh mỗi ngày một suy yếu. Chỉ trong vòng hai năm, Gia Khánh đã buộc phải thoái vị. Hồng Hoa hội dưới sự lãnh đạo của Trần Quý, cháu gọi Tổng Đà chủ Trần Cận Nam của Thiên Địa hội ngày trước trong hơn một năm là ông đã từng bước đẩy người Mãn Châu về đất của họ. Một năm sau đó, họ chiếm luôn đất của người Mãn Châu. Trong thời gian giữa hai bên đang dằn co, Gia Khánh nhiều lần phải hạ mình phái sứ giả cầu viện láng giềng của mình là Nga La Tư ở phía Bắc. Vua nước ấy là Sa Hoàng Aleksandr I ban đầu còn phái quân đến giúp cùng với sự viện trợ về vũ khí mới có thể cầm cự được một năm đầu tiên. Dù gì thì đây cũng là một Đế quốc. Họ đâu phải không công mà viện trợ cho Đại Thanh. Aleksandr I vốn định nhân cơ hội này mà chiếm luôn đất nước Trung Hoa. Song, khi biết sau lưng Hồng Hoa hội có bóng dáng của Việt Nam, một đồng minh quan trọng của mình trong Liên minh thứ ba thì nhanh chóng từ bỏ ý định. Mặt khác, ông ta còn quay sang ủng hộ Hồng Hoa hội nhằm tranh thủ lợi ích lớn nhất. Sau ngày thống nhất, Trần Quý theo lời Việt Nam mà thành lập nhà nước Trung Quốc, không gọi là Đại Minh hay danh xưng tương tự như vậy với chữ Đại đằng trước như tiền nhân. Ông ta cũng mở rộng bang giao với Anh Cát Lợi, Nga La Tư và các nước nhỏ hơn như Nhật Bản, Triều Tiên, Miến Điện. Cũng theo lời tư vấn của Toản, ông ta đặt Trung Quốc ngang hàng với các nước khác, không tự xưng là Thiên triều như xưa. Ông ta cũng học theo Việt Nam mà tiến hành hàng loạt cải cách mà quan trọng nhất là ở lĩnh vực giáo dục.

Cũng trong thời gian này, tình hình chiến sự ở Châu Âu cũng nghiêng hẳn về Liên minh thứ ba. Cùng với sự tham chiến của Lính thủy đánh bộ Việt Nam cùng Hạm đội năm, phe của Phú Lang Sa mà đứng đầu là Hoàng đế Napoleon Bonaparte dần yếu thế. Chưa hết, với những loại vũ khí mua từ Việt Nam, Anh Cát Lợi cùng đồng minh đã làm chủ chiến trường. Đến năm 1809, Napoleon đầu hàng, kết thúc cuộc chiến kéo dài cả trăm năm ở lục địa già.

Như thế để thấy, sự lớn mạnh của Việt Nam đã làm thay đổi dòng chảy lịch sử hết sức mạnh mẽ. Tên tuổi của Việt Nam và vị vua của mình lúc này đã thật sự vang danh trên trường quốc tế.
 

Phong Lưu

Try My Best
Bài viết
251,631
Reaction score
643
Points
278
Chương 69: Phát hiện lớn
Dân gian có câu “Ông trời rất công bằng, Người đã ban cho ai đó một cái gì thì cũng lấy đi của anh ta một cái khác”. Nghe có vẻ rất tâm linh nhưng bao đời nay, câu nói trên dường như vô cùng linh nghiệm. Có rất nhiều người vốn được xem là thiên tài kinh doanh, họ nổi tiếng giàu có, ấy là trời cho. Thế nhưng, không ít người trong số họ lại sống trong thiếu thốn tình cảm hay bệnh tật triền miên.

Ngay cả như Toản. Anh là một người có tài, lại có tâm với đất nước. Những gì mà Việt Nam đạt được hôm nay sẽ là hiện thực hay chăng nếu như không có sự xuất hiện của Toản. Anh đạt được thành công lớn trong mọi mặt và đạt được sự tin yêu đến mù quáng của mọi tầng lớp nhân dân. Ấy thế mà anh lại không còn thời gian cho chính bản thân mình nữa. Nhớ những ngày đầu anh tới thế giới này, thời đại này, cậu bé Toản lúc đó thảnh thơi biết dường nào khi giao lại cho Bộ Chính trị xử lý hết phần lớn công việc, riêng mình thì thảnh thơi nằm trên bãi cỏ trong Ngự hoa viên ngắm nhìn ánh hoàng hôn. Thế mà thú vui ngày ấy nào còn đâu nữa. Theo sự phát triển quá nhanh của đất nước, áp lực công việc đè nặng lên vai anh ngày càng nhiều. Lắm lúc, anh phải làm việc đến tận khuya.

Lại nữa, gần đây, anh lại hay bị những cơn đau nửa đầu hành hạ. Ban đầu, thỉnh thoảng mới bị một lần. Đến hiện tại, tần suất xuất hiện của chứng bệnh này lại càng nhiều. Còn nhớ năm năm trước, tin tức Toản đột quỵ khi đang chuẩn bị cho cuộc Bắc phạt. Mọi người, ngay cả những ai thân cận với anh đều cho rằng đây là một mưu kế nhằm kích người nhà Thanh nhanh chóng tiến công. Bởi lẽ cơn đột quỵ đến rất nhanh và qua đi cũng rất nhanh, lại xảy ra ngay tại thời điểm mấu chốt. Nào ai có ngờ, Toản thật sự bị đột quỵ. Và từ đó đến nay, có nhiều lần anh cảm thấy choáng váng, muốn xỉu. Có lẽ đây là ông trời muốn lấy đi của Toản sức khỏe.

Tuy nhiên, là một người đến từ thời đại mà khoa học công nghệ phát triển với tốc độ chóng mặt, anh không tin đây là do ông trời. Cách giải thích khoa học nhất chính là do áp lực công việc quá lớn làm thần kinh anh căng thẳng mà thôi. Anh mắc phải hội chứng Stress đó thôi.

Nghiêm trọng nhất, mới mấy ngày gần đây thôi, anh một lần nữa bị đột quỵ. Anh ngất xỉu ngay trên bàn làm việc của mình. May sao, Tiểu Thái ở bên cạnh phát hiện kịp, cho người gọi gấp mấy vị Ngự y. Cũng phải mất mấy tiếng đồng hộ được tích cực cứu chữa, Toản mới hồi tỉnh. Lúc này, một vị quan Ngự y tên Phạm Đông Thảo vô tình nói:

- Bệ hạ à! Ngài phải biết quan tâm đến sức khỏe mình một chút. Bệ hạ nên đi đâu đó thư giãn, giao bớt công việc lại cho mấy vị đại thần. Cứ thế này, khéo Bệ hạ lại giống Tiên đế và Đông Định Vương ngày xưa mất.

- Ý Khanh là sao? Cha và chú trẫm cũng mắc bệnh thế này à? – Toản giật mình kinh hãi.

- Thần không dám võ đoán. Nhưng đúng là Bệ hạ có những triệu chứng giống như các vị ấy. Ngay cả Thái Đức Hoàng đế cũng là như vậy.

- Lẽ nào là thế? Ta chỉ nghe nói cha ta vì lao lực quá độ mà quy tiên, chú ta phẫn uất vì hiểu lầm mà chết. Ngay cả bác ta cũng vì tức quá mà chết. Đâu có ngờ.

- Khởi bẩm Bệ hạ! Việc này thần không dám đoán bừa, chỉ là đúng là Bệ hạ và các vị ấy có cùng triệu chứng. Nếu Bệ hạ muốn biết rõ, xin hãy triệu Ngự y Hồ Đắc Duy lão nhân gia sẽ rõ.

- Vậy Khanh mau mời lão nhân gia cho trẫm. Trẫm muốn biết sự thật.

Đoạn, Ngự y Phạm Đông Thảo lui ra, nhanh chóng đi mời vị Ngự y già hiện đang an dưỡng ở Nha Trang. Khi ông đã rời khỏi, Toản quay sang nói với Tiểu Thái:

- Tiểu Thái à! Trẫm có một dự cảm chẳng lành.

- Tiểu Thịnh! Bệ hạ đừng vội bi quan. Thần tin ông trời có mắt, không để Tiểu Thịnh có việc gì đâu.

Đến bây giờ, Tiểu Thái vẫn gọi Toản là Tiểu Thịnh khi không còn ai khác. Mà đôi khi hai người vẫn xưng hô như thế khi có mặt hai người anh lớn và Hoàng hậu Ngọc Lan. Tình bạn giữa nhà vua trẻ và bề tôi vô cùng khắng khít. Đến nỗi Toản từng nói sẽ gả em gái mình cho Tiểu Thái nếu anh không phải là thái giám. Toản nói:

- Tiểu Thái, cậu không hiểu đâu, ta sơ mình đang mắc phải một căn bệnh khủng khiếp. Đáng sợ hơn là nó có tính di truyền.

- Tiểu Thịnh đừng dọa Tiểu Thái. Thần sợ lắm.
Toản chỉ mỉm cười. Anh biết người bạn của mình quả thật rất lo lắng. Nếu như nói ai là người quan tâm đến anh nhất thì trừ Ngọc Lan ra, anh chàng trước mắt là người thật lòng quan tâm nhất. Anh vỗ vai bạn rồi xua tan không khí trầm mặc này bằng cách rủ Tiểu Thái đến chiếc ao trong Ngự hoa viên câu cá.

Một tuần sau, lão ngự y già Hồ Đắc Duy cũng đến gặp Toản với ba chồng y bạ. Đây là một ông lão có dáng người tầm thước. Những nếp nhăn hằn trên trán cùng chòm râu bạc vẫn không làm bớt đi vẻ hồng hào của khuôn mặt. Dấu hiệu rõ ràng nhất của tuổi già là ông đi lại khá chậm và bị chứng lãng tai. Tuy vậy, đây lại là một ông lão hết sức minh mẫn. Nhìn thấy thần sắc của Toản, ông ta bỗng thấy giật mình. Lão ngự y nhanh chóng hỏi dồn dập:

- Bệ hạ! Gần đây Bệ hạ có hay bị đau nửa đầu không? Bệ hạ còn hay bị khó thở hay không? Có hay bị tức ngực khi hít thở sâu hay không? Khi vận động mạnh thì vẫn bình thường nhưng khi suy nghĩ nhiều lại thấy đau đầu, chóng mặt đúng không?

- Lão ngự y. Trẫm đúng là có những triệu chứng y như vậy. Lão biết trẫm bị bệnh gì hay không?

- Nói thật với Bệ hạ, thần chỉ biết đây là một căn bệnh liên quan đến tim mạch nhưng không biết rõ nó là gì. Chỉ biết Tây Sơn Tam Kiệt năm xưa quả đúng có triệu chứng giống hệt như vậy.

- Lão ngự y, điều lão nói là thật?

- Bẩm! Là thật. Thần có ghi chép lại cẩn thận trong y bạ. Khẩn xin Bệ hạ xem qua.

Không chờ Tiểu Thái đến lấy, Toản nhanh chóng bước lại, nhìn chồng hồ sơ Hồ Đắc Duy để trên bàn. Hồ Đắc Duy rơm rớm nước mắt mà nói:

- Bệ hạ! Lão thần vốn không dám đoán bừa. Chỉ là đất nước này rất cần Bệ hạ. Thần cảm thấy lo.

- Âu cũng là số phận thôi – Toản thoáng thở dài. – Bây giờ cũng chưa biết gì nhiều. Trẫm cũng đã chuẩn bị tâm lý cả rồi. Chỉ mong là trẫm đoán sai và kịp làm một việc nữa thôi.

- Ý Bệ hạ là ngào đã biết đây là bệnh gì à? Xin Bệ hạ mở mắt cho lão già này.

- Lão ngự y xin đừng tự hạ mình như vậy. Chỉ là trước đây trẫm đã từng nghe lão thần tiên Trương Văn Hiến nói trong giấc mơ ngày trước mà thôi. Và căn bệnh này thì chỉ có Tây y thì may ra.

- Bệ hạ! Nếu biết thế thì quá tốt. Thần có quen một vị bác sĩ Tây y rất tài giỏi. Gần đây chúng thần có trao đổi những tâm đắc cùng nhau. Để thần đi mời ông ta đến.

- Vậy thì phiền lão ngự y phải đi một chuyến rồi. Cứ để y bạ lại đây để trẫm xem.

Hồ Đắc Duy đi rồi, Toản bần thần trong chốc lát rồi cầm một quyển y bạ lên xem. Những trang giấy lướt qua để lại trong lòng Toản nhiều suy nghĩ. Ngày còn nhỏ, Toản được ba mình là ông Hồ Sĩ Mạnh kể cho nghe nhiều về nhà Tây Sơn, về người anh hùng áo vải. Đặc biệt, anh thanh niên David Hồ ngày ấy thắc mắc mãi lý do gì mà vua Quang Trung đột ngột rời xa nhân thế, dẫn đến nỗi tiếc hận nghìn thu cho hậu thế.
Phải nói, nhà Tây Sơn có hai bí mật lớn nhất lịch sử. Thứ nhất là bí quyết của việc hành quân thần tốc và bí mật thứ hai chính là cái chết của vị anh hùng áo vải cờ đào. David đã từng đi khá nhiều thư viện chỉ để tìm hiểu về hai bí mật này, đặc biệt là về cái chết của nhà vua.

Có khá nhiều giả thuyết về bí mật thứ hai. Có người nói nhà vua bị đầu độc bằng cách cho vào thức ăn mỗi ngày một ít. Có người còn nói là do chính Thái hậu Lê Ngọc Hân đầu độc. Cũng có người nói ông cũng như Hoàng tử Cảnh, bị chết vì bệnh đậu mùa. Rồi gần nhất, một bài báo lại phân tích rất kỹ dựa trên mẫu xương sọ của nhà vua. Đó là công trình của một vị bác sĩ người Mỹ. Ông nói, không chỉ có vua Quang Trung, mà cả ba anh em nhà Tây Sơn dường như đều chết vì chứng tai biến mạch máu não. Chính việc giải phẫu hộp sọ của ba người đã tố cáo điều đó. Tuy nhiên, bị đầu độc cũng có thể dẫn đến chứng tai biến này. Lại nữa, tại sao cả ba anh em đều bị tai biến? Không ai biết. Bởi vậy, có hai giả thuyết được cho là hợp lý nhất. Thứ nhất là họ bị buộc phải phục dụng một loại chất độc nào đó một cách thụ động từ ngày này sang ngày khác. Thứ hai là cả ba anh em đều mắc một bệnh lý di truyền về tim mạch.

Trong hai giả thuyết kể trên, David tin rằng giả thuyết thứ hai là có lý hơn cả. Bởi đầu độc cả ba người là một việc cực kỳ khó. Nhưng nếu nói giả thuyết thứ hai đáng tin thì cũng khó. Bởi lẽ, nếu họ mắc bệnh tim thì làm sao có thể học võ, lại cưỡi ngựa chinh chiến sa trường được. Suy nghĩ như vậy, anh quyết tâm tìm hiểu tất cả các căn bệnh tim. Đến cuối cùng, anh cũng tìm ra được một căn bệnh có nhiều khả năng nhất, lại là căn bệnh tim hiếm gặp nhất, bệnh “Hẹp van tim”. Bệnh này không ảnh hưởng nhiều đến vận động nếu nhẹ nhưng lại thường đưa đến hội chứng thiếu máu cấp cho các cơ quan.

Vốn dĩ David ngày trước và Quang Toản bây giờ rất lấy làm đắc ý khi tự mình suy luận ra điều này. Song, đó là nói khi người khác bị bệnh. Đằng này lại đến chính mình cũng bị. Vậy thì anh còn lấy gì để tự đắc đây.

Ngẫm nghĩ lại, anh chợt mỉm cười. Anh nghĩ, trước mình có mấy ai tạo dựng được một Việt Nam thần kỳ, chỉ chưa tới hai mươi năm đã tạo nên tiếng vang chấn động toàn cầu. Âu như thế cũng đáng tự hào, cũng an ủi đôi phần. Anh chỉ còn một nguyện ước nữa cùng với nỗi lo cho thế hệ sau. Đây là căn bệnh di truyền, chẳng may con hay cháu mình cũng mắc phải thì biết làm sao đây? Về căn bệnh này, cũng phải đến cuối thế kỷ hai mươi, người ta mới tìm hiểu được căn nguyên và có hướng điều trị tích cực. Giờ đây mình đã biết rõ, chỉ cần phẫu thuật nong van là khỏi. Nhưng y học ngày nay chưa thể làm được. Thôi thì mình nên định hướng trước cho mấy vị bác sĩ nghiên cứu, biết đâu chỉ mấy mươi năm, thậm chí mấy năm nữa, lại có bác sĩ nghiên cứu được cách chữa thì sao. Đó chính là lý do Toản không ngăn cản lão ngự y Hồ Đắc Duy mời bạn của ông đến.

Chưa đầy hai tiếng đồng hồ sau, lão ngự y Hồ Đắc Duy dẫn theo một người Anh Cát Lợi. Ông ta nói:

- Bệ hạ! Đây là bác sĩ Robert Darwin, bác sĩ người Anh Cát Lợi.

“Robert Darwin? Cái tên này không có nổi tiếng nhưng mà mình nghe ở đâu rồi thì phải. Robert... Robert... Darwin... Dar... Phải rồi. Ông ta là cha của nhà bác học thiên tài Charles Darwin”. Toản ngẫm nghĩ rồi chợt giật mình nghĩ ra. Anh hỏi Darwin:

- Bác sĩ có phải có một người con tên Charles phải không?

- Vâng... Vâng... Bệ hạ! Ngài biết việc này sao? Cháu nó mới hơn một tuổi, lại đang ở London. Lẽ nào ngài biết được?

- Ha... Ha... – Toản phá lên cười, vậy là con cháu anh có hy vọng rồi. – Không có gì. Trẫm chẳng qua nằm mộng mới biết vậy thôi. Bác sĩ đừng để bụng. Hãy tin trẫm, dành cho cậu bé sự giáo dục tốt nhất. Tương lai cậu sẽ là một vĩ nhân được cả thế giới phải ngã mũ đó.

- Bệ hạ! Cám ơn ngài chúc phúc. Đó là điều mà cha mẹ nào cũng phải làm mà.

- Bác sĩ! Ông không cần phải quá khiêm tốn. Ông nội cậu bé cũng là một nhà khoa học nổi tiếng nữa kia mà. Thôi, không nói việc này nữa. Quay lại bệnh tình của trẫm, nếu trẫm nói mình không còn sống được bao nữa. Hai vị có tin không?

- Bệ hạ! Thứ cho lão thần nói thẳng – Hồ Đắc Duy nói. – Nếu trong trường hợp khác, thần không dám nói thẳng. Nhưng nay Bệ hạ đã biết rõ bệnh tình. Nói thật, theo thần đoán, bệ hạ còn chưa đến hai năm nữa. Tiên đế ngày xưa cũng vậy.

- Bệ hạ! – Robert hỏi – Lẽ nào ngài biết rõ căn bệnh này?

- Đúng vậy. Trẫm biết rõ. Bệnh này có tên gọi “Hẹp van tim” và mang tính di truyền. Trẫm e là con cháu trẫm cũng mang mầm bệnh. Chỉ có Tây y mới trị được. Nhưng trình độ hiện nay chưa thể làm được.

- Ý bệ hạ là phẫu thuật à? – Robert hỏi.

- Chính xác. Chỉ cần phẫu thuật nong van tim thôi. Nhưng khoa học và y học ngày nay chỉ có thể bó tay mà thôi.

Lão ngự y Hồ Đắc Duy sụt sùi hỏi:

- Bệ hạ! Vậy bây giờ ngài tính sao đây?

- Trước hết, trẫm xin các khanh giữ bí mật này, chớ để mọi người lo lắng. Trẫm có hai việc cần làm thì đã xong một việc rồi. Đó là tìm người để nói lại căn nguyên bệnh này đặng sau này nghiên cứu và chữa trị cho con cháu trẫm, cho muôn dân trăm họ. Còn việc thứ hai thì trẫm chưa thể nói.

Hai người cũng chỉ đành cúi đầu bước ra. Trong thâm tâm họ, vị vua trẻ kia quả là một vị vua anh minh và nhân hậu. Dẫu biết là mình không còn sống được bao lâu vẫn mãi nghĩ cho trăm họ. Và Toản đã nói mình còn một việc nữa phải làm. Vậy việc đó là gì và liệu anh có kịp thực hiện hay không.
 

Bình luận facebook

Top Bottom