[Lịch sử - Quân sự] Cảnh Thịnh Đế tân truyện

Thảo luận trong 'Truyện nước ngoài' bắt đầu bởi Tĩnh Hạ, 26/12/15.

  1. Tốt

    0 phiếu
    0.0%
  2. Tạm

    0 phiếu
    0.0%
  3. Tồi

    0 phiếu
    0.0%
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.
  1. Tĩnh Hạ

    Tĩnh Hạ

    Bài viết:
    124
    Đã được thích:
    157
    Điểm thành tích:
    43
    Lời đề tựa​


    Một vị tướng quân, một trong Tây Sơn Tam Kiệt mất trong uất ức khi thành Gia Định thất thủ. Đó chính là Đông Định Vương Nguyễn Lữ. Ông ra đi để lại cho vợ và đứa con trai một phát hiện kinh thiên.

    Một người vợ trong bóng tối của vị anh hùng Tây Sơn trốn thoát khỏi cuộc trả thù đẫm máu của vua Gia Long. Không nỡ nhìn cảnh mộ phần tổ tiên bị chà đạp, trung trinh nghĩa sĩ phải ngã xuống, bà lặng lẽ cho con thay đổi họ tên, viết lại một bức di thư, chân dung của chồng cùng bí mật mà chính bà cũng không biết giải thích. Bà hy vọng một ngày nào đó, con cháu bà phá giải được bí mật này. Để rồi chính người này “Thay đổi đất trời, định càn khôn”, trả thù cho chồng bà và những người đã ngã xuống, dựng nên thời đại mới.

    David Ho là một chàng trai Việt Kiều mới tốt nghiệp Master (Thạc sĩ) Vật lý sinh ra trên đất Mỹ 25 năm trước. Anh luôn ngưỡng mộ quê hương của cha anh, đất nước Việt Nam xinh đẹp với những vị anh hùng khoáng tuyệt cổ kim. Anh quyết định sẽ về thăm Việt Nam sau khi tốt nghiệp Master và trước khi bắt tay đi tìm việc làm. Trước khi đi, cha anh truyền lại một di vật được xem là gia bảo của cả dòng họ. Ông dặn anh, cố gắng phá giải bí mật trong di vật để làm đẹp lòng tổ tiên.

    Đặt chân đến quê cha, David tình cờ phá giải được bí mật bị chôn giấu suốt hơn 300 năm của dòng họ. Anh bị kéo về quá khứ và nhập hồn vào vua Cảnh Thịnh nhà Tây Sơn. Đây là một vị vua mất nước. David không cam lòng.

    Những gì David làm tiếp theo đã thay đổi triệt để dòng chảy của lịch sử. Anh đã dệt nên một huyền thoại mới, đem lại vinh quang cho cả đất nước.

    Cuốn truyện này được xây dựng trong một bối cảnh lịch sử của dân tộc vốn có nhiều điều còn bí ẩn. Với một chút hư cấu cùng tưởng tượng của mình, tác giả muốn thổi vào tâm hồn người đọc, thổi bùng lên tinh thần tự hào dân tộc và làm cuộc sống tươi đẹp hơn.
    TP. Hồ Chí Minh, ngày 16 tháng 7 năm 201
    Ngô Thu
     
    Thỏ Ngọc thích bài này.
  2. Tĩnh Hạ

    Tĩnh Hạ

    Bài viết:
    124
    Đã được thích:
    157
    Điểm thành tích:
    43

    Chương 2: Di vật

    Mùa hè năm 2007. Dưới cái nóng như đổ lửa ở Texas, ông Mạnh nằm dài trên chiếc võng đã sờn rách. Lần giở những trang sách trong cuốn “Loạn Kiêu Binh” của tác giả Nguyễn Triệu Luật, chốc chốc ông lại thoáng nở nụ cười. Sống ở Hoa Kỳ hơn bốn mươi năm, ông vẫn chưa thể nào xem mình là người Mỹ. Với ông, quê hương ông ở xa lắm, một thôn nghèo ở đất An Nhơn trong đất nước hình chữ S thân thương. Ông nhiều lần tự nhủ, một ngày nào đó, mình sẽ đưa vợ con trở về với quê cha đất tổ, hay chí ít, xương cốt mình sẽ được nằm trong lòng đất mẹ ở nơi ông sinh ra. Ông không thích gửi thân mình nơi đất khách lạnh lẽo. Có lẽ đây cũng là tâm tư của mấy ông bạn già trong hội. Nói là hội cho lớn lao chứ thực tế chỉ có dăm bảy người, toàn là cựu lính chiến di cư qua đây sau ngày giải phóng. Niềm vui của các ông đơn giản lắm, tụ tập chơi cờ, cùng ngồi ôn lại những kỷ niệm xưa trong quân ngũ. Rồi một ngày, có ông lại nảy ra sáng kiến: Sưu tầm sách, truyện lịch sử rồi chuyền tay nhau mà đọc. Ngẫm lại cũng hay, đây cũng là cách mấy ông dạy lại cho con cháu không quên nguồn cội. Cuốn sách trên tay ông cũng vậy. Cách đây hai tháng, ông Bảy Tuy không biết kiếm đâu được rồi chuyền cho hội. Đây là cuốn sách quý, xuất bản năm 1939, sách này ngay cả ở Việt Nam kiếm được chắc cũng phải đếm trên đầu ngón tay.

    - Lại nhớ quê à? – Tiếng của ông anh vợ kéo ông Mạnh về với hiện tại.

    - Ồ, anh mới qua à? Thì cũng đâu có gì, buồn buồn lấy sách ra đọc thôi.

    Ông Mạnh cười tươi, tay rót chén trà mời Tom. Phải nói, trong những người thân quen, ngoài vợ thì ông anh vợ này là người mà ông quý trọng nhất. Nhớ lại ngày nào còn bơ vơ, chính Tom là người đã giúp đỡ ông hết mình. Kể ra thì Tom cũng khá vui tính. Trước ngày đám cưới em gái, Tom kéo cậu em rể đi khắp các hộp đêm trong thị trấn. Tiền thanh toán cho những cuộc vui à? Đương nhiên phải tính cho Mạnh. Tom bảo, “Đây là trừng phạt cho cái tội không nghe lời, dám dụ dỗ cô em gái ngây thơ, bé bỏng của tôi” – “Ngây thơ à? Chính tôi mới là người ‘bị cua’ ấy chứ” Mạnh đáp trả. “Tôi không cần biết, tội vẫn là tội và phải chịu phạt”.

    - Này, cậu có tin gì của thằng David không? Tom hỏi.

    - À, nó mới gọi điện về. Báo ngày 30/5 phải có mặt ở Cambridge dự lễ tốt nghiệp. Nó bảo vệ thành công luận án Master rồi.

    - Tuyệt. Chắc cu cậu phải nói là tí tởn lắm đây. Haiz, lại phải tốn tiền nữa rồi. Tôi có hứa sẽ tặng cho nó chiếc Mustang mới.

    - Ha… ha… ha… ai bảo anh hứa hẹn mà chi.

    Phải nói Tom rất tự hào về David. Ông không cưới vợ. Thế nên ông dành hết tình thương cho David. Thiếu điều chính Marrian phải nói “Anh cưng nó quá, khéo nó hư mất thôi”.

    - Mà này, cậu có dự định gì chưa? David tốt nghiệp chắc cũng vui lắm phải không?

    - Vui thì vui mà cũng buồn anh ạ.

    - Sao thế????

    - Nó có nói với em, sau khi tốt nghiệp sẽ về thăm Việt Nam. Lại phải xa nhà rồi.

    - Thế thì cả nhà cậu cũng về Việt Nam, tôi cũng đi. Có gì mà buồn?

    - Chưa được anh à. Em thì còn lo cho vụ bông sắp thu hoạch, Marrian không bỏ bệnh viện được, hai con bé Jess và Betty lại còn phải học.

    - Thế à? Cũng tiếc đấy nhỉ. Mà thôi, làm tiệc ăn mừng ngài Master David trước đã. Việc còn lại tính sau.


    ………..

    Một đêm sau lễ Độc Lập. Ông Mạnh vẫn nằm trên chiếc võng sờn rách, David ngồi trên chiếc ghế mây bên cạnh. Hai cha con cùng nhấm nháp tách café, nhìn lên bầu trời đêm đầy sao nói chuyện. Có lẽ vẫn còn dư âm buổi bắn pháo hoa đêm qua chăng mà cả hai cha con đều thấy mấy vì sao tóa ánh sáng lung linh thật đẹp.

    - Ba à. Có lẽ đã đến lúc con thực hiện nguyện vọng của mình rồi.

    - Nguyện vọng gì? Ông Mạnh lơ đãng hỏi.

    - Con muốn về thăm Việt Nam. Tuần trước con nhận được lời mời của Cơ quan Nghiên cứu Hải quân Hoa Kỳ. Họ muốn con tham gia vào các dự án nghiên cứu và chế tạo vũ khí cho quân đội. Con cũng nhận được và đọc vài tài liệu về vũ khí quân dụng mà họ gửi đến. Đương nhiên là những tài liệu cơ bản thôi, chưa phải là bí mật quân sự gì. Con cũng đồng ý rồi. Nhưng đó là việc sau khi về thăm Việt Nam. Con chưa muốn nghĩ đến công việc vào lúc này.

    - Cũng tốt. Thế thì khi nào con đi?

    - Cuối tuần này. Con cũng làm xong thủ tục và book vé rồi.

    - Vậy à. Con có nhớ ba hứa sẽ kể cho con nghe một bí mật trước khi con về Việt Nam không? Chờ một lát, nhân hôm nay, hai cha con mình cùng nói về chuyện này.

    Dứt lời, ông Mạnh đứng lên, quay vào phòng đọc sách. Ít phút sau, ông quay trở ra với một chiếc hòm gỗ thông cũ kỹ trên tay. Chiếc hộp hình chữ nhật, chiều ngang một tấc, chiều dài khoảng ba tấc. Nắp hộp hình vòm. Điều duy nhất gây chú ý là chiếc ổ khóa màu vàng. David không biết ổ khóa làm bằng chất liệu gì, giống vàng nhưng không phải vàng. Hình dạng ổ khóa giống như trong những bộ phim kiếm hiệp Hongkong anh từng xem trước đây, trông có vẻ niên đại cũng khá lâu rồi. Có lẽ là đồ cổ cũng nên, bán đi chắc cũng được bộn tiền.

    - Khóa đồng, mạ vàng đấy con ạ. Tính ra nó cũng được hơn 300 năm rồi đấy.

    - Sao? Thế ra nó thật là đồ cổ ạ? Trước đây ba có kể thời gian trước khi gặp mẹ con, ba rất khổ, không tiền bạc. Sao ba không bán nó đi. Lúc đó dễ cũng được mấy trăm ngàn. Giờ này có lẽ ba là triệu phú hay tỷ phú mất rồi.

    - Sao mà bán được hả con? Ông Mạnh cười hiền từ. Nó là di vật của tổ tiên mà. Chiếc hòm này được xem như là gia bảo, truyền từ đời này sang đời khác cho đích tử. Lẽ ra ba không có được giữ đâu. Ba chỉ là con thứ. Ông nội con có năm người con, ba thứ tư nhưng bác hai con là con gái, bác ba chẳng may mất sớm do bom đạn khi đi lính. Thế là chiếc hòm này được trao cho ba, giờ nó là của con.

    Dứt lời, không để David hỏi thêm, ông Mạnh rửa tay ở vòi nước gần đó, chắp tay khấn vái rồi run run tra chìa khóa vào ổ. Cạch một tiếng, ổ khóa bung ra.

    - Mình theo đạo Công giáo. Nhưng đây là di vật tổ tiên nên mình phải thế con ạ. Ông Mạnh trả lời khi David tỏ ra bất ngờ khi thấy ông khấn vái. Vái lạy là điều không được cho phép đối với người Công giáo.

    Ông mở nắp hòm. Bên trong có ba đồ vật: một cuộn tranh, một phong thư và một huy hiệu hình tròn. Ông Mạnh lấy từng món ra, đặt ra trên bàn trà trước mặt David. Mở dây buộc cuộn tranh, David thấy hình vẽ của một vị tướng quân, thân mang giáp trụ, ngồi trên lưng ngựa, uy phong lẫm lẫm. Đường nét khuôn mặt có vài phần giống David. Đây có lẽ là hình của cụ tổ nhà mình – David thầm nghĩ. Điều đặc biệt là bên dưới Hổ đầu quan là một chiếc khăn màu trắng. Trông chẳng khác là bao với hình ảnh một vị tướng người Hồi giáo thế kỷ 17. Bỏ cuộn tranh xuống, David nhìn sang vật thứ hai. Đó là một phong thư làm bằng giấy gió, bên ngoài viết hai hàng chữ Hán. Trước đây David cũng được cha dạy tiếng Hán nên có thể đọc được. Thư đề “Đông Định Vương tôn tử lưu tâm”, bên cạnh là dòng chữ nhỏ hơn “Tổ mẫu Trần thị lưu thư”. Đặt phong thư xuống, David cầm lấy huy hiệu bên cạnh. Huy hiệu hình tròn, đường kính khoảng năm mươi phân, mặt sau có bốn mấu nhỏ bị gãy, có lẽ trước đây huy hiệu được đính vào một vật gì đó bằng vải, mặt trước có hình một con gà trống ở tư thế “kim kê độc lập” David nghĩ thầm “Quái, mình từng xem nhiều gia huy, nếu vẽ hình cầm điểu thì không phải chim phượng cũng là chim ưng hay một loài chim đẹp đẽ nào đó. Ai lại dùng hình tượng của một con gà bao giờ. Có chăng cũng chỉ có Quốc huy của nước Pháp, mà ấy là Quốc huy, không phải là gia huy của một gia tộc, lại là tướng quân nữa. Không lẽ tướng quân lại xem mình là con gà à?”.

    Ông Mạnh nhìn thấy vẻ mặt kỳ quái của con chỉ mỉm cười.

    - Con thấy lạ, tại sao huy hiệu lại vẽ con gà đúng không? Ngày xưa ba cũng thế. Con được đọc sách lịch sử và truyện xưa nhiều. Con có nghĩ tới ai có liên quan đến gà, sống vào khoảng 300 năm trước không? Đương nhiên là người Việt.

    - Để con nghĩ xem.

    Ai nhỉ? David ngẫm nghĩ, cố lục lòi trong đầu kiến thức về các danh tướng Việt. Bài “Hịch tướng sĩ” của Đức Thánh Trần Hưng Đạo có đoạn viết về gà, nhưng ngắn thôi, chỉ là ông hỏi ba quân rằng cựa gà có đâm thủng được giáp quân thù hay không; vả lại, ông lại sống cách nay hơn 700 năm. Thế thì không phải rồi. Hay là liên quan đến đá gà? Mấy ông vua mất nước trước đây trong sử cũng viết là mê chơi đá gà, đá dế. Không lẽ vậy mình thuộc dòng dõi vua chúa sao? Hì hì, quên đi, đây là tướng quân mà, với lại mình cũng không ham là con cháu của mấy ông vua mất nước đó. Đá gà? Ánh mắt David sáng lên, không phải từ nhỏ mình được cha day cho món “Hùng Kê Quyền” sao? Mình cũng tập thành thục lắm. Món võ này thoạt nhìn thấy tức cười đến nỗi anh không dám khoe với bạn bè. Nhưng cũng phải nói là món võ này rất độc đáo, rất “ác”, toàn là đòn “sát thủ”. Trước đây David đã đánh cho hai thằng Mỹ đen đến tàn phế mà. Rõ ràng món võ này là một món võ thực chiến, nghe đâu nó là một chi của Tây Sơn quyền – võ Bình Định. Mà người sáng tạo ra nó là… Lẽ nào là thế? Niên đại của ông cũng khoảng 300 năm.

    - Ba, không lẽ là Nguyễn Lữ.

    - Sai. Ông Mạnh gắt. Con phải nói cho đúng là Đông Định Vương Nguyễn Lữ hay ông Tư Lữ. Không được phép nói tên tục của Ngài.

    Dừng một chút, ông lại nhẹ giọng, nói:

    - Con đoán đúng rồi đó. Cha con mình là hậu duệ của Đức Đông Định Vương. Món võ cha truyền cho con là món võ do Ngài sáng tạo ra, chỉ truyền cho chi trưởng, không truyền chi thứ.

    - Nhưng con nghe nói Ngài không cưới vợ mà ba. Không lẽ sử chép sai.

    - Không phải là sai, mà là không biết nên không viết lại thôi. Tạ ơn Chúa, cũng nhờ vậy mà dòng họ mới truyền đến đời gia đình mình. Nếu không thì cũng không thoát khỏi sự tàn sát của vua Gia Long rồi.

    Nhấp tách trà, ông Mạnh bắt đầu chìm vào suy tưởng và kể lại.

    “Năm đó, Ngài cùng hai người anh nam chinh bắc chiến, tạo dựng bao chiến công hiển hách. Năm 1776, Ngài vâng lời anh là Nguyễn Nhạc, đem quân vào tập kích thành Gia Định, bắt sống tướng Bùi Hữu Lễ, ép Nguyễn Ánh phải chui xuống trốn ở gầm giường nhà một vị Linh mục truyền giáo ở Bà Rịa. Năm 1782, Ngài cùng anh lúc đó là Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lại xua quân đánh bại Nguyễn Ánh, tái chiếm thành Gia Định, ép Nguyễn Ánh phải trốn tới đảo Thổ Chu. Năm 1786, Ngài lại thân chinh chiếm lấy Phú Xuân, được gia phong Đông Định Vương. Đến năm 1787, Ngài uất ức rồi sinh bệnh mà mất ở Quy Nhơn sau khi thất thủ Gia Định. Sử viết Ngài vì sợ hãi chạy trốn Nguyễn Ánh mà bỏ Gia Định. Nhưng mà người ta đâu biết. Nguyễn Ánh sợ Ngài và Bắc Bình Vương hơn sợ cọp, lại chính Ngài ép Nguyễn Ánh chui gầm giường, trốn đi đảo Thổ Chu. Lẽ nào Ngài lại sợ? Năm đó, giặc Ánh thế mạnh, lại có vũ khí tối tân của Pháp, trong khi quân ta binh ít, vũ khí thô sơ, làm sao là đối thủ. Để bảo toàn lực lượng, Ngài phải hạ lệnh bỏ thành. Trên đường rút, Ngài cùng phó tướng của mình là Phạm Văn Tham chiến đấu anh dũng. Hai ông đã bàn bạc rất lâu. Ngài quyết định chịu tiếng xấu sợ chết, bỏ chạy khỏi Gia Định. Một phần là để giữ lấy một phần binh lực, phần nữa là để cho giặc Ánh thấy thắng mà sinh lòng chủ quan. Kết quả đúng là thế, tướng Phạm Văn Tham nhờ đó mà cầm cự giặc Ánh tận một năm rưỡi. Ngài về Quy Nhơn, xin được viện binh, nhưng lúc này lại nghe tin Gia Định thất thủ mà sinh uất ức rồi chết.

    Sau này, khi giặc Ánh chiến thắng, lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, con cháu nhà Tây Sơn bị tàn sát không còn ai. Nhắc đến đây, ba sẽ giải đáp cho con nghi vấn về chiếc khăn trắng mà Đức Đông Định Vương đội. Số là. Ít ai biết, thật ra Ngài không theo đạo Phật như ông cha mà theo đạo Hồi. Khi ra trận, Ngài đội khăn để xin Thượng Đế chúc phúc. Ngài lấy vợ, sinh con. Nhưng theo luật đạo Hồi, người vợ không được xuất hiện nơi công cộng. Bởi thế, hầu như không ai biết Ngài có vợ, có chăng chỉ là những thân tín của Ngài. Nhưng họ cũng không thoát sau cuộc tàn sát. Cũng nhờ đó mà Tổ mẫu đã trốn thoát được. Bà sau đó sống ẩn dật ở An Nhơn và truyền lại dòng máu của Đông Định Vương Nguyễn Lữ cho đến nay”.

    Nói đến đây, ông Mạnh lại thở dài, nhấp tách trà rồi nói:

    - Thôi, khuya rồi, ba vào ngủ đây. Con biết tiếng Hán, cứ đọc những gì viết trong di thư của Tổ mẫu, con sẽ hiểu thêm. Bức thư viết vào năm thứ năm thời Gia Long, tức là năm 1807 đó.

    - Dạ vâng, ba đi nghỉ đi. Cẩn thận, ba cũng có tuổi rồi, cố gắng giữ sức khỏe ba nhé.

    David ngồi nhìn cha đi vào nhà. Rồi anh cũng bắt chước cha, trèo lên võng nằm suy tư. Có lẽ đêm nay cha anh truyền lại di vật tổ truyền cũng truyền lại cái sở thích nằm võng của ông cho anh. Anh mở phong thư và bắt đầu đọc.
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/12/15
    Thỏ Ngọc thích bài này.
  3. Tĩnh Hạ

    Tĩnh Hạ

    Bài viết:
    124
    Đã được thích:
    157
    Điểm thành tích:
    43

    Chương 3: Bức di thư và bí mật dòng họ

    Chuông đồng hồ vang lên mười hai tiếng. David vẫn nằm trên võng suy tư. Thật không ngờ mình lại là dòng dõi của một vị danh tướng. Không, phải nói là hậu duệ Hoàng tộc mới phải. Nhưng bấy nhiêu vẫn chưa đủ để anh cảm thấy hưng phấn. Điều làm anh cảm thấy lâng lâng lại lại là việc khác. Dòng máu Hoàng tộc mình đang mang trong người lại đến từ một vương triều với bao nhiêu chiến công oanh liệt. Anh thả hồn tưởng tượng, mình hiện là Đức Đông Định Vương. Bên cạnh là vị anh hùng cờ đào áo vải Quang Trung – Nguyễn Huệ. Đi theo hầu phía sau là Tây Sơn Thất hổ tướng, tiếp nữa là Tây Sơn Ngũ phụng thư. Đoàn người đứng trước ba quân tướng sĩ. Đông Định Vương thay mặt anh gióng lên hồi trống lệnh giòn giã, thúc dục ba quân tiến lên, chà đạp quân Thanh xâm lược.

    Đêm đã khuya, một cơn gió lạnh lùa vào, kéo David tỉnh lại từ trong tưởng tượng. Lúc này, anh cảm thấy mình hoàn toàn tỉnh táo, không hề có dấu vết của cơn buồn ngủ hành hạ. Chợt nhớ đến bức di thư, David vùng dậy. Bắt chước cha, anh mở vòi nước bên hiên nhà rửa tay, lau sạch sẽ rồi chắp tay vái lạy bức di thư. Đoạn anh bắt đầu mở phong thư. Bên trong có hai bức thư, viết theo thể chữ Hán – Nôm. Một bức có nét chữ rất mềm mại, nét mực rất mỏng. Bức còn lại chữ viết thô hơn, nhìn có vẻ rắn rỏi, bút pháp có lực, rõ ràng là do một người đàn ông viết, do Đức Đông Định Vương viết ra chăng. Vậy thì bức còn lại là do tổ mẫu viết rồi. Nghĩ vậy, David quyết định đọc bức thư của Tổ mẫu viết trước.

    An Nhơn, Gia Long đệ ngũ niên,

    Tử tôn yêu quý,

    Người để lại thư này là Tổ mẫu của các con, Trần Thị Gái – ái chà, tên của Tổ mẫu xấu quá nhỉ. Ta sinh thời là học trò của thầy giáo Hiến – sư phụ của Tổ phụ các con. Ta từ nhỏ đã được thầy nhận nuôi. Người thương yêu ta, đối đãi như con gái mình. Chính ta bị bỏ rơi từ thưở nằm nôi nên cũng không biết cha mẹ thân sinh là ai. Bởi thế, ta xem người như đấng sinh thành.

    Nhớ năm đó, ta vừa tròn mười tuổi, có ba thiếu niên họ Hồ từ An Nhơn lặn lội đến nhà thầy ta học nghệ. Nói đến đây chắc các con đã đoán được họ là ai. Cả ba người tiếp thu rất nhanh. Tuy còn niên thiếu đã thể hiện anh tư hơn người. Anh hai Hồ Nhạc uy dũng, âm trầm. Hồ Thơm khí khái, tâm tư nhạy bén. Hồ Lữ hơi kém so với hai anh, tính tình hiền hòa, có chút nhu nhược. Tuy nhiên, trong ba anh em, Hồ Lữ lại giỏi võ nhất, lại có trí thông minh không ai sánh bằng. Hồ Lữ năm đó cũng chỉ mười hai. Có lẽ vì thế mà ta cảm thấy gần gũi chàng nhất.

    Năm năm trôi qua, ta từ một cô bé chưa hiểu chuyện đã biến thành cô thiếu nữ mười lăm, đã biết mơ mộng Lữ ca cũng được mười tám. Chàng cao bốn thước tám tấc, tướng mạo nho nhã, anh tú. Hiềm nỗi chàng rất mê đá gà. Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén. Tình yêu bắt đầu nảy nở giữa hai chúng ta.

    Đến một ngày, ba anh em họ đến thưa với thầy, xin cho được xuống núi dựng nên nghiệp lớn. thầy ta đồng ý. Trước khi đi, thầy ta có dặn mấy câu:

    ‘...Các con đổi họ cho mau,

    Từ Hồ sang Nguyễn ứng câu sấm truyền

    ‘Thơm’ thành ra ‘Huệ’ mới yên,

    Binh thư, đao kiếm, côn quyền gia công...’

    Nghe lời thầy, ba anh em đổi họ. Chàng cũng theo đó mà đổi tên thành Nguyễn Văn Lữ hay nói gọn lại là Nguyễn Lữ. Trước khi đi, chàng hẹn ta đến đèo An Khê ngắm sao. Đêm hôm đó cũng chính là ngày chúng ta ước định chung thân. Chàng hẹn khi quê nhà an bình sẽ đón ta về. Buồn cười thay, vật định tình của chàng là… một con gà tên gọi Tướng Quân. Ta cũng kết cho chàng một đôi thủ sáo dùng làm tín vật.

    Mấy năm sau, chàng một mình lên núi gặp ta. Chàng nói, ba anh em đã dựng cờ khởi nghĩa và hạ thành Quy Nhơn. Sự nghiệp đã có, chàng cũng tính đến chuyện yên bề gia thất nên muốn đón ta đi. Chúng ta dắt nhau đến gặp thầy, cầu người đồng ý và chúc phúc. Lạy thầy ra đi, chúng ta nhanh chóng trở về Quy Nhơn. Với trí thông minh của mình, chàng được giao trọng trách xây dựng và bảo vệ hậu cần cho toàn quân. Về với chàng, anh hai Nhạc và anh ba Thơm không hề biết mình đã có thêm một người em dâu. Số là giờ đây chàng đã theo đạo Ma – ni và được gọi là Thầy Tư Lữ. Giới luật của đạo đối với nữ giới rất ngặt nghèo. Ta thân là vợ chàng thì không được xuất hiện nơi đông người, gặp người lạ cũng phải dùng khăn che đầu và mặt. Bởi thế, chẳng có mấy ai biết đến ta.

    Việc của chúng ta, nói đến thế là đủ. Ngày nay, giặc Ánh đã thống nhất giang sơn, định niên hiệu Gia Long. Sự đời truyền tụng “Lịch sử là do người chiến thắng viết”. Quả thế, bao nhiêu chiến công hiển hách, bao nhiêu điều tốt đẹp triều ta làm cho dân bị chúng phủ nhận, thư từ sách vở bị đốt sạch. Bởi vậy, ta viết tiếp đây là để cháu con hiểu rõ sự tích của tổ tiên, phòng ngày sau lại quên đi gốc gác.

    … đoạn này kể lại như lời ông Mạnh kể cho David…

    Năm Cảnh Thịnh đệ thất niên, giặc Ánh hạ thành Quy Nhơn. Lão bộc già Hồ Phúc khuyên ta trước chạy trốn khỏi thành, mang theo ấu tử Phi Long, phần lão, lão chạy theo hướng khác. Tội nghiệp lão. Quân của Võ Tánh tràn vào Quy Nhơn, có nhiều người nhận ra lão là người đã từng theo hầu Vương gia nên bắt đầu đuổi giết. Ta may mắn trốn ra khỏi thành, tìm đến đất An Nhơn. Bốn năm sau, giặc Ánh thống nhất đất nước, Hoàng tộc và tất cả nghĩa sĩ trung trinh bị tàn sát. May sao, nhờ trời và có lẽ được anh linh Vương gia chiếu cố, mẹ con ta an toàn. Để bảo toàn huyết mạch của Vương gia, ta quyết định đổi lại tên của nhi tử thành Hồ Phi Long.

    Than ôi, giang sơn rơi vào tay giặc Ánh. Khắp nơi, người người ngã xuống. Mỗi tấc đất đều thấm đẫm máu tươi. Lòng ta lại đau như cắt. Nay ta để lại cho con cháu chân dung của Vương gia cùng với gia huy của dòng họ. Vật này thực tế được gắn trên thủ sáo ta tặng chàng năm xưa. Ta không biết nó làm từ đâu. Nhưng chàng đã từng nói với ta, khi nó quay về với thủ sáo, đất trời sẽ thay đổi. Thế mà, than ôi! Gia huy còn đây mà thủ sáo đã thất lạc.

    Vậy nay ta truyền cho con cháu. Đời đời phải nhớ đến gốc gác của mình. Mỗi thế hệ tử tôn phải tìm mọi cách để thu hồi lại thủ sáo. Để cho lần nữa thủ sáo và gia huy quy nhất. Để đất trời thay đổi, định càn khôn. Để đánh tan giặc Ánh, thu giang sơn về một mối.

    Tổ mẫu Trần thị lưu thư.

    Đọc hết thư, David bất giác mỉm cười. Anh tự nhủ, điều này có thể chăng. Một cái gia huy và một đôi găng tay thì làm được gì? Khỏi phải nói đến đất trời thay đổi, định càn khôn. Không lẽ gia huy và thủ sáo kết hợp sẽ có thể làm ra phép thuật? Rõ ràng là Tổ mẫu quá mê tín rồi. Nếu đúng thế thì ngày xưa Tổ phụ chẳng phải là biết làm phép sao? Vậy sao Người còn phải chết?

    Đặt bức di thư xuống, David cầm bức thư thứ hai lên.

    Quy Nhơn thành, Thái Đức đệ thập niên (1787)

    Phu nhân yêu quý, cô gà mái mơ đáng yêu của ta,…

    David bỗng cười sặc sụa. Tổ phụ quả là người mê gà đến chết. Lại hài hước nữa. Ai lại gọi vợ mình là một con gà, vậy Ngài chả là một con gà trống sao.

    Ta có lẽ sắp không xong rồi. Ta viết ra đây mấy lời nhắn nhủ nàng. Ta không giỏi văn chương, nàng cũng hiểu. Thế nên nàng đừng cười khi đọc lên lại chẳng thấy hay ho gì nhé.

    Nàng có nhớ lần chúng ta thề ước chung thân không? Chúng ta cùng ngắm sao băng ở đèo An Khê. Hôm ấy, khi ngôi sao băng bay qua, ta nhìn thấy nơi xa xa lóe lên ánh chớp và lửa bốc lên. Dĩ nhiên đó chỉ là đốm lửa nhỏ thôi, không ai chú ý. Sáng hôm sau, ta lần đến nơi phát ra ánh chớp. Nàng đoán xem ta nhìn thấy thứ gì. Một tảng đá kỳ lạ. Đứng cách xa tảng đá chừng một trượng (khoảng 4m), thanh bội kiếm hay đeo bên mình bỗng rung lên. Tiến lại gần hơn, cuối cùng thanh kiếm cũng bay ra và dính chặt vào tảng đá. Phải khó khăn lắm ta mới rút được thanh kiếm ra, buộc chặt bên người. Ta bỗng nghĩ ra một ý: Đem về đập nhỏ ra, đính mấy viên đá nhỏ lên thủ sáo định tình của chúng ta. Lúc ra trận, chỉ cần đưa tay ra vũ khí của giặc sẽ tự nhiên rời tay chúng, thế là ta tha hồ mà chém giết. Ha… ha… Nàng thấy ta thông minh không.

    Oh my god!!! Tổ phụ điên mất rồi à? Ngài làm như thế khác nào hút vũ khí đối phương bay về phía mình? Không khéo khi Ngài giơ tay lên cũng chính là lúc Ngài biến thành con nhím mất thôi. Mà tảng đá này chắc là một khối nam châm to đây.

    Nghĩ đến đây, ta khệ nệ ôm tảng đá quay về. Ta sai người đục tảng đá. Ta đem năm viên đá kích thước từ lớn đến nhỏ đính lên thủ sáo bên tay phải. Ta lại lấy một miếng to hơn, đẽo thành hình tròn và khắc lên đó gia huy của chúng ta – Lão Kim Kê. Sau đó, ta đính gia huy này lên mu thủ sáo tay phải theo thế chúng tinh ủng nguyệt. Phần đá còn lại cùng mấy mảnh vụn, ta đem cất, sau này có việc dùng.

    Lạy Thánh Ala! Lúc này lại có vấn đề. Khi đem thủ sáo ra thử, ta sợ bay mất hồn vía khi thấy gươm giáo xung quanh bay lại – hi… hi… bây giờ Ngài mới phát hiện ra sao Tổ phụ. Ta vội vàng gỡ tấm gia huy ra, lực hút bỗng nhiên yếu hơn. À, có một sự lạ nữa, ta thấy từ trên trời bỗng chốc xuất hiện một cơn lốc nhỏ hướng tới thủ sáo. Khi gỡ tấm gia huy ra thì không còn thấy nữa. Vả lại, lúc này thủ sáo dùng được rồi. Ta sai hai tên thủ binh tiến lại, tay cầm giáo. Ta đưa tay lên, hai ngọn giáo rung rung, thế nhưng chúng bị giữ lại. Hai tên thủ binh cảm thấy vẫn cần được giáo nhưng xem ra lóng ngóng lắm và có điều khó khăn. Ha… ha… đại công cáo thành. Vậy là ta có cách để giết địch dễ dàng rồi.

    Hôm trước, ta có gặp giáo hữu Mộ Tôn (Mosul). Anh ta kể một câu chuyện ly kỳ. Số là nửa năm trước anh mới trở về từ một nơi gọi là Tam giác Bẹc gì đó – chắc là tam giác quỷ Bermuda, David nghĩ – cùng với thương đội trên biển. Thương đội anh gồm năm chiếc thuyền. Khi tiến về vùng biển này, họ bỗng thấy một cơn lốc. Ba chiếc thuyền bị cuốn vào, thế rồi biến mất tăm, con lốc cũng tan đi. Anh ta nói chúng như là bị Thánh Ala lấy đi một cách kỳ bí vậy.

    Ta bỗng nảy ra một ý. Không phải hôm trước khi thử đính những viên đá lên thủ sáo thì xuất hiện một cơn lốc sao? Mà khi đó, phải có sáu viên đá mới xuất hiện cơn lốc. Bằng chứng là khi lấy ra viên lớn nhất thì cơn lốc kia biến mất. Ta bỗng nghỉ ra một ý kiến. Nếu mình dùng mấy mẫu đá vụn xếp thành hình lục lăng thì biết đâu nó lại làm xuất hiện cơn lốc, kẻ thù chả phải là biến mất sao. Nghĩ là làm. Ta sắp sáu viên đá ra sân. Ai mà ngờ, chúng chỉ bị hút dính lại với nhau. Ta lại thử cố định chúng trên đất… Không có gì xảy ra, ta lại nghĩ, chẳng phải sáu viên đá trên thủ sáo có kích cỡ từ nhỏ đến lớn sao. Ta lại sắp những mẫu đá vụn theo thứ tự từ nhỏ đến lớn. Quả nhiên một cơn lốc xuất hiện. Đá bay, cát nhảy khắp nơi. Rồi cơn lốc biến mất. Ta dáo dác nhìn xung quanh xem thử có thay đổi gì không. Ôi trời ơi, con Nhị tướng quân của ta biến mất rồi, con gà của ta ấy mà. Ta hí hửng đem việc này thưa lại cho anh Ba. Kết quả, ta bị một trận mắn té tát. Anh ta nói: “Cứ cho là vậy đi. Thế chú quên mất nếu xảy ra việc này, chẳng những giặc biến mất mà binh sĩ của ta cũng phải biến mất sao?”

    Từ đó đến nay cũng đã mấy năm rồi. Ta cũng quên mất việc đó. Cách nay mấy hôm, ta thấy một việc hết sức kỳ lạ. Ta không tin vào mắt mình nữa. Nàng biết ta thấy gì không? Con Nhị Tướng Quân. Thề có Thánh Ala, ta quả thấy con Nhị Tướng Quân vốn biến mất năm xưa. Ta chạy vội đến ôm nó. Kiểm tra nơi cựa bên phải, ta thấy quả là có khắc tên nó. Ta hay làm điều này với mấy con gà của mình nên biết chắc. Như vậy là cơn lốc kia không làm người ta biến mất, mà nó làm người ta vượt qua thời gian. Ta cố nhớ lại. Ngày trước ta sắp xếp mấy viên đá theo thứ tự ngược với thứ tự trên thủ sáo. Con gà biến mất và nay lại xuất hiện. Ta cũng nhớ lại, cơn lốc xuất hiện khi ta đính đá vào thủ sáo lại xoay ngược chiều. Như vậy không phải là nếu cơn lốc quay ngược sẽ đem người ta quay về quá khứ hay sao?

    Ta cảm thấy hết sức vui mừng. Thế mà hỡi ôi, những mẫu đá ngày xưa nay mất rồi. Đôi thủ sáo ngày xưa cũng mất. Ta không thể nào thực nghiệm nữa. Việc mất đi thủ sáo cũng báo hiệu cho ta biết ngày về với Thánh Ala cũng không còn xa nữa. Thôi thì nàng hãy ghi nhớ. Sau này, nàng và hậu nhân cố gắng tìm về đôi thủ sáo đó. Biết đâu hậu nhân có thể trở về quá khứ, gặp được ta và thay đổi được mọi điều.

    Nhớ lấy, cô gà mái mơ của ta.

    Thư kết thúc ở đây. David bất giác chìm vào suy tưởng. Phản khoa học. Tất cả đều là phản khoa học. Có lẽ khi Tổ phụ sắp chết lại trông gà hóa cuốc. Hoặc cơn lốc kia là lúc Ngài không còn tỉnh táo mà hình dung ra chăng? Hoặc là Ngài bị chơi khăm? Có thể lắm chứ. Tổ mẫu lại không biết, lại nghĩ việc này là thật. Lại mê tín nữa, nghĩ rằng điều này có thể xảy ra. Con cháu có thể quay về quá khứ, sửa đổi lại dòng chảy lịch sử.

    David suy nghĩ mông lung. Có lẽ tất cả chỉ là sự hiểu nhầm và mê tín thôi. Không thể xảy ra việc đó thật. Dù con cháu có tìm ra đôi thủ sáo cũng chẳng có gì xảy ra. Thế nhưng, phận là con cháu, nếu có thời gian và điều kiện, mình cũng nên tìm kiếm. Xem như để thỏa chí nguyện cuối cùng của Tổ tiên vậy. Nghĩ đến đó, anh bỏ tất cả vào lại trong hòm, khóa lại. Sau đó anh đem cái hòm vào phòng cất và đi ngủ.
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/12/15
    Thỏ Ngọc thích bài này.
  4. Tĩnh Hạ

    Tĩnh Hạ

    Bài viết:
    124
    Đã được thích:
    157
    Điểm thành tích:
    43

    Chương 4: Biến cố ở bảo tàng Quang Trung

    - David… David… Cháu làm sao thế? Cháu làm gì mà thẩn thờ rồi cười một mình thế?

    - À… à… không có gì đâu, bác Tom ạ. Chỉ là khi đặt chân đến Viện Bảo tàng, cháu chợt nhớ đến lời dặn của ba thôi.

    Tom cũng tham gia chuyến đi thăm Việt Nam lần này. Ông cũng muốn về thăm lại Việt Nam – chiến trường xưa. Mặt khác, ông cũng muốn viết một bài về Việt Nam sau mười năm bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ.

    - Sao? Ba cháu dặn gì?

    - E hèm!!! Ba cháu dặn thế này. Bác Tom của con là nhà báo, cái tính thích chạy lung tung chụp hình. Con nhớ giữ chân bác. Không khéo bác chụp bừa rồi bị…

    Cốp!!! David ăn một cú cốc đầu rõ đau.

    - Hừ! Đúng là cha nào con nấy. Cha con hai người là chuyên gia nói móc thiên hạ. Đi tiếp thôi.

    “Đây là tủ trưng bày binh khí của Tây Sơn Tam Kiệt…” Giọng cô hướng dẫn viên lại tiếp tục vang lên. “Bên tay trái của quý vị là binh khí thành danh của Thái Đức Hoàng Đế Nguyễn Nhạc – Độc Thần Kiếm. Tương truyền một hôm, Nguyễn Nhạc cùng bộ hạ ở An Khê về đến Hoành Sơn thì ngựa Nguyễn Nhạc lồng lên, rồi thẳng cổ phi nước đại. Đến chân núi phía trong gò Sặt, cương ngựa bị đứt Nguyễn Nhạc té nhào xuống ngựa, trật chân không đứng dậy được. Đám tùy tùng chạy đến xoa bóp hồi lâu mới bớt. Khi đứng dậy để lên ngựa thì Nguyễn Nhạc chợt thấy chuôi kiếm ló ra nơi vách đá trên sườn núi. Sai người lên xem thì là một thanh cổ kiếm, lưỡi sáng như nước. Ai nấy đều mừng là kiếm trời ban. Do tích được kiếm của Nguyễn Nhạc tại đây nên núi mang tên là hòn Kiếm Sơn. Tuy nhiên, theo ghi chép của sử sách, đây chỉ là một thanh cổ kiếm mà Nguyễn Nhạc vô tình mua được. Sau ông lại sai thân tín dựng lên câu chuyện trên để thần thánh hóa cuộc khởi nghĩa. Qua câu chuyện, nhân dân khắp nơi đều cho rằng ông lĩnh mạng trời thống nhất giang sơn.

    Bên tay phải quý vị là thanh Ô Long Đao. Đây là thanh đao của Nguyễn Huệ. Truyền rằng một hôm Nguyễn Huệ đi tuần nơi đèo An Khê, khi cùng anh là Nguyễn Nhạc lo xây dựng cơ đồ khởi nghĩa. Để tạo nên một không khí thần linh, Nguyễn Huệ đã loan tin là trong dịp đi tuần này có hai con rắn mun to lớn đón đường dâng đao rồi từ tạ vào rừng. Tại nơi rắn dâng đao, Nguyễn Huệ cho lập miếu thờ gọi là Miếu xà.

    Thanh Ô Long đao, cán bằng gỗ mun đen nhánh, lưỡi đao cũng bằng một loại kim khí màu đen. Khi đao ra khỏi vỏ thì khí lạnh tỏa ra một vùng khá rộng. Thanh đao không có hào quang mà chỉ có khí lạnh, đồng thời sắc bén vô cùng. Trọng lượng rất nặng.

    Đây cũng là tủ trưng bày đáng chú ý cuối cùng của Bảo tàng, ngoài ra, phía bên ngoài còn có vài tủ trưng bày những vũ khí phổ thông của nhà Tây Sơn. Quý vị có thể xem tự nhiên. Đến đây có quý vị nào muốn đặt câu hỏi không ạ?”

    - Tây Sơn Tam Kiệt là ba anh em. Ở đây chỉ trưng bày binh khí của hai người. Thế còn binh khí của người thứ ba đâu? Một vị khách nữ giơ tay đặt câu hỏi.

    - Ý cô hỏi là binh khí của Nguyễn Lữ đúng không ạ? Chúng tôi đã tham khảo rất nhiều tài liệu. Đồng thời cũng bỏ công sưu tầm khắp nơi. Đáng tiếc lại không thể tìm được. Chỉ biết ông cũng dùng kiếm như Nguyễn Nhạc. Ông có một thanh đoản kiếm hay đeo ở bên mình. Tuy nhiên, không ai biết hình dạng của nó ra sao và không biết tung tích.

    Một vài vị khách khác cũng đặt câu hỏi. Thế nhưng, lúc này David không nghe được gì. Anh chỉ biết từ khi bước vào khu vực trưng bày vũ khí, anh có một cảm giác rất lạ. Anh cũng cảm giác ngực mình nóng lên như có ai đó dùng một vật hình tròn rất nóng đóng vào ngực vậy. Cảm giác này mỗi ngày một lớn hơn. Chiếc huy hiệu anh đeo trước ngực không biết vì sao lại rung nhẹ, rồi mạnh dần, mạnh dần. David mở nút áo, tháo sợ dây chuyền trên cổ xuống. Chiếc huy hiệu treo tòong teng trên đó. Trước khi về Việt Nam, anh có nhờ thợ kim hoàn đục một lỗ nhỏ rồi dùng sợi dây chuyền xỏ qua và đeo trước ngực. Cầm di vật của Tổ phụ trên tay, David cảm nhận rõ ràng nó đang rung và… rất nóng.

    “Chuyện quái gì xảy ra thế này? – David kinh hãi, thầm nghĩ. Tại sao chiếc huy hiệu lại có phản ứng mạnh mẽ thế? Đây rõ ràng chỉ là một chiếc huy hiệu bình thường thôi mà. Mình cũng thử dùng chất bột rơi ra khi đục lỗ đem đi xét nghiệm. Chất liệu rõ ràng là một loại đá nam châm, có khác chăng hàm lượng sắt cao hơn bình thường và lại có một ít Titannium thôi. Lẽ nào… lẽ nào… lẽ nào…”

    Anh chợt thốt lên ba tiếng lẽ nào rồi tiến nhanh lại tủ trưng bày binh khí phổ thông. Tim anh đập mạnh hơn. David có cảm giác tim mình cũng đập mạnh dần lên theo mỗi bước chân anh đi tới. Còn ba bước… hai bước… một bước… Anh chợt cảm thấy không thể tin nổi vào mắt mình. Nó nằm đó, xen lẫn giữa những thanh trảm mã đao là một đôi găng tay, à phải nói là thủ sáo thì đúng hơn. Đôi thủ sáo làm bằng da hổ, trên thủ sáo tay phải có đính năm viên đá màu đỏ bầm, trong suốt, kích thước nhỏ dần tính từ vị trí ngón tay cái đến ngón út. Bên dưới là một tấm biển nhỏ: “Thủ sáo, một loại găng mà những võ sĩ tay không thường đeo để bảo vệ tay và tăng tính sát thương”.

    “Đúng là nó rồi. Y như miêu tả của Tổ phụ. Có lẽ nhân viên Bảo tàng đã sưu tầm được từ lâu nhưng không hề biết đây chính là cặp thủ sáo của vị anh hùng thứ ba nhà Tây Sơn. Họ nghĩ rằng đây chỉ là loại binh khí bình thường của binh sĩ Tây Sơn thời đó”.

    Lúc này, cặp thủ sáo cũng rung lên. Nó va vào thành tủ kính. Những viên đá đập mạnh vào thành kính như muốn phá vỡ ngục tù đang giam giữ chúng. Tiếng va đập ngày càng lớn, thu hút hầu như tất cả ánh nhìn của các khách tham quam quan. Tom cũng lấy máy chụp hình bấm liên tục. Gương mặt ông thể hiện sự kinh ngạc tột độ. “Chúa ơi!!!!! Có ma chăng?” Ông thầm kêu lên trong lòng.

    Choeng. Cuối cùng, một tiếng vỡ thanh thúy của thủy tinh vang lên. Đôi thủ sáo bay thẳng đến tay David. Xảo hợp làm sao, chiếc huy hiệu lại nằm đúng vị trí của nó – phía trên mu bàn tay phải của cặp thủ sáo. Tức thì trong thinh không lại vang lên tiếng gió rít gào. Một cơn lốc xoáy với tốc độ gió kinh khủng xuất hiện. David phỏng chừng cũng phải đạt trên một trăm dặm giờ. Tốc độ xoay của gió càng lúc càng tăng lên. David lại có cảm giác dần tiếp cận đến vận tốc âm thanh.

    Đùng… một tiếng nổ lớn vang lên. David thấy mình như bị cuốn vào ơn lốc. Mọi âm thanh chợt ngưng lại, không có tiếng gió thét gào, không có tiếng la kinh hoảng của khách thăm bảo tàng. Khung cảnh cũng gần như ngưng lại, mọi người xung quanh như đứng bất động, chỉ có anh xoay tròn theo cơn lốc xoáy. Hình ảnh cuối cùng đập vào mắt anh là bác Tom với khuôn mặt kinh hoảng đến tột độ. Trong một tích tắc sau đó, mọi thứ tối sầm lại. anh cố gắng nhướng mí mắt lên, cố nhìn xung quanh nhưng không thấy gì. Các cảm giác cũng dần mất đi. Và cuối cùng, anh không còn biết đến gì hết.

    Cùng lúc đó, tưởng chừng như chỉ trong một cái chớp mắt, cơn lốc xoáy xuất hiện rồi lại biến mất. Nó để lại một hiện trường ngổn ngang với những con người đang thất kinh hồn vía. David cũng bất chợt biến mất khỏi tầm mắt mọi người. Không có một âm thanh nào phát ra trừ tiếng thét kinh hoàng của Tom “D… A… V… I… D…”
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/12/15
  5. Tĩnh Hạ

    Tĩnh Hạ

    Bài viết:
    124
    Đã được thích:
    157
    Điểm thành tích:
    43

    Chương 5: Xuyên việt

    - A… a… a…

    Một tiếng thét chói tai vang lên như muốn xé tan màn đêm tĩnh mịch. Giữa một căn phòng với những bức màn màu vàng thêu hình rồng bằng chỉ kim tuyến, thiếu niên ngồi bật dậy. Trán lấm tấm mồ hôi, thiếu niên dáo dác nhìn khung cảnh lạ lẫm xung quanh. Dưới ánh sáng leo lét của những ngọn nến, thiếu niên nhận thấy đây là một phòng ngủ rất rộng lớn. Những vật dụng bày biện ở đây đều thấp thoáng có màu vàng kim. Cả căn phòng toát lên vẻ xa hoa, lộng lẫy. Trong ánh sáng mờ ảo, mọi vật nhìn có vẻ lung linh, huyền ảo. Thiếu niên dụi mắt, bất giác thốt lên:

    - Mình đang ở đâu đây? Bây giờ là mấy giờ rồi?

    Thiếu niên đứng lên, đi dạo khắp phòng, trong đầu hiện lên vô vàn câu hỏi. Cậu tiến lại chiếc bàn dài đặt đối diện giường ngủ. Đây là một chiếc hương án làm bằng gỗ lim với bốn chân được chạm khắc hình rồng trông rất sinh động. Phía trên phủ một tấm vải điều viền thêu kim tuyến. Giữa bàn có hai cuốn sổ nhỏ bìa lụa màu đỏ, bên ngoài viết một dòng chữ Hán. Thiếu niên cầm một cuốn lên, mở ra. Thì ra cuốn sổ này thực chất chỉ là hai tấm bìa, bên trong dán một tờ giấy gió cũng viết toàn chữ Hán.

    “Thần, Thái Úy Lê Văn Hưng kính tấu” thiếu niên bổng choáng váng khi đọc thầm dòng chữ hán bên ngoài. “Chuyện gì xảy ra đây? Đây là một bản tấu chương”. Bỏ cuốn sổ này xuống, cậu lại cầm cuốn còn lại lên. “Thần, Phụ chính Trần Văn Kỷ kính tấu”.

    - Á… á… á… Đau đầu quá. Chuyện gì thế này? Mình không phải là đang ở Bảo tàng Quang Trung sao? Còn nữa, thân thể này là sao đây? Rõ ràng là thân thể của một bé trai khoảng mười một, mười hai mà.

    Thì ra thiếu niên chính là David Ho. Thế nhưng mọi chuyện sao lại như thế này? Anh đang ở đâu? Bỗng nhiên, bên ngoài có tiếng bước chân chạy rầm rập, cau đó là tiếng đập cửa.

    - Hoàng thượng… Hoàng thượng… Người không sao chứ? Hoàng thượng… Hoàng thượng.

    “Gì nữa đây? Hoàng thượng? Ai là Hoàng thượng?” – David lẩm bẩm rồi ra mở cửa phòng. Trước cửa là một người đàn ông, thoạt nhìn tầm bốn mươi tuổi, mặc một bộ cổ trang như trong những bộ phim kiếm hiệp dã sử David đã từng xem trước đây. Nhìn thấy David, ông ta quỳ sụp xuống vái lạy, cất giọng the thé:

    - Hoàng thượng… Người không sao chứ? Xin thứ tội thần chậm trễ hộ giá.

    “Ông ta nói với mình ư? Mình là vua sao?” – David lại tự hỏi.

    - Tôi… tôi… À… Trẫm… trẫm không sao. Ông là…

    - Khải bẩm. Thần là Tổng quản Nội vụ Vũ Tâm Can. Bệ hạ không nhận ra thần sao? Chắc là… chắc là Bệ hạ vì bị sét đánh năm hôm trước nay mới tỉnh dậy, đầu óc còn choáng váng nên mới không nhận ra thần.

    “A… thì ra mình đúng là vua. Nhưng mà vua của nước nào? Thời đại nào? Sao mình lại không biết nhỉ?” Lúc này David choáng váng thật sự. “Thôi kệ, cứ để xem sao”

    - Vậy à? Chắc là thế. Thôi, trẫm không sao. Khanh cứ đứng dậy đi. Trời cũng khuya rồi, khanh cứ về nghỉ ngơi đi.

    - Tạ ơn bệ hạ. Kính mong bệ hạ bảo trọng long thể. Giờ bệ hạ đã không sao. Không biết ngày mai bệ hạ có thiết triều không ạ? Hay là nghỉ ngơi thêm một hôm nữa cho khỏe hẳn?

    - À không cần. Ngày mai trẫm sẽ lên triều. Ngủ suốt năm ngày rồi, ngủ nữa chắc xương cốt cũng mục rữa mất thôi.

    “Sao hôm nay Hoàng thượng nói chuyện lạ thế nhỉ? Xương cốt mục rữa mất là thế nào? Từ khi nào Hoàng thượng lại nói chuyện ra có vẻ cao thâm thế?”, nghĩ vậy, Vũ Tâm Can nói tiếp.

    - Vậy thần xin lui xuống trước. Sáng sớm thần sẽ đánh thức bệ hạ dậy. Người cũng nghỉ ngơi thêm chút đi.

    David cũng gật đầu rồi vẫy tay ra hiệu cho ông ta ra ngoài. Lúc này, trong đầu David bỗng nhiên kéo đến một trận đau nhức khó tả. Rồi sau đó là hàng ngàn thông tin hiện ra trong óc. Thì ra, sau khi bị cuốn vào cơn lốc xoáy, linh hồn anh bị xuất ra, bị kéo về quá khứ. Cùng lúc này, cậu thiếu niên này, chính là vua Cảnh Thịnh đang chơi đá gà với Vũ Tâm Can trong Nội uyển bỗng dưng bị một tia sét đánh trúng, bất tỉnh. Linh hồn của David bị kéo đến đây, nhập vào thân xác của Cảnh Thịnh. Việc này xảy ra vào năm ngày trước.

    “Hóa ra là thế. Mình tìm thấy đôi thủ sáo của Tổ phụ. Hai phần của món binh khí gặp nhau, phát sinh ra một cơn lốc rồi kéo mình về quá khứ. Ra là vậy. Nhưng việc này rõ ràng là phản khoa học mà”. Đến lúc này, David vẫn dùng cái suy nghĩ của một nhà khoa học mà phân tích mọi việc.

    Anh nằm xuống giường, à, phải nói là Long sàng mới đúng, vắt tay lên trán và suy nghĩ. Anh lục lòi mớ kiến thức trong đầu, cố tìm cho mình một lý do hợp logic. À, nhớ rồi. Trước khi anh hoàn thành luận án Master Vật lý – Nano, anh là một Cử nhân khoa Vật lý – Lượng tử. David đã từng đọc một giả thuyết của một vị Giáo sư đầu ngành đăng trên chuyên san “Khoa học và thường thức”, số mấy thì anh quên mất rồi. Chỉ nhớ ông ta đã từng nói: Khi một vật (hoặc ai đó) chuyển động với vận tốc bằng hoặc vượt qua bức tường ánh sáng, nó (hoặc người đó) có thể vượt qua được giới hạn của thời gian và xuất hiện ở một thời điểm nào đó trong tương lai hoặc quá khứ. Có lẽ đây chính là lý do thuyết phục nhất. “Đúng rồi. Mình nhớ là vận tốc gió của cơn lốc xoáy lúc đó theo cảm nhận dần vượt qua vận tốc âm thanh rồi lại tiếp tục tăng tốc. Mình cũng không còn nghe bất kỳ âm thanh nào hết và mọi người, mọi vật dường như đứng bất động. Vậy là mình bị cuốn vào cơn lốc. Mình theo đó bắt đầu chuyển động nhanh dần rồi vượt qua bức tường ánh sáng. Cuối cùng, mình bị kéo về quá khứ và nhập vào vua Cảnh Thịnh mới bị sét đánh, lúc đó chắc cũng ô hô a tai rồi, sét đánh thì có mấy ai còn sống được, huống chi đây mới chỉ là một đứa trẻ”.

    Đã tìm được nguyên nhân, David cảm thấy nhẹ lòng hơn. Tuy vậy, ở đây còn một vấn đề nữa. Linh hồn. Đúng vậy, “tại sao là mình chỉ có linh hồn? Còn thân xác mình lại như thế nào mà biến mất?”. David là người theo đạo Công giáo nên luôn tin tưởng là có linh hồn. Và sự thật chứng minh là có linh hồn, chẳng phải là anh nhập hồn vào Cảnh Thịnh sao.

    Lại một lần nữa David chìm vào suy tư. Trước đây, David có từng nghe một vị Giáo sư Sử học có nói: “Lịch sử là một dòng sông không có phân nhánh. Nếu như có ai trở về quá khứ, và tác động vào, dòng chảy này sẽ thay đổi, đi theo một hướng khác. Mọi việc ở hiện tại sẽ không như hiện tại nữa”.

    Vậy là rõ rồi. David ngồi bật dậy, tiến lại hương án – giờ đây anh biết đó chính là bàn làm việc của anh. Cầm cây cây bút lông lên, chấm vào nghiên mực đặt gần đó và vẽ vào tờ giấy lấy bên cạnh một sơ đồ.

    “Vậy là các mảnh đá trên thủ sáo và gia huy gặp nhau. Chúng tạo nên một vòng từ trường, trong di thư của Tổ phụ chả nhắc đến Tam giác quỷ Bermuda là gì, mà bí mật của nó cũng được phơi bày, đó là bởi vì từ trường. Vòng từ trường lớn dần và sinh ra cơn lốc. Cơn lốc cuốn mình vào và tăng tốc. Mình vượt qua bức tường ánh sáng và bị kéo về quá khứ. Mình trở về quá khứ ngay tại Nội uyển có lẽ làm từ trường làm trên trời phát sinh tia sét, đánh thẳng xuống đầu Cảnh Thịnh. Cảnh Thịnh chết, vậy là mình đã thay đổi dòng chảy lịch sử. Theo đó, thân thể mình cũng tan biến vì thực tế nó đã không còn ‘từng tồn tại’. Linh hồn mình nhập vào thân xác vẫn còn hơi ấm của Cảnh Thịnh và mê man đến giờ mới tỉnh lại”.

    “Bingo!!!!! Đã tìm ra đáp án rồi. Thôi tranh thủ trời còn tối, ngủ thêm một luc nữa vậy. Nghe nói thời này vua chúa phải dậy sớm lắm, khoảng năm hay sáu giờ để thiết triều”. Đặt cây viết xuống, David nở một nụ cười thỏa mãn. Anh tiến lại giường, đặt lưng xuống, bắt đầu ngủ
     
    Chỉnh sửa cuối: 28/12/15
Trạng thái chủ đề:
Không mở trả lời sau này.