Full Lễ tế mùa xuân

Thảo luận trong 'Truyện trinh thám' bắt đầu bởi Thỏ Ngọc, 21/7/17.

  1. Thỏ Ngọc

    Thỏ Ngọc ❀๖ۣۜWo♫๖ۣۜAi♫๖ۣۜNi❀๖ۣۜINever♈๖ۣۜCry♀Cross♕ Thành viên BQT Tác giả VW

    Bài viết:
    9,743
    Đã được thích:
    9,411
    Điểm thành tích:
    113
    "Lễ tế mùa xuân" có tên gốc là Nguyên Niên Xuân Chi Tế, tác giả đã giải thích lý do tại sao cô ấy đặt tên tác phẩm là Nguyên Niên Xuân Chi Tế (Lễ tế mùa xuân) như sau:

    "Thực ra thì năm chữ ấy là sự kết hợp giữa ba chữ “Nguyên niên xuân ” bắt nguồn từ Kinh Xuân Thu và tên vở ballet Xuân chi tế (tức vở Le Sacre du printemps) của Igor Stravinsky .

    Tôi chọn ba chữ trong Kinh Xuân Thu bởi vì bộ tiểu thuyết này là mở đầu của toàn bộ series về Vu Lăng Quỳ, mà nàng ấy lại sống ở thời Hán Vũ đế, cũng chính là thời kỳ hưng khởi của Xuân Thu học. Cho dù Đổng Trọng Thư không thể sống tới năm mà tiểu thuyết bắt đầu, nhưng những kiến thức mà ông để lại vẫn tồn tại, tinh hoa tuyệt mỹ, nữ chính dưới ngòi bút của tôi cũng phần nào hướng về điều ấy."

    Chú thích: Đổng Trọng Thư là một nhà triết học duy tâm thời Tây Hán.

    Nguyên niên xuân chi tế: Lễ tế mùa xuân vào năm thứ nhất.

    Giải thích về bìa sách:

    Tên của các nhân vật chính trong truyện đều là tên những loài hoa và hương thảo được nhắc đến trong "Sở Từ" của Khuất Nguyên, hơn nữa truyện lấy nhân vật nữ làm trung tâm, nên bìa sách vẽ về những loài hoa với nét nữ tính cổ điển, pha lẫn nét kì bí mông lung của huyền học và trinh thám, với lại câu chuyện diễn ra vào mùa xuân, mùa hoa cỏ thắm sắc khoe hương...

    ###########

    Giới thiệu



    Năm Thiên Hán thứ nhất, Vu Lăng Quỳ - một thiếu nữ quý tộc ở thành Trường An lần đầu tới thăm Vân Mộng Trạch, thế rồi những quan điểm mà nàng đưa ra đã khiến gia tộc họ Quan từng chấp chưởng việc tế bái quốc gia của nước Sở - phải chấn động. Vì nối tiếp quy củ đời đời, là một trưởng nữ - Vu Lăng Quỳ phải trở thành “Vu nhi” chủ trì việc tế bái trong gia tộc, cả đời không được lấy chồng. Trong chuyến đi lần này, quan hệ giữa nàng và ái nữ Quan Lộ Thân của gia tộc họ Quan luôn căng thẳng bất hòa. Trong khi đó, những vụ án mạng đột ngột xảy ra liên tiếp khiến Quan Lộ Thân càng thêm nghi ngờ - phải chăng kẻ ngoại tộc Vu Lăng Quỳ chính là ngọn nguồn của mọi cơn ác mộng.



    Rốt cuộc ai mới là hung thủ thực sự đứng sau tất cả? Rốt cuộc động cơ của hung thủ là gì? Liệu động cơ ấy có liên quan tới việc tế bái thờ phụng, hay có liên hệ với vụ huyết án của gia tộc họ Quan bốn năm về trước? Đánh cược bằng danh dự của cả gia tộc mình, Vu Lăng Quỳ quyết tâm tìm ra kẻ thủ ác…

    ---------------------

    Lục Thu Trà



    Tác giả Lục Thu Trà, sinh năm 1988 ở Bắc Kinh, là thạc sĩ chuyên ngành Văn hiến học cổ điển của Đại học Phúc Đán. Thời đi học cô từng là thành viên của Hiệp Hội trinh thám Đại học Phúc Đán. Hiện đang sống tại Kanazawa, Nhật Bản. Cô từng giành được giải thưởng tác giả mới xuất sắc nhất của “Cuộc thi viết trinh thám Trung Quốc” lần hai nhờ tác phẩm “Khúc dạo đầu”, cũng đăng tải series trinh thám cùng tên trên tạp chí “Trinh thám - Tuế Nguyệt”. Lục Thu Trà thích đọc tiểu thuyết trinh thám Nhật Bản, chịu ảnh hưởng lớn của các tác giả như Shinzo Mitsuda, Yutaka Maya, Rintaro Norizuki, Honobu Yonezawa, Tomoko Kano…
     
  2. Thỏ Ngọc

    Thỏ Ngọc ❀๖ۣۜWo♫๖ۣۜAi♫๖ۣۜNi❀๖ۣۜINever♈๖ۣۜCry♀Cross♕ Thành viên BQT Tác giả VW

    Bài viết:
    9,743
    Đã được thích:
    9,411
    Điểm thành tích:
    113

    P1-Chương 1+2

    [1]


    Năm mới xuân sang chừ, ngày dài đằng đẵng.



    Gột tấm thương, ta vui chơi chừ,



    Theo Giang, Hạ cho đỡ lòng lo lắng!*



    * Hai câu thơ được trích từ tác phẩm Cửu chương - Tư mỹ nhân của nhà thơ Khuất Nguyên người nước Sở cuối thời Chiến Quốc. Bản dịch của Nhượng Tống.

    ***

    [1]



    Năm Thiên Hán* thứ nhất.



    * Niên hiệu thứ tám của thời Hán Vũ đế. Triều Hán sử dụng niên hiệu này tổng cộng bốn năm.



    Dưới bóng chiều cuối xuân, có một thiếu nữ đang cầm cung săn chim trĩ giữa rừng hoang ở Vân Mộng. Nàng mặc áo khoác ngắn và váy dài, đeo ống đựng tên bằng da tê giác, trông như người tập võ. Còn một thiếu nữ khác là người bản địa thì đang đứng trong bóng cây, mặc áo tay hẹp, gắng chịu đựng cái oi bức của buổi chiều tà, trong tay còn cầm con mồi mà bạn nàng vừa săn được.



    Cây cung trong tay thiếu nữ là do cha nàng tặng, được thợ thủ công Trường An chế tác theo phương thức cổ xưa. Phải mất hơn một năm mới có thể tạo ra một cây cung như vậy. Thân cung được làm từ gỗ chá của quận Đông Hải chặt vào mùa đông. Sau đầu xuân, dùng sừng trâu được lấy xuống từ mùa thu năm trước đi ngâm tẩm, chuẩn bị sử dụng. Lại tinh chế gân hươu vào mùa hè. Thu sang, lấy sừng trâu và gân hươu đã qua xử lý gắn vào trong ngoài gỗ chá bằng chất keo màu đỏ, sau đó quấn tơ, sơn màu, rồi giữ qua một mùa đông để sơn và chất keo bám chặt.



    Nàng luôn trân trọng món quà này, mỗi khi tập bắn đều giữ gìn rất cẩn thận, không để nó dính bẩn bao giờ. Đây cũng là lần đầu tiên nàng dùng nó để bắn vật sống. Ban đầu nàng vẫn chưa lĩnh hội được kỹ thuật bắn mục tiêu động nên bắn lệch vài mũi tên, còn bị bạn mình cười nhạo một phen. Nhưng khi tiếng cười của đối phương còn vang vọng trong rừng thì máu của con mồi đầu tiên đã bắn tung tóe lên hoa bìm bìm đỏ thắm.



    Thiếu nữ cầm cung sinh ra và lớn lên ở Trường An. Phần lớn núi rừng chốn kinh đô đều đã thuộc về hoàng tộc, nên tuy nàng học được tài nghệ bắn cung từ một vị tướng quân là chỗ quen biết song cũng hiếm có cơ hội thể hiện tài năng. Được tự do săn bắn như ngày hôm nay chính là một tâm nguyện của nàng.



    Huống chi vùng đất này từng là bãi săn của Sở vương.



    Ngày trước mỗi khi quân đội tập trận vào dịp đầu đông, Sở vương sẽ lên chiến xa được tô điểm bởi những vật trang trí bằng ngọc, cầm cung có chạm trổ hoa văn và tên đặc chế, dẫn người đi khắp rừng săn bắn thú lạ. Nhất thời tên bắn như mưa, máu dây khắp chốn. Con mồi bị trúng tên, gục xuống đất không thể gượng dậy, chẳng thể tránh khỏi số kiếp bị bánh xe nghiền nát và bộ binh giẫm đạp. Súc thịt non tơ mỡ màng chưa được người ta nếm thử đã nát bét trong đất bùn. Sau một hồi tàn sát, Sở vương hài lòng đặt cung tên xuống, thưởng thức thi cốt khắp nơi và nhìn đám binh sĩ hãy còn khát máu. Các thiếu nữ mặc những bộ y phục vải the mỏng tựa sương sớm bắt đầu ca múa trong mùi gió tanh gay mũi. Vạt váy của các nàng rủ trên nền đất, lập tức nhuộm đỏ máu tươi…



    Tuy nhiên đến năm hai mươi mốt* thời Khoảnh Tương vương**, đại tướng nước Tần là Bạch Khởi*** đem quân đánh chiếm Dĩnh Đô****, Vân Mộng trạch cũng bị chiếm đóng. Sau đó nước Tần thiết lập Nam Quận ở đây, hủy lệnh cấm lên núi, lại lập ra chức “quan Vân Mộng” chuyên cai quản vùng đất này. Hơn trăm năm sau, chốn bình nguyên ở Vân Mộng đã sớm được khai khẩn thành đồng ruộng, chỉ còn sót lại chút núi non hiểm trở giữ được diện mạo vốn có, tới nay vẫn để dân thường lên đốn củi hoặc săn bắn.



    * Chú thích của tác giả: Tức năm 278 trước Công Nguyên.



    ** Khoảnh Tương vương hay còn gọi là Sở Tương vương, là vị vua thứ 41 của nước Sở.



    *** Bạch Khởi: Danh tướng vô địch của nước Tần trong thời Chiến Quốc, lập nhiều công lao, góp phần lớn chiến tích trong việc thống nhất Trung Quốc của nước Tần.



    **** Kinh đô của nước Sở từ thời Sở Văn vương.



    “Ta nghe nói nhà Nho chỉ dùng cần câu để câu cá mà chưa bao giờ giăng lưới để bắt cá, khi săn thú cũng chưa từng bắn chim đã về tổ. Nếu Tiểu Quỳ tôn sùng học thuật nhà Nho thì đáng lẽ ra không nên ra tay sát sinh như vậy chứ?”



    Thiếu nữ bản địa mặc áo tay hẹp vừa nhặt con chim trĩ đã chết lên, vừa nói với vẻ ai oán. Dứt lời nàng khinh bỉ quay mặt đi, nhưng vẫn nắm chặt con chim trĩ đã bị bắn chết nọ. Thực ra khi Vu Lăng Quỳ tới từ Trường An đề nghị đi săn vài con chim trĩ về nhắm rượu, cái lưỡi chẳng giỏi ăn nói của Quan Lộ Thân cũng tiết ra một chút nước bọt, mà trong khoảnh khắc mũi tên đâm vào mỡ và lông chim trĩ thì nàng cũng chẳng xót thương là bao.



    Nàng nói như vậy chẳng qua vì nàng không biết giương cung bắn tên, cảm thấy mình thua kém Quỳ ở mặt đó, âm thầm không cam tâm. Nhưng thực ra cuộc so tài giữa nàng và Quỳ, cuộc so tài mà nàng sẽ bị áp đảo hoàn toàn ấy, lúc này mới chỉ bắt đầu.



    Tương lai còn có nỗi chán nản và tự ti vô tận đang chờ đợi nàng.



    “Có lẽ Lộ Thân không biết rồi.” Quỳ luôn vào đề bằng câu nói này, còn Lộ Thân thì chưa bao giờ đoán được nàng định nói gì. “Chính vị học giả ‘Điếu nhi bất cương, dặc bất xạ túc’* ấy, sau khi chuồng ngựa bị cháy chỉ hỏi một câu ‘Có người bị thương không?’, vốn chẳng quan tâm tới sự sống chết của ngựa. Nếu Lộ Thân đã mang lòng thương cảm với đồ ăn của con người thì cớ sao lại theo ta đi săn?”



    * Chỉ dùng cần câu cá mà không giăng lưới đánh cá, chỉ bắn con chim đang bay chứ không bắn con chim đã về tổ nghỉ ngơi.



    “Ta chỉ dẫn đường cho ngươi theo lệnh của phụ thân chứ chưa từng có ý tiếp tay cho ngươi.”



    Rõ ràng là buổi sáng nay hai thiếu nữ mới gặp nhau lần đầu, song giờ đã bắt đầu tranh luận như những người bạn lâu năm.



    “Trái ngược với những gì ngươi đã nói, thuật bắn cung không chỉ là thuật giết chóc, theo kiến giải trong Lễ thư, ‘Người bắn cung cũng phải có lòng nhân ái. Bắn cung trước hết phải điều chỉnh lại tư thế của mình cho đoan chính rồi mới buông dây, nếu bắn không trúng cũng không nên oán người thắng mình, tự xét lại mình là được.’ Nếu so với thuật đánh đấm, thuật bắn cung phần nhiều không phải là so tài với đối thủ mà là đọ sức với chính mình, nhờ đó khắc phục được nhược điểm của bản thân, đạt đến cảnh giới ‘nhân ái’.”



    “Nói thì nghe huyền diệu lắm, có điều Tiểu Quỳ à, ngươi vẫn nên sớm nhìn vào hiện thực đẫm máu đi. Trông mấy thi thể này và những vết thương trí mệnh trên người chúng, chẳng lẽ đây chính là ‘nhân ái’ mà ngươi nói tới? Nếu chỉ theo đuổi đức hạnh thì có thể luyện tập bắn bia, hoặc so tài với nhau là được, cớ gì phải tàn sát sinh linh? Nói cho cùng thì ngươi cũng chỉ lưu luyến món ngon dân dã, vậy mà còn nêu ra một đống đạo lý để ngụy biện cho mình, không lẽ đây chính là thói quen của người Trường An các ngươi?”



    “Phải rồi, nếu Lộ Thân đã là người địa phương, hẳn phải biết tại sao ‘Vân Mộng trạch’ lại gọi là ‘trạch’ nhỉ?”



    “Đương nhiên là biết chứ. Tuy học vấn của ta không bằng ngươi nhưng ít ra cũng là con cháu quý tộc, chút tri thức ấy không thể không biết.” Lộ Thân tức giận đến phùng má, tuy nhiên trong lòng lại chẳng mấy tự tin. “Vì Vân Mộng có nhiều ao hồ, hệ thống sông ngòi phát triển, nên mới được gọi là ‘Vân Mộng trạch*’.”



    * Trạch nghĩa là sông suối, ẩm ướt.



    Nghe được câu trả lời của Lộ Thân, Quỳ không khỏi bật cười thành tiếng.



    “Đây chỉ là lối giải thích nông cạn mà thôi, đúng kiểu nhìn chữ đoán ý, khó tránh được việc bị các vị ‘thông Nho*’ cười chê.”



    * Người thông thạo, am hiểu học thuật Nho giáo.



    “Vậy ‘thông Nho’ các ngươi giải thích thế nào?”



    “Trạch, cũng là tuyển trạch, chọn lựa.” Quỳ giải thích từng chữ từng chữ một, “Trong Lễ thư có nói, ‘Thiên tử muốn tế bái thì trước tiên phải tập bắn cung ở chốn sông ngòi. Bởi vậy ở chốn sông ngòi mới chọn được người có tài.’ Có nghĩa là chỉ người có thể bắn trúng con mồi ở ‘trạch’ như ta mới đủ tư cách tham gia tế bái. Tuy Vân Mộng không ít ao đầm song tới ngày nay vẫn còn rất nhiều núi rừng chưa khai khẩn, chim muông đủ loại đủ loài, chính là một bãi săn tuyệt hảo. Chẳng mấy khi tới chơi, dù nơi này đã sớm không còn quy mô như thời Sở vương đi săn, song phóng mắt nhìn ngắm phong cảnh cũng có thể ngẫm được vài phần cảnh tượng hùng tráng năm nào. Đương nhiên ta cũng phải học tập người xưa, săn vài con chim trĩ về để làm kỷ niệm chứ.”



    “Tóm lại vẫn vì ăn thịt mà thôi…”



    Nói rồi nàng áng chừng con thú trong tay - Có lẽ cũng làm được một bữa ngon.



    “Lộ Thân nói như thể mình chưa bao giờ ăn thịt chim trĩ ấy.” Quỳ rút từ sau lưng ra một mũi tên, nở nụ cười chòng ghẹo, “Dù sao người vụng về như Lộ Thân cũng không bắn trúng được mục tiêu di động đâu nhỉ?”



    “Nếu dùng nỏ thì ta bắn được.”



    Gia tộc họ Quan ở ẩn chốn núi rừng, để phòng thú dữ nên chưa từng bỏ bê việc luyện tập võ nghệ. Kể cả phụ nữ và trẻ em không biết dùng binh khí ngắn thì cũng thường xuyên luyện cách dùng nỏ.



    “Hừ, nỏ ấy à?” Vẻ khinh thường lộ rõ trên mặt Quỳ, đến Lộ Thân chậm chạp cũng có thể nhận ra. “Nếu vũ khí cũng được chia thành quân tử và tiểu nhân, vậy chắc chắn nỏ là thứ chỉ tiểu nhân mới dùng. Lộ Thân, dù sao ngươi cũng là con cháu quý tộc, không nên chạm vào những thứ hạ thấp bản thân, vũ nhục tổ tiên ấy mới phải.”



    “Nỏ thì có gì không tốt? Tại sao Tiểu Quỳ lại ghét bỏ nó như thế?” Lộ Thân phản bác, “Ta nghe nói, dù là Tướng quân Lý Quảng xuất thân từ thế gia thiện xạ, khi chỉ huy tác chiến cũng gần như là ‘Nghìn nỏ cùng bắn’. Thuật bắn cung của ngài ấy chắc chắn giỏi hơn ngươi nhiều, ngài ấy cũng không cấm binh sĩ dưới trướng dùng nỏ.”



    “Lý Quảng là vị tướng quân mà ta ngưỡng mộ nhất, tiếc là ta sinh ra quá muộn, không thể tới trước mặt ngài ấy để xin chỉ giáo. Ngươi nói đúng, ngài ấy luôn chỉ huy binh sĩ dùng nỏ để bắn quân Hung Nô, dù sao nỏ cũng có hiệu quả cao hơn cung tên. Tốc độ bắn của nỏ nhanh hơn, có thể tiết kiệm thể lực của binh sĩ, lại dễ học dễ dùng hơn cung tên. Chỉ cần huấn luyện ở mức độ sơ đẳng là có thể phát huy được uy lực tối đa. Huống chi, dù là mãnh tướng uy dũng nhất cũng chỉ giương được cây cung chừng ba thạch*, trong khi cường độ của nỏ có thể dễ dàng đạt tới bốn thạch trở lên.”



    * Thạch: Đơn vị trọng lượng lương thực thời xưa, 1 thạch tương đương 250 cân (125kg).



    “Vậy mới nói…”



    “Vậy mới nói nó là thứ vũ khí phù hợp nhất cho những người kém cỏi.” Nói rồi Quỳ quay đầu đi nơi khác, lại cố ý liếc Lộ Thân một thoáng. “Ta vừa phát hiện ra, có một người kém cỏi chỉ xứng sử dụng nỏ đang đứng trước mặt mình.”



    “Ngươi tốn bao công sức để luyện tập giương cung bắn tên, người khác chỉ cần kéo nhẹ lẫy nỏ là có thể bắn được xa hơn, chuẩn hơn ngươi, không biết rốt cuộc ngươi thấy mình giỏi giang hơn người ở điểm nào? Cầm một thứ phế phẩm bị thời đại đào thải mà miệng còn khoe khoang ‘quý tộc’, ‘quân tử’, ‘thông Nho’, suy cho cùng cũng chỉ là một cách tự thương lấy mình thôi thì phải?”



    Quỳ đáp lại, “Đúng thế, ta cũng giống như tổ tiên của ngươi, chắc chắn đều sẽ bị người đời chế nhạo. Ta là một kẻ cổ hủ lỗi thời, luôn trông ngóng theo phong thái và trí tuệ của người xưa, không thể tán đồng những thứ đang lưu hành ngày nay được.” Ráng đỏ buông xuống nơi chân trời cũng tối đi trong chớp mắt. “Dù sao đây cũng là thời đại của các ngươi chứ không phải của ta.”



    “Tiểu Quỳ…”



    Thấy Quỳ rầu rĩ như vậy, nhất thời Lộ Thân bối rối. Cho dù nàng biết mình là loại “người kém cỏi” mà Quỳ nói, lại thầm bực bội trong lòng, có điều nàng cũng không thấy phản cảm là bao. Nàng cũng biết rõ rằng học thức và tài nghệ của mình đúng là đã làm xấu mặt tổ tiên.



    Đương nhiên, nàng cũng chẳng biết nhiều về tổ tiên của mình.



    Quỳ chợt nghĩ tới điều gì đó, ánh sáng ảm đạm theo mây chiều khi nãy lại thoáng bừng lên trong mắt nàng. “Kể ra thì Lộ Thân sống ở đây từ nhỏ, không biết đã từng đọc bài Tử Hư phú của Tư Mã Tương Như* hay chưa? Bài phú viết về sứ giả nước Sở là Tử Hư** đi sứ nước Tề rồi cùng Tề vương đi săn, có nói về Vân Mộng.”



    * Tư Mã Tương Như, tự Tràng Khanh (179 TCN - 117 TCN), người ở Thành Đô đời nhà Hán, rất đa tài, văn hay, đàn giỏi. Bài Tử Hư phú của ông được Hán Vũ đế rất khen ngợi, cùng với bài Thượng lâm phú được viết sau này có ảnh hưởng rất lớn trong lịch sử thể phú đời Hán. Cả hai bài tả những cuộc săn bắn và du ngoạn của nhà vua, có ngụ ít nhiều ý can gián, nhưng thực tế là “châm biếm một lời, khuyến khích trăm lời”, chủ yếu vẫn là phản ánh và ca tụng sự thịnh vượng nhất thời của giai cấp thống trị.



    ** Tử Hư là một nhân vật trong bài Tử Hư phú, nói năng hư huyễn, thổi phồng.



    “Chưa đọc bao giờ.”



    “Tử Hư phú miêu tả Vân Mộng thế này.” Quỳ bắt đầu thong thả ngâm tụng…



    Vân Mộng trải dài chín trăm dặm, bên trong có núi. Thế núi uốn quanh, vòng vèo khúc khuỷu, cheo leo hiểm trở, đỉnh núi cao và dốc nhấp nhô trập trùng, mặt trời mặt trăng bị che khuất, nửa ẩn nửa hiện. Dãy núi trùng trùng, đan xen hỗn độn, vươn thẳng lên tận mây xanh; sườn núi nghiêng nghiêng, nối liền với sông lớn. Trong thổ nhưỡng có chu sa, khoáng xanh, đất sét đỏ, đất thó trắng, thư hoàng(1), thạch anh trắng, khoáng thiếc, ngọc bích, vàng, bạc, đủ loại màu sắc, lấp lánh rực rỡ như vảy rồng. Đá nơi đó có mã não đỏ, ngọc lưu ly, lâm mân(2), côn ngô(3), giam lặc(4), huyền lệ(5), nhuyễn thạch, vũ phu(6). Phía Đông có hoa thơm cỏ lạ như đỗ hành, phong lan, bạch chỉ, đỗ nhược(7), khung cùng(8-), xương bồ(9), giang ly(10), mía, chuối. Phía Nam có đồng bằng sông lớn, địa thế thoai thoải, vùng trũng rộng lớn bằng phẳng, kéo dài dọc theo sông lớn, cho tới tận chân núi Vu. Nơi cao dốc khô ráo thì có cây mã lam, cỏ bao(11), cỏ lệ, cỏ ngải, cỏ gấu. Nơi ẩm thấp thì có cỏ đuôi chó, cỏ lau, tường vi, măng nước, ngó sen, cây bầu, cỏ tranh, cỏ du(12), rất nhiều loài cây sống ở nơi đây, nhiều tới mức không đếm xuể. Phía Tây có suối nước dâng trào, ao hồ trong vắt, sóng nước lay động, sóng sau xô sóng trước; hoa sen và hoa súng cùng nở trên mặt nước, dưới nước lại có đá tảng và cát trắng. Trong nước có rùa thần, thuồng luồng, đồi mồi, ba ba. Phía Bắc có rừng rậm với những cây to như: tiện, lim, long não, quế, tiêu, mộc lan, hoàng phách(13), liễu đỏ, sơn tra, lê, dẻ, quýt, bưởi, hương thơm tỏa khắp xa gần. Trên cây có uyên sồ(14), khổng tước, chim loan, vượn, khỉ. Dưới cây lại có hổ trắng, báo đen, cáo chồn, chó rừng…



    (1) Một loại khoáng sản có thành phần là As2S3, màu vàng cam, nửa trong suốt.



    (2) Một loại ngọc/đá đẹp.



    (3) Một loại đá được dùng để luyện thép làm kiếm.



    (4) Một loại đá quý, chỉ thua ngọc.



    (5) Một loại đá màu đen dùng để mài đao.



    (6) Nhuyễn thạch, vũ phu đều là loại đá đẹp gần giống như ngọc.



    (7) Đỗ hành, bạch chỉ, đỗ nhược đều là những thứ cỏ thơm, rễ được dùng làm thuốc.



    (8-) Một loài cỏ, sinh ở đất Thục gọi là xuyên khung, củ được dùng làm thuốc.



    (9) Một loài cỏ mọc ở vệ sông vệ suối, mùi thơm sặc, dùng làm thuốc.



    (10) Một loài cỏ thơm, còn có tên khác là mi vu hoặc kì chỉ.



    (11) Một loài cỏ có cọng rắn chắc, dùng để đan dép và dệt chiếu.



    (12) Một loài cỏ có lá như răng cưa, mùi rất hôi.



    (13) Một loài cây cao rụng lá, cành có thể dùng làm thuốc nhuộm vàng, vỏ cây làm thuốc.



    (14) Một loài chim phượng.



    “Ta thấy áng văn này chẳng khác nào được viết bằng ngôn ngữ nước khác, phải phiên dịch chín lần mới nghe hiểu được.”



    “Đoạn phú này chỉ viết về phong thổ và sản vật của vùng Vân Mộng mà thôi. Lộ Thân đúng là chẳng biết gì về văn hóa của quê hương mình cả.” Quỳ tiến lên phía trước một bước, quay lưng lại với Lộ Thân mà nói, “Tuy ta sinh ra và lớn lên ở Trường An nhưng lại là con cháu người Tề. Song tổ tiên của ta không hiển hách được như của ngươi. Đúng là gia tộc của ta phất lên nhờ kinh thương buôn bán, vào năm Nguyên Sóc* thứ hai, khi gia nghiệp lên tới hơn ba trăm vạn thì chuyển đến ấp Mậu Lăng. Lúc còn ở cố hương, người sống quanh đó đều biết trước đây gia tộc của ta chỉ là nô bộc của hiền giả Vu Lăng Trọng Tử nước Tề. Vu Lăng Trọng Tử sống liêm khiết cả đời, từ chối mọi ân huệ dù là nhỏ nhất của người khác, cuối cùng không biết kết cục của ông ra sao, cũng có lời đồn rằng ông đã chết vì đói, sau đó tổ tiên ta liền mượn luôn họ của ông. Từ khi chuyển đến Trường An, bắt đầu từ đời cha ta đã nói dối với người khác rằng chúng ta là con cháu của Vu Lăng Trọng Tử. Tuy nhiên làm gì có ai tin bậc thánh hiền khắc khổ như vậy lại có đám hậu duệ người đầy mùi tiền thế này.”



    * Niên hiệu thứ ba của thời Hán Vũ đế.



    Nói tới đây, nàng nở một nụ cười cô tịch.



    “Bởi vậy Tiểu Quỳ mới ghét người xuất thân từ gia đình quý tộc cũ như ta sao?”



    “Ta không hề ghét ngươi, có điều ít nhiều có chút đố kị. Nếu ta cũng có xuất thân như thế thì tốt biết bao. Dù ta nghiên cứu kinh thư ra sao, luyện tập võ nghệ thế nào, thử đủ mọi cách để bắt chước theo phong thái và ngôn ngữ của bậc hiền nhân thời cổ thì xuất thân này vẫn không thể thay đổi được, vì trong cơ thể ta vẫn chảy dòng máu của nô bộc. Hơn nữa từ nhỏ ta đã sống trong gấm vóc lụa là, hào hoa xa xỉ, trên người khó tránh nhiễm phải nhiều thói hư tật xấu đi ngược lại lễ giáo cổ xưa, bởi vậy cũng từng làm một số chuyện hoang đường hư hỏng. Trên đường tới Vân Mộng ta luôn nghĩ, nếu ta sinh ra trong gia đình quý tộc cũ như nhà họ Quan thì tốt biết bao. Nhưng cuối cùng thì…”



    “Nhưng cuối cùng thì con cháu quý tộc là ta đây lại làm ngươi thất vọng, đúng không?”



    “Đúng vậy, ta thực sự rất thất vọng.” Quỳ hồi đáp mà chẳng hề kiêng nể, “Ta cứ nghĩ rằng, giữa thời đại sa đọa suy đồi này, chỉ có những quý tộc cũ như các ngươi là đáng tin. Ta vốn tưởng trên người các ngươi sẽ giữ lại được những thứ mà ta luôn kiếm tìm, có thể giúp ta hiểu thêm một chút về nước Sở diệt vong đã lâu. Thế mà ngươi không chỉ hiểu biết rất ít về thời xa xưa đó, mà chuyện thời nay ngươi cũng chẳng hay biết gì, kém cỏi vô vị hơn cả đám bạn bè ở Trường An của ta. Ít ra ta và bọn họ còn có thể trò chuyện về thú vui và văn chương đang lưu hành, còn ở cạnh ngươi, ta thực sự không có lời nào để nói…”



    Lộ Thân nghe vậy thì im lặng hồi lâu, nàng bỗng nhận ra sự khác biệt lớn nhất giữa mình và một cô thôn nữ không phải ở việc có biết chữ hay không, mà là mình không biết làm việc nhà nông. Lộ Thân cố nén những giọt nước mắt nhục nhã, nắm chặt lấy tà áo của mình, gắng bình ổn lại hơi thở dồn dập.



    “Có lẽ nên để Nhã Anh tỷ tiếp đón ngươi. Tỷ ấy là người hiểu lễ cổ nhất trong gia tộc.”



    “Ngươi đang nói về đường tỷ* Quan Nhã Anh của ngươi sao? Nàng ta bằng tuổi chúng ta cơ mà, tại sao lại là người hiểu lễ cổ nhất gia tộc họ Quan?”



    * Chị họ bên nội.



    “Bởi vì phụ thân ta không phải con trưởng trong nhà, học về tri thức gia truyền rất sơ sài. Mãi đến bốn năm trước, tộc trưởng của gia tộc họ Quan vẫn không phải phụ thân ta mà là bá phụ* Vô Cữu. Đồ dùng tế lễ vốn đều ở chỗ bá phụ Vô Cữu, việc thờ cúng lễ bái cũng thường do bá phụ và Thượng Nguyên ca chủ trì. Học vấn của họ đủ để chỉ bảo cho tiến sĩ trong Thái học**, thường xuyên có học giả viết thư xin bá phụ chỉ giáo, mà bá phụ cũng hay để Thượng Nguyên ca hồi đáp thay ông. Tuy nhiên bốn năm trước họ đã qua đời, bởi vậy e là rất nhiều lễ cổ đều bị thất truyền mất rồi.” Dứt lời Lộ Thân nhíu chặt mày hơn, “Bá phụ và Thượng Nguyên ca đều qua đời vào đêm hôm ấy, chỉ có Nhã Anh tỷ còn sống thôi.”



    * Bác - anh trai của cha.



    ** Trường đại học do triều đình thành lập, là cấp học cao nhất của Trung Quốc thời xưa.



    “Hôm ấy đã xảy ra chuyện gì?”



    “Ta cũng không biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì.” Lộ Thân thành thực đáp, khiến Quỳ càng nghi hoặc hơn. “Nhưng mọi người đã qua đời cả rồi, vậy thôi.”



    “Cả nhà bá phụ của ngươi sao?”



    “Bá phụ, bá mẫu*, Thượng Nguyên ca và đường đệ** mới sáu tuổi, tất cả đều chết trong nhà. Khi ấy trùng hợp Nhã Anh tỷ ở nhà ta nên mới tránh được kiếp nạn đó. Ký Y tỷ là người phát hiện ra thi thể.” Nói tới đây nàng chợt nhớ ra, “À phải, Ký Y tỷ cũng qua đời rồi…”



    * Bác dâu - Vợ của bác anh trai của cha.



    ** Em trai họ bên nội.



    “Nếu là như thế, tại sao ngươi lại nói mình ‘không biết rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì’?”



    “Tiểu Quỳ thật là quá đáng, nhắc tới chuyện tang thương như vậy mà cũng không an ủi ta, lại còn thản nhiên hỏi tới hỏi lui như thế.” Cuối cùng Lộ Thân cũng rơi nước mắt, “Chúng ta thực sự không biết chuyện gì đã xảy ra, khi Ký Y tỷ qua đó thì thảm kịch đã xảy ra rồi. Tới tận bây giờ ta vẫn không biết rốt cuộc hung thủ là ai, vì lý do gì mà kẻ đó lại làm ra chuyện tàn nhẫn như vậy, chuyện hôm ấy vẫn còn lưu lại rất nhiều bí ẩn chưa được giải đáp. Tiểu Quỳ vừa thông minh vừa hiểu biết rộng, biết đâu có thể đưa ra đáp án.”



    “Kể cho ta nghe những điều ngươi biết được không?”



    “Được…” Lộ Thân gật đầu nói, “Chỉ mong ta có thể kể hết…”



    Dứt lời nàng lại lấy ống tay áo lau nước mắt, rồi nhìn về phía rừng cây xa xa. Dường như nơi ấy chẳng có chi cả, lại như đang ẩn giấu thứ gì đó dưới bóng cây âm u. Tịch dương từ từ chìm xuống, bóng đêm lan dần lan dần bên chân Quỳ. Lộ Thân thoáng hy vọng rằng nàng có thể kể xong câu chuyện này trước khi sao Trường Canh* xuất hiện.



    * Sao Hôm.

    --------------

    [2]



    Đầu xuân mà trời vẫn lạnh lẽo vô cùng.



    Khi gió thổi vang vọng trong thung lũng, hơi lạnh cũng thấm dần vào xương cốt người ta.



    Dù là Quan Ký Y nổi tiếng cần cù chăm chỉ, lúc này cũng chỉ ngồi yên trên sàn nhà trải chiếu cói trong gian chính, tựa lưng vào ghế dựa, trên đầu gối có một cuốn cầm phổ được mở ra, nàng đang cố cưỡng lại cơn buồn ngủ. Ký Y khoác trên người một bộ y phục rất dày. Tiếng nhạc cổ xưa ngân vang trong đầu nàng, đầu ngón tay lạnh đến tê cứng của nàng không hề nhúc nhích.



    Mí mắt Ký Y ngày càng díu lại, cơn buồn ngủ từ từ kéo tới. Vì chưa ôn lại khúc nhạc mới học nên nàng không muốn quay về phòng để ngủ.



    Một tràng tiếng đập cửa đã xua tan cơn buồn ngủ của nàng.



    Cửa viện cách gian chính khoảng ba mươi bước, tuy gió vẫn rít gào song có thể nghe thấy tiếng đập cửa rất rõ ràng, không mạnh nhưng vô cùng gấp gáp.



    Ký Y đứng dậy chỉnh lại áo choàng trên người mình xong, bèn ra khỏi gian chính, đi về phía cửa viện.



    Sau khi mặt trời lặn, trời đã đổ một trận tuyết nhỏ, lưng núi và đất bằng đều nhuốm màu trắng bạc. Sân viện nhà Ký Y cũng không phải ngoại lệ, cho dù trăng sao đều đã bị mây mù che khuất, chỉ có ánh nến mờ nhạt trong gian chính hắt ra sân thì lớp tuyết đọng mỏng manh vẫn được phản chiếu sáng lên như ánh trăng.



    Có lẽ vì đã nghe được tiếng bước chân, người bên ngoài không đập cửa nữa. Ký Y nghe thấy tiếng thở hổn hển của đối phương, bèn hỏi thử:



    “… Nhã Anh?”



    “Ký Y tỷ…”



    Quan Ký Y vội gỡ then cài rồi mở cửa ra.



    Khi ấy Quan Nhã Anh mới mười ba tuổi cứ thế ngã thẳng vào lòng Ký Y, dáng vẻ hồn bay phách lạc. Lúc Ký Y đỡ đường muội* đã không còn hơi sức vào gian chính thì phụ thân Quan Vô Dật và muội muội Giang Ly của Ký Y cũng vội bước tới.



    * Em gái họ bên nội.



    Quan Vô Dật hỏi Nhã Anh rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì nhưng Nhã Anh chỉ vùi đầu giữa hai cánh tay Ký Y, co mình lại mà không hề đáp lời. Cuối cùng bọn họ đành để Ký Y thì thầm hỏi bên tai Nhã Anh, Nhã Anh mới nói ra sự tình với giọng nhỏ như muỗi kêu.



    “Bị phụ thân… đánh…”



    Bấy giờ Ký Y mới để ý, rõ là trời lạnh như vậy mà Nhã Anh chỉ mặc một chiếc áo mỏng, phần áo trắng dính chặt vào lưng Nhã Anh còn nhuốm đầy vết máu.



    Nàng xin phụ thân cho Nhã Anh ngủ lại, sau khi ông đồng ý nàng liền dìu đường muội về phòng mình. Phòng của Ký Y cách gian chính một quãng, nàng đành cởi áo choàng của mình khoác lên người Nhã Anh, sau đó lại bảo Giang Ly đi lấy ít y phục cho Nhã Anh tắm rửa thay đồ.



    Quay về đến phòng, Ký Y cởi y phục giúp Nhã Anh kiểm tra một thoáng, thấy trên người Nhã Anh từ lưng đến giữa đùi chằng chịt vết roi. Làn da của Nhã Anh thực sự giống với chiếc áo trắng mỏng mà nàng khoác trên người ban nãy, những vết roi đan vào nhau ngang dọc. Nơi bị thương nặng da thịt đã rách ra, nơi bị thương nhẹ cũng sưng đỏ bầm tím.



    Bá phụ Quan Vô Cữu quả thực rất nghiêm khắc với con cái, mà Nhã Anh cũng quả thực là một đứa trẻ ngỗ nghịch. Từ nhỏ nàng đã cùng học các nghi thức lễ bái thờ cúng với huynh trưởng*, cũng được kỳ vọng rằng sau này có thể trở thành Vu nữ** tham dự vào các nghi thức quốc lễ của vương triều Hán.



    * Anh cả, con cả trong nhà. Huynh trưởng ở đây chỉ Thượng Nguyên.



    ** Nữ pháp sư, nữ tư tế, nữ phù thủy lo việc thờ cúng, tế bái thời xưa.



    Trong ấn tượng của Ký Y, không phải lần đầu tiên Nhã Anh phải chịu những trận đòn thế này. Bá phụ là người rất nóng tính, thường thì không chỉ đánh Nhã Anh mà còn nhốt nàng trong nhà kho ở sau nhà một đêm mới nguôi giận. Ca ca của Nhã Anh là Thượng Nguyên từ nhỏ cũng được dạy dỗ bằng đòn roi như vậy, cuối cùng tính tình mới trở nên rụt rè nhút nhát, chưa bao giờ dám làm trái ý cha.



    Nếu so với bá phụ Vô Cữu thì phụ thân của Ký Y - Quan Vô Dật đối xử với ba cô con gái của mình hiền hòa hơn nhiều. Có lẽ vì Quan Vô Cữu vốn là con trưởng, từ nhỏ đã được coi như người thừa kế chính thống của gia tộc, ông học tập cực kỳ khắc khổ, nên không những am hiểu về lễ cổ nước Sở mà còn thông thấu cả lễ thư của nhà Nho. Thân là con thứ, Quan Vô Dật cũng khá có lỗi với cái tên của mình*, bởi thời trẻ ông chỉ bận giao du bạn bè nên đã phí hoài rất nhiều thời gian.



    * Vô Dật nghĩa là không lười biếng, không nhàn hạ.



    “Nhã Anh, muội lén chạy tới đây sao?”



    Ký Y vừa hỏi vừa lau vết thương cho nàng.



    Nhã Anh nhịn đau khẽ gật đầu, Ký Y thấy vậy không kìm được nước mắt, những giọt lệ mặn đắng nhỏ vào vết thương khiến Nhã Anh khẽ kêu “a” một tiếng, Ký Y không biết ấy là tiếng than vì đau đớn hay là tiếng lòng của Nhã Anh trước sự đồng cảm của nàng. Song nàng cũng chẳng biết làm thế nào để thay đổi số mệnh của Nhã Anh, đành ngồi trông Nhã Anh chịu khổ.



    “Sao bá phụ lại đối xử với muội như thế?”



    Ký Y hỏi gần như vô thức. Lần này Nhã Anh lắc đầu, có thể ý của nàng ấy là “không biết”, hoặc cũng có thể là “không muốn nói”, dù sao Ký Y cũng không hiểu. Cuối cùng Nhã Anh cũng bật khóc. Bên ngoài không có tiếng côn trùng râm ran mà chỉ văng vẳng tiếng gió và tiếng khóc nức nở của hai người con gái.



    “Không lẽ bá phụ lại nhốt muội vào nhà kho?”



    “Lúc nào cũng thế…”



    “…”



    Bấy giờ muội muội Giang Ly mang đồ cho Nhã Anh vào phòng.



    Ngày ấy Ký Y mười sáu tuổi còn Giang Ly mới mười bốn tuổi.



    Là đường tỷ, Giang Ly luôn được cha mẹ căn dặn phải nhường nhịn Nhã Anh, còn cha của Nhã Anh thì luôn dạy con gái phải kính trên nhường dưới. Tuy nhiên cuối cùng hai cô bé đều hiểu lời dạy của người lớn theo hướng có lợi cho mình, từ nhỏ Giang Ly luôn lấy danh nghĩa trưởng bối để bắt nạt Nhã Anh, còn Nhã Anh thì phản công lại mà chẳng hề kiêng nể. Giang Ly giống phụ thân Vô Dật của mình ở rất nhiều mặt, cũng không am hiểu về thuật lễ bái, bởi vậy nàng luôn tự ti trước Nhã Anh. Có điều cách thức nàng dùng để che giấu sự tự ti của mình là đối đầu với Nhã Anh gay gắt hơn.



    Chuyện xảy ra vào ba tháng trước, Giang Ly bị Nhã Anh chế giễu tư thế khi chấp lễ, bèn giận dỗi nói xấu Nhã Anh với bá phụ, hại Nhã Anh bị phụ thân cho một trận đòn đau vào đêm hôm đó. Nhã Anh cũng biết vì Giang Ly mách lẻo nên mình mới bị đánh, bởi vậy ba tháng nay luôn trốn tránh Giang Ly, cũng không nói với Giang Ly lấy một câu.



    Giang Ly đi vào phòng, Nhã Anh vẫn không để ý đến nàng ta mà chỉ lấy chiếc áo choàng vốn khoác trên người che trước ngực, không muốn để Giang Ly nhìn thấy thân thể hãy còn dậy thì của mình. Giang Ly bước tới nắm chặt lấy tay Nhã Anh, nói xin lỗi hết lần này tới lần khác.



    “Xin lỗi, xin lỗi, xin lỗi…”



    Nghe được lời xin lỗi của Giang Ly, Nhã Anh hoảng hốt nhắm mắt lại. E rằng khi bị đánh mắng, nàng cũng không ngừng nói “xin lỗi” để phụ thân nguôi giận, bởi vậy mấy từ này lại gợi nhớ về hồi ức không vui của nàng.



    Ký Y nghĩ rằng đây là cơ hội tốt nhất để hai người làm hòa, mà vừa hay vết thương cũng được xử lý xong, bèn dặn muội muội trông nom Nhã Anh cho tốt, còn nói mình sẽ báo lại với bá phụ, không để cả nhà họ phải lo lắng về Nhã Anh. Vì muốn Nhã Anh yên lòng, Ký Y hứa sẽ xin bá phụ cho Nhã Anh ở lại đây mấy hôm.



    “Đừng đi…”



    Ký Y không nghe theo lời Nhã Anh mà biến mất sau cửa, còn Giang Ly thì lẳng lặng giúp Nhã Anh thay một bộ y phục mềm mại.



    Thực ra sau khi Ký Y qua đời, người luôn quan tâm chăm sóc cho Nhã Anh vẫn là Giang Ly.



    Sau khi kể lại mọi chuyện với phụ thân, Ký Y bèn lấy một chiếc đèn lồng rồi đi về phía nhà bá phụ. Đi ngược lại dấu chân của Nhã Anh suốt dọc đường. Khi tới chỗ nàng, Nhã Anh chỉ đi một đôi giày cỏ, hẳn là vừa lạnh vừa trơn. Mà lúc này Ký Y lại đi một đôi guốc gỗ, còn đi tất bên trong, tuy nặng nhưng bước chân vững vàng, cũng giữ ấm tốt. Nghĩ vậy, Ký Y càng thấy Nhã Anh đáng thương.



    “Bá phụ Vô Cữu, con là Ký Y đây.”



    Ký Y tới nơi, vừa gọi vừa đập cửa viện, cửa chợt mở ra. Không biết là bị gió thổi hay vì Ký Y đập nên mới mở ra, nhưng có một điều chắc chắn là không có ai đi ra mở cửa.



    Chẳng lẽ cả nhà bá phụ phát hiện Nhã Anh biến mất, liền đi vào trong núi tìm muội ấy?



    Hai gia đình đều ở trong hẻm núi, xung quanh không phải vách núi cheo leo thì cũng là đường dốc chênh vênh. Từ nhà bá phụ ra ngoài, dù muốn vào núi hay xuống núi đều chỉ có hai con đường có thể đi được, một con đường dẫn về phía nhà Ký Y còn một con đường dẫn về phía ngược lại. Rõ ràng trời vừa đổ tuyết, nếu muốn tìm Nhã Anh thì cũng không khó, chỉ cần lần theo dấu chân của muội ấy là được. Có điều trên đường tới đây, rành rành chỉ có dấu chân của một mình Nhã Anh…



    Dự cảm chẳng lành chợt nảy sinh trong lòng Ký Y rồi dần lan rộng như sương đêm, khiến ngực nàng bỗng đau nhói. Nàng hít sâu một hơi nhưng chỉ khiến trái tim đập càng nhanh hơn, cuối cùng Ký Y lấy hết dũng khí bước một bước về phía trước, đi qua cửa viện, chuẩn bị đối mặt với mây đen, sương mù và hiểm nguy sắp ập tới.



    Tuyết đọng trong sân đã bị dọn dẹp qua loa, để lộ ra một con đường dẫn đến gian chính.



    Nhờ ánh sáng yếu ớt hắt ra từ phía trong, Ký Y phát hiện có người nằm sấp ở cửa phòng.



    Bấy giờ Ký Y mới ý thức được rằng, e là những dự cảm không lành khi nãy đều sẽ trở thành sự thật, còn nàng có thể thoát thân khỏi nơi này hay không thì cũng chưa biết.Tuy nhiên nàng không có lựa chọn nào khác, đành bước lên xem xét tình thế, chứng kiến hiện trường của vụ thảm kịch này.



    Cuối cùng Quan Ký Y cũng bước tới vị trí cách người đang nằm sấp trên đất kia chỉ mấy bước chân. Nàng không dám lại gần hơn, sợ mình sẽ giẫm phải vũng máu đang kết thành băng. Ký Y cẩn thận tránh khỏi vũng máu đỏ sậm ấy, vòng qua bên đầu của người nằm sấp nọ. Nàng hơi cúi người rồi chuyển chiếc đèn lồng trong tay mình ra phía trước đầu gối.



    Nàng thấy người nọ nằm yên không động đậy, sợ là đã tắt thở rồi. Ở phía bên trái trên lưng thi thể có một nhát dao đâm sâu đến nội tạng. Vết thương đã đông lại, không còn chảy máu nữa.



    Ký Y lùi về sau một bước, giẫm lên tuyết đọng. Nàng hơi khom chân, gần như ngồi xổm trên mặt đất rồi chuyển đèn lồng xuống thấp hơn, cuối cùng cũng thấy được khuôn mặt của người nọ.



    - Bá phụ Vô Cữu.



    Nàng không dám nhìn kỹ khuôn mặt của thi thể. Bá phụ Vô Cữu ngày thường luôn nghiêm mặt cau mày, Ký Y có thể tưởng tượng được phần nào vẻ mặt của ông khi hấp hối sắp đối mặt với cái chết.



    Sau đó nàng chợt thấy bên chân bá phụ Vô Cữu có mấy hàng dấu chân rải rác trên tuyết đọng, những dấu chân ấy kéo dài tới vị trí mà đèn lồng và ánh sáng trong phòng không thể chiếu tới. Nàng lần theo dấu chân đi về phía khoảng sân ở phía Tây gian chính, một cái cây to đã khô héo choán hết tầm nhìn của nàng.



    Một đoạn dây thừng đã bị cắt đứt rủ xuống từ trên cây, cách mặt đất khoảng bảy, tám thước*.



    * Thước: Đơn vị đo chiều dài của Trung Quốc, bằng khoảng một phần ba mét.



    Phía dưới sợi dây thừng là một thi thể đang nằm ngửa trên cái rễ lớn nhô ra khỏi mặt đất của gốc cây nọ. Đó là ca ca của Nhã Anh - Thượng Nguyên, đường đường nam nhi bảy thước cứ thế nằm lạnh băng, cứng đờ ở đó, không còn một chút sinh khí. Nhờ ánh sáng từ đèn lồng, Ký Y phát hiện trên cổ Thượng Nguyên có một vết dao cứa dài năm, sáu tấc*, máu bắn tứ tung thành những chấm nhỏ màu đỏ sẫm trên nền tuyết đọng.



    * Tấc: Một tấc bằng một phần mười một thước.



    Ký Y xoay người định rời đi, nhưng rồi lại quay đầu liếc nhìn thi thể của Thượng Nguyên. Từ nhỏ bọn họ đã lớn lên cùng nhau, tình cảm thân thiết như huynh muội ruột thịt, không ai ngờ rằng chuyện sinh ly tử biệt sẽ tới đột ngột như vậy. Trong lúc thoáng liếc nhìn ấy, Ký Y lại vấp phải thứ gì đó dưới chân khiến nàng lảo đảo, không ngã xuống song đèn lồng lại tuột khỏi tay nàng rơi xuống đất.



    Trước khi ánh đèn tắt ngóm, Ký Y đã kịp thấy thứ mà mình vấp phải. Ban đầu nàng tưởng đó là rễ cây, không ngờ lại là một thùng gỗ rỗng.



    Nàng nhặt đèn lồng rơi trên đất lên rồi đi về phía gian chính. Thực ra Ký Y không hề muốn bước qua cánh cửa kia, nàng biết rõ nơi ấy nhất định còn có cảnh tượng thảm thương hơn đang đợi nàng. Nếu đèn không tắt, nàng vốn có thể về nhà trước, báo cho phụ thân Quan Vô Dật biết bá phụ và đường ca* đã qua đời, rồi cùng phụ thân trở lại đây tìm những thi thể còn lại.



    * Anh họ bên nội.



    Thế nhưng lúc này Ký Y không thể tìm đường về nhà trong đêm tối, đành phải đi vào gian chính đốt đèn lồng lên.



    Đúng như dự liệu của nàng, gian chính vô cùng lộn xộn. Bá mẫu bị đâm mấy nhát dao trên lưng, còn cậu con út mới sáu tuổi được bà ôm trong lòng thì có một vết thương trí mạng ở cổ.



    Y phục của hai người đều thấm máu đen sẫm.



    Một con dao găm dính đầy máu bị vứt trên nền nhà.



    Ký Y biết con dao này, nàng dời mắt về phía giá đặt vũ khí trong phòng, quả nhiên vỏ của con dao vẫn nằm ở đó. Rõ ràng hung thủ đã lấy con dao này từ trên giá sau đó ra tay sát hại mọi người, vậy chứng tỏ hung thủ chưa chắc đã là giặc cướp mà rất có thể là khách đến thăm. Chỉ có vậy thì hung thủ mới có thể nhân lúc mọi người không đề phòng mà rút dao ra sát hại cả nhà.



    Thế nhưng…



    Ký Y lại nhìn về phía giá bày vũ khí bằng gỗ, bên trên còn có một thanh kiếm dài sáu thước vẫn nằm trong vỏ. Thân kiếm được đúc từ thép, đế kiếm hình tròn bằng ngọc, khắc hoa văn, đầu vỏ kiếm, đốc kiếm và mũi kiếm đều bằng bạch ngọc. Trên đầu vỏ kiếm có hoa văn hình phượng hoàng, trên đốc kiếm khắc hoa văn hình mây. Thanh kiếm này do tổ phụ của Ký Y ủy thác thợ rèn ở Giang Lăng chế tạo, chưa dùng bao giờ, được bày ở đó suốt bao năm. Con dao kia cũng được rèn vào thời kỳ đó. Hai thứ đều được mài rất sắc, lại được giữ gìn một cách cẩn thận.



    Binh khí chưa từng được sử dụng cuối cùng lại dùng để làm như vậy, Ký Y thầm thở dài, sau đó nhờ vào lò sưởi đang cháy để thắp sáng đèn lồng.



    Ra khỏi cửa viện Ký Y mới cảm thấy đau đớn tang thương. Trước đó chỉ có nỗi sợ trước cái chết gần bên bao trùm cảm xúc trong lòng nàng. Mới đi vài bước mà tầm nhìn của nàng đã nhòa đi trong làn nước mắt, khiến ánh đèn cũng trở nên thấp thoáng mịt mờ. Ký Y cúi đầu, nước mắt rơi xuống mặt tuyết trước mũi chân nàng.



    Cho tới tận lúc này, rốt cuộc Ký Y mới chú ý tới một sự thật.



    - Tại sao lại thế?



    Tim nàng bỗng đập nhanh hơn, nỗi sợ đã vơi dần lại kéo về khi nàng bước qua cửa viện.



    - Không lẽ hung thủ vẫn còn trốn trong phòng?



    Nàng chợt hiểu được chuyện vừa xảy ra: Hung thủ tới chơi sau khi bá phụ đánh Nhã Anh rồi nhốt nàng vào nhà kho. Lúc ấy trời còn chưa đổ tuyết. Hẳn là Nhã Anh đã trốn đi khi hung thủ trò chuyện với bá phụ ở gian chính, thời điểm đó tuyết đã rơi rồi. Ký Y suy đoán như vậy, bởi vì nhà kho nhốt Nhã Anh nằm ở phía sau gian chính, nếu Nhã Anh muốn trốn thì nhất định phải đi qua sân của gian chính. Khi Nhã Anh tới nhà nàng thì chỉ nói là mình bị đánh chứ không nhắc tới chuyện người nhà đã bị hại. Chứng tỏ lúc Nhã Anh trốn đi trong sân chưa có thi thể, án mạng còn chưa xảy ra. Sau khi sát hại mọi người, hung thủ chưa rời đi ngay mà vẫn ở lại trong viện, có lẽ là để tìm kiếm thứ gì đó. Lúc nghe được tiếng gọi cửa của Ký Y, hung thủ mới trốn đi.



    Chỉ có thể giải thích mọi chuyện như vậy, nếu không…



    Dù lúc này tuyết lại rơi thì dấu chân chạy trốn của Nhã Anh và dấu chân tới đây của Ký Y vẫn hiện ra rất rõ.



    Tuyết rơi càng lúc càng lớn. Khi Ký Y chạy như bay về đến cửa viện nhà mình thì dấu chân phía sau nàng đã bị những bông tuyết lớn che phủ. Có nghĩa là tuyết vừa rơi cũng sẽ phủ lên thi thể của bá phụ và đường ca của nàng. Nàng dừng bước, đứng giữa trời tuyết, cố gắng sắp xếp dòng tư duy sau cơn bi lụy đau thương, song cuối cùng cũng không thể đưa ra lời giải thích hợp lý hơn.



    Chỉ có thể giải thích mọi chuyện như vậy, nếu không…



    Nếu không, tại sao trên một con đường khác bên ngoài nhà bá phụ lại không hề có dấu chân nào?
     
  3. Thỏ Ngọc

    Thỏ Ngọc ❀๖ۣۜWo♫๖ۣۜAi♫๖ۣۜNi❀๖ۣۜINever♈๖ۣۜCry♀Cross♕ Thành viên BQT Tác giả VW

    Bài viết:
    9,743
    Đã được thích:
    9,411
    Điểm thành tích:
    113

    P1-Chương 3+4

    [3]



    “… Đó chính là thảm kịch của gia đình bá phụ xảy ra vào bốn năm trước.”



    Khi Quan Lộ Thân kể xong vụ án thì sắc trời vẫn chưa tối hẳn, nhưng ánh tà dương nơi chân trời đã nhuốm màu đen ảm đạm.



    “Bốn năm trước ư?”



    Quỳ nghiền ngẫm cụm từ này, rồi không khỏi hồi tưởng lại chuyện ngày xưa.



    Khi ấy Quỳ vừa tròn mười ba tuổi, mới bắt đầu luyện tập bắn cung. Những nốt chai trên tay nàng bị mài rách hết lần này đến lần khác, chảy mủ rất đáng sợ, rồi khi lành thì lại cọ xát ra nốt chai mới. Vị tướng quân dạy nàng bắn cung đã trải qua hàng trăm trận chiến, cũng có một vết sẹo như rết bò trên mặt. Khi Quỳ bắn trúng bia ở độ xa trên tám mươi bước bằng cây cung hai trăm cân thì vị tướng quân dũng mãnh ấy mới nở nụ cười trước mặt nàng lần đầu tiên. Vì vết sẹo mà nụ cười ấy còn dữ dằn đáng sợ hơn cả khi ông quở mắng. Để ăn mừng, tối hôm ấy ông và nàng ngồi bên vò rượu, dùng gáo bầu múc rượu để uống, cho tới khi nàng say khướt, ông mới đưa nàng về nhà. Kể từ đó, Quỳ vốn cẩn trọng e dè cũng ngày một phóng khoáng hơn.



    “Phải rồi, đêm ấy Lộ Thân làm gì?”



    “Lúc đó ta đã ngủ rồi, các tỷ tỷ cũng không đánh thức ta.”



    “Đây đúng là tác phong của ngươi.” Quỳ trêu chọc song giọng điệu lại rất điềm nhiên. Bầu không khí giữa hai người hơi ngột ngạt. “Tới giờ hung thủ vẫn chưa bị bắt về quy án sao?”



    “Đúng thế, tới giờ vẫn chưa.”



    “Nếu vậy thì có lẽ ta sẽ giúp được phần nào. Ta từng đi theo Kinh Triệu doãn* đại nhân học cách xử án. Khi ở Trường An, ta cũng từng giúp quan triều đình giải quyết vài vụ án. Tuy không tiện tham dự vào việc điều tra nhưng cũng may ta khá am hiểu tổng kết manh mối, rồi từ đó tìm ra chân tướng.” Có lẽ Quỳ thực sự muốn làm gì đó để giúp Lộ Thân, cũng có thể là chẳng qua nàng không muốn bỏ qua cơ hội phô diễn tài năng. “Những điều ngươi kể khi nãy đều do tỷ tỷ Quan Ký Y của ngươi thuật lại đúng không?”



    * Một chức quan ở Kinh thành thời xưa, tương đương với Chủ tịch/ Thị trưởng thủ đô ngày nay.



    “Đúng vậy.” Lộ Thân gật đầu, “Tiếc là Ký Y tỷ đã tạ thế nên không thể cho ngươi biết thêm nhiều chi tiết.”



    “Vậy đường tỷ Quan Nhã Anh của ngươi thì sao? Hẳn là nàng ta còn nhớ những chuyện trước khi vụ án xảy ra chứ?”



    “Có lẽ vậy, tuy nhiên chúng ta đều không dám nhắc lại chuyện năm đó trước mặt tỷ ấy.” Lộ Thân giải thích, “Từ khi chuyện đó xảy ra, tinh thần của Nhã Anh tỷ luôn không ổn định, lúc nào cũng nhốt mình trong phòng, đến sân nhà cũng hiếm khi bước ra. Đầu mùa hạ hai năm trước, khi Ký Y tỷ vẫn còn sống, tỷ ấy từng kéo bằng được Nhã Anh tỷ vào núi hái thảo dược, ai ngờ mới đi chưa được một dặm đường, Nhã Anh tỷ liền nhìn thấy một con rắn hoa* quấn trên cành cây rồi ngã ngồi trên đất. Ký Y tỷ đành ôm lấy tỷ ấy ra sức an ủi, nhưng vẫn bị tỷ ấy đẩy ra. Nhã Anh tỷ cứ ngồi yên như vậy, khuôn mặt đờ đẫn, cũng không nói gì hết, chỉ có tay trái thuận là không ngừng co giật, một lúc lâu sau tỷ ấy mới có thể gượng dậy, rồi được Ký Y tỷ dìu về phòng. Ta không nghĩ những người lạnh lùng vô cảm là kiên cường, mà lại cho rằng những người vô cùng mẫn cảm mới là người kiên cường nhất, vì để sống tiếp họ phải đánh đổi bằng rất nhiều nỗ lực, chấp nhận đối mặt với những nỗi sợ. Huống chi Nhã Anh tỷ tỷ còn cố gắng đến vậy…”



    * Rắn hoa: Hay còn gọi là rắn bay, có thể bay từ cây này sang cây khác.



    Nói tới đây, Lộ Thân lại òa khóc nức nở.



    “Trước đây rõ ràng Nhã Anh tỷ rất dũng cảm, khi chơi trên núi với ta còn bảo vệ ta…”



    Quỳ bước lại gần bạn mình, tháo lớp da thuộc quấn quanh ngón tay rồi dùng mu bàn tay để lau nước mắt cho Lộ Thân, bởi hai tay Lộ Thân đều đã bị thi thể của chim trĩ làm dơ.



    “Nhà của các ngươi ở rất gần nhau đúng không?”



    “Không xa. Cách nhau chưa tới một dặm, mà còn là đường hẻm núi dễ đi. Hai bên vách núi đều dựng đứng cheo leo, cũng không phải sợ thú dữ nhảy từ trên núi xuống. Vậy nên đêm ấy tuy Nhã Anh tỷ không cầm đèn theo nhưng tỷ ấy vẫn có thể chạy tới một mình.”



    “Ra là thế. Sau khi Quan Ký Y thuật lại mọi chuyện, cha ngươi lại đích thân tới nhà bá phụ ngươi sao?”



    “Đúng, Ký Y tỷ cũng đi theo.”



    “Ừm. Ta hiểu rồi. Quan Nhã Anh tới nhà ngươi vào nhập nhoạng tối, tuyết đã ngừng rơi, nhưng trên mặt đất vẫn còn tuyết đọng. Bởi vậy trên đường từ nhà bá phụ ngươi đến nhà ngươi có dấu chân của nàng ta. Nhưng khi tới nàng ta lại không nhắc gì đến vụ huyết án…” Quỳ phân tích, “Phải rồi, nếu Quan Nhã Anh muốn trốn từ nhà kho giam giữ nàng ta để tới nhà ngươi thì nhất định phải đi qua khoảnh sân trước gian chính ư?”



    “Nhất định phải đi qua đó.”



    “Vậy tức là, nếu không phải nàng ta đang ra sức giấu giếm thì hẳn là hung án xảy ra sau khi nàng ta rời nhà. Có điều lúc nàng ta rời nhà thì tuyết đã ngừng rơi, giả sử sau khi Quan Nhã Anh rời nhà, hung thủ mới tới nhà bá phụ ngươi từ một con đường khác, vậy cũng phải để lại dấu chân trên đường chứ nhỉ? Nhưng lần đầu tiên Quan Ký Y tới hiện trường xảy ra vụ án, trên con đường dẫn từ nhà bá phụ ngươi vào núi không có dấu chân của bất kì ai. Điều này chứng tỏ…”



    “Chứng tỏ hung thủ đã tới nhà bá phụ Vô Cữu trước khi tuyết ngừng rơi, rồi ở lại tới khi Nhã Anh rời đi. Vậy thì trong thời gian đó hung thủ phải trốn ở nơi nào đây?”



    “Ký Y tỷ đoán rằng, trong khoảng thời gian đó hung thủ ở lại gian chính với thân phận là khách.”



    “Nếu vậy thì hung thủ sẽ ra tay sát hại bắt đầu từ gian chính, giết bá mẫu và đường đệ của ngươi trước tiên, sau đó mới giết bá phụ và cuối cùng là đường ca của ngươi.”



    “Nếu hung khí đã được lấy từ giá bày vũ khí ở gian chính…”



    “Đây chính là tình tiết mà ta băn khoăn nhất.” Quỳ lắc đầu rồi nói tiếp: “Qua lời kể của ngươi, ta vẫn còn một nghi vấn về hung khí. Nếu không tháo gỡ được nghi vấn này thì giả thuyết của tỷ tỷ ngươi không thể nào thành lập. Ta không hiểu tại sao hung thủ không sử dụng thanh kiếm dài trên giá bày vũ khí mà lại chọn con dao găm kia?”



    “Có lẽ vì thấy tiện hơn. Dùng kiếm dài trong nhà không thể tiện bằng dùng dao găm được.”



    “Ở trong nhà thì có lẽ là vậy, nhưng bá phụ và đường ca của ngươi đều bị sát hại ở bên ngoài cơ mà. Bây giờ chúng ta có thể chia ra ba trường hợp để thảo luận về vụ án này. Thứ nhất, khi vụ án bắt đầu xảy ra, cả hai người họ đều ở trong gian chính. Nếu nghĩ như vậy thì họ cũng quá nhát gan, hung thủ chỉ cầm một con dao găm mà bọn họ đã bỏ mặc phụ nữ trẻ con rồi chỉ chăm chăm thoát thân một mình. Mà khi hung thủ truy kích bọn họ, lẽ ra phải cầm lấy thanh kiếm dài kia mới đúng. Bởi vậy, chúng ta có thể loại trừ trường hợp này. Thứ hai, khi vụ án xảy ra, giữa bá phụ và đường ca của ngươi chỉ có một người ở trong gian chính, người còn lại ở bên ngoài. Dựa theo lý do tương tự, trường hợp này cũng khó mà thành lập. Vậy thì chỉ còn trường hợp thứ ba, khi vụ án xảy ra hai người họ đều ở bên ngoài, bá phụ ngươi nghe thấy tiếng thét kinh hoàng của vợ con mới chạy về phía gian chính và bị sát hại trước cửa…”



    “Nói vậy thì hung thủ càng nên lấy thanh kiếm dài kia xuống để sát hại ông ấy chứ, đúng không?”



    “Đúng thế.” Nói tới đây, Quỳ im lặng trong giây lát, có lẽ vì muốn cho Lộ Thân thời gian để sắp xếp tư duy. “Hung thủ lựa chọn hung khí một cách rất bất thường, mà suy đoán của Quan Ký Y cũng không thể giải thích được điểm đáng ngờ này, vậy nên e rằng giả thiết của nàng ta không thể thành lập. Vậy là chúng ta chắc chắn phải cân nhắc đến giả thiết khác.”



    “Giả thiết khác? Ta không hiểu.”



    “Giả sử hung thủ gây án không phải người ngoài…”



    “Tiểu Quỳ, ngươi có biết mình đang nói gì không?”



    Lộ Thân thoáng sững người, chim trĩ được cầm trong tay cũng rơi xuống đất. Nàng không thể tiếp tục nghĩ theo mạch tư duy của Quỳ, cũng không hy vọng Quỳ nói tiếp. Lộ Thân chợt nhận ra rằng, người bạn trước mặt mình đã xâm nhập vào vùng cấm, nếu để mặc nàng tiếp tục tìm hiểu vụ án thì chỉ khiến tình bạn mới chớm nở của hai người chìm vào bóng tối mà thôi.



    “Ta đương nhiên biết mình đang nói gì.” Quỳ không để ý là cả người Lộ Thân đã run lên, răng cũng cắn chặt vào môi. “Nếu trên mặt tuyết chỉ có dấu chân của Quan Nhã Anh, mà nàng ta lại là người sống sót duy nhất của cả nhà bá phụ ngươi, vậy chúng ta cũng phải thảo luận một chút về giả thiết này - Liệu đường tỷ Quan Nhã Anh của ngươi có phải là hung thủ hay không?”



    Trước câu hỏi này, Lộ Thân im lặng không đáp.



    “Nếu chúng ta giả sử nàng ta là hung thủ, vậy trước khi suy xét đến lý do lựa chọn hung khí, chúng ta còn phải giải quyết một vấn đề khác, đó là làm thế nào mà Quan Nhã Anh lại vào được gian chính để lấy hung khí? Nàng ta vừa bị đánh, lại bị nhốt vào trong kho, lúc đó không thể đường đường chính chính đi vào gian chính đúng không? Thế nhưng, chuyện bị nhốt vào kho chỉ là lời nói một phía của nàng ta, biết đâu sau khi bị đánh nàng ta vẫn ở trong gian chính thì sao. Vậy tức là nàng ta sẽ có cơ hội lấy được hung khí. Bây giờ, chúng ta lại suy xét đến lý do vì sao nàng ta lại chọn dao găm mà không chọn kiếm dài. Có lẽ nguyên nhân cũng rất đơn giản, đó là dao găm dễ cất giấu hơn kiếm. Có thể suy đoán thế này, vì không muốn tiếp tục phải chịu ngược đãi, Nhã Anh đã có ý định sát hại cả nhà. Nhân lúc phụ thân và ca ca không ở trong gian chính, mẫu thân và đệ đệ không chú ý, nàng ta đã lấy con dao găm từ trên giá bày binh khí rồi giấu ra sau người, sau đó lẳng lặng sát hại mẫu thân và đệ đệ. Tiếp đó nàng ta trốn ra cạnh cửa, dự định sẽ phục kích bá phụ ngươi và cũng đã thành công. Sau khi trúng mấy nhát dao vào lưng, bá phụ ngươi bò ra bên ngoài mấy thước rồi ngã trên mặt đất. Khi ấy đường ca ngươi đang đứng cạnh gốc cây lớn ở phía Tây sân nhà, không hề hay biết về thảm kịch vừa xảy ra. Quan Nhã Anh bèn giấu dao găm sau người, tới gần Quan Thượng Nguyên như không có chuyện gì, sau đó… Lộ Thân, ngươi có đang nghe không đấy?”



    “Đủ rồi Tiểu Quỳ, không cần nói tiếp nữa. Ta vẫn còn muốn làm bạn với ngươi.”



    “Tuy giả thiết này hợp lý hơn giả thiết đầu tiên, nhưng còn có rất nhiều điểm không giải thích được. Ví dụ, sợi dây thừng bị chặt đứt buông thõng từ trên cây xuống có vai trò gì? Lại ví dụ như, vì sao thùng gỗ mà tỷ tỷ ngươi vấp phải lại xuất hiện ở đó? Một đáp án hoàn mỹ phải vừa giải thích được lý do hung thủ lựa chọn hung khí, vừa tháo gỡ được những điểm đáng ngờ kia. Rõ ràng là suy luận khi nãy của ta không làm được điều đó.”



    May mà, may mà Tiểu Quỳ không nghi ngờ người thân của mình - Lộ Thân thầm mừng rỡ, bắp thịt căng cứng trên mặt cũng giãn ra. Tuy nhiên những hoài nghi mà Quỳ đã gieo vào lòng nàng thì chẳng thể xua tan, bởi vì giả thiết hung thủ gây án là người ngoài gần như đã bị Quỳ loại trừ. Đến giờ thì Lộ Thân đành đặt hết hy vọng vào trí tuệ của Quỳ, mong nàng có thể đưa ra lời giải thích hợp lý để tháo gỡ mọi điểm đáng ngờ - Giải thích tại sao hung thủ lại chọn dao găm mà không phải kiếm dài, cũng giải thích vai trò của đoạn dây thừng và thùng gỗ kia…



    Song cuối cùng Quỳ cũng không bị ảnh hưởng bởi ý muốn của Lộ Thân. Ông Trời đã ban cho nàng trí thông minh đủ để hiểu rõ hết thảy, như thể chỉ vì muốn nàng tiếp tục làm Lộ Thân tổn thương.



    Thế rồi Quỳ thong dong mở miệng, nói ra lời giải đáp mà nàng thấy hợp lý nhất:



    “Theo ta nghĩ, hung thủ thực sự chính là tỷ tỷ Quan Ký Y của ngươi.”

    -------------

    [4]



    “Sở dĩ chúng ta cho rằng hung thủ lựa chọn dao găm mà không phải kiếm dài là một hành động bất hợp lý, chỉ bởi vì kiếm dài thích hợp dùng để giết người hơn dao găm. Có điều nếu dùng để làm những việc khác thì dao găm lại tiện hơn kiếm dài. Vậy nên giả sử hung thủ lấy dao găm để dùng vào việc khác thì hành động này liền trở nên hoàn toàn hợp lý.” Quỳ giải thích, “Nói cách khác, việc hung thủ ra tay giết người chỉ là ý niệm bất chợt của nàng ta. Sau khi dùng dao găm để làm xong việc gì đó, nàng ta mới có ý định giết cả nhà bá phụ ngươi.”



    Lộ Thân phớt lờ Quỳ, nhưng nghe điều này mà rùng mình sợ hãi.



    “Vậy là việc gì mà dùng dao găm thì tiện còn dùng kiếm dài lại không tiện đây? Có rất nhiều việc như thế, kết hợp với manh mối để lại ở hiện trường thì đúng là việc này - Trước khi giết người, hung thủ dùng dao găm cắt đứt sợi dây thừng mắc trên cái cây kia.”



    “Sợi dây đó…”



    Lộ Thân vẫn đang giận dỗi không muốn nói chuyện với Quỳ, lại không kìm lòng được mà lên tiếng.



    “Ta nghĩ Lộ Thân cũng đoán ra công dụng của sợi dây kia rồi. Bá phụ ngươi là một người tàn nhẫn, ông ta không có ý định tha thứ cho Nhã Anh. Sau khi phát hiện nàng trốn khỏi nhà kho, bá phụ ngươi bèn muốn phạt Nhã Anh gấp bội. Theo như suy đoán của ta thì có lẽ chuyện ngày hôm ấy đã diễn ra thế này…



    Khi Quan Ký Y tới nhà bá phụ ngươi thì cả nhà bọn họ vẫn bình thường. Bá phụ ngươi đang cầm dây thừng buộc lên cái cây lớn trong sân kia, còn đường ca ngươi thì đang mang thùng gỗ đựng nước về phía đó. Bá mẫu và đường đệ ngươi hẳn đang ở trong gian chính sưởi ấm bên lò sưởi. Thấy Quan Ký Y tới chơi, người trong nhà liền chào hỏi rồi mời nàng ta vào nhà sưởi cho ấm người, nàng ta bèn nghe theo. Cũng vào lúc ấy, Quan Ký Y nghe thấy cuộc trò chuyện của bá phụ và đường ca ngươi.



    Hóa ra chuyện Nhã Anh trốn khỏi nhà kho đã bị phát hiện, bá phụ ngươi quyết định khi nào Nhã Anh trở lại sẽ treo nàng ta lên cái cây kia, rồi quất nàng ta một trận để trừng phạt vì dám trốn đi. Mà sở dĩ cần thùng nước là vì một khi đánh Nhã Anh đến ngất xỉu thì cần dùng nước lạnh để giội tỉnh. Khi Quan Ký Y biết chuyện này ắt là cực kỳ kinh hãi, vì với tình trạng hiện giờ của Quan Nhã Anh thì e rằng nàng không thể chịu đựng sự trừng phạt nghiêm khắc như thế. Quan Ký Y chỉ muốn ngăn cản bá phụ. Bởi vậy nàng ta rút con dao găm kia từ trên giá bày binh khí, chạy tới chỗ cái cây, cắt đứt sợi dây thừng định dùng để trói Nhã Anh rồi bắt đầu tranh chấp với bá phụ. Cuối cùng cuộc tranh cãi không có kết quả, bá phụ vẫn khăng khăng bắt Nhã Anh phải chịu ‘sự trừng phạt thích đáng’, thế là…”



    Trong khoảnh khắc ấy, Lộ Thân cũng đã tin kết luận của Quỳ, nhất thời nàng thấy mặt đất dưới chân như sụt xuống, cây cỏ trôi nổi giữa không trung, vun vút quay tròn quanh người mình.



    Nàng khép hai gối lại, hai tay chống lên đùi, hạ thấp trọng tâm của cơ thể, cố gắng để bản thân không ngã xuống đất.



    “… Thế là Quan Ký Y dùng con dao găm kia để sát hại cả nhà bá phụ ngươi. Nàng ta làm vậy chỉ vì muốn bảo vệ Quan Nhã Anh. Đồng thời, hiện trường vụ án mà Quan Ký Y miêu tả lại với ngươi không phải tình hình thật ở nhà bá phụ ngươi mà chỉ là hiện trường do nàng ta bịa đặt ra thôi.”



    Khi ấy Lộ Thân còn chưa biết rằng, Quỳ thẳng thắn và uyên bác cũng có một mặt tàn khốc, chỉ bộc lộ khi nàng ở bên tỳ nữ Tiểu Hưu của mình.



    Suy luận khi nãy cũng chỉ có Quỳ thường xuyên dùng roi sát phạt mới nghĩ ra.



    Cái tên Tiểu Hưu này do chính Quỳ chọn, trích từ thiên Dân lao thuộc Đại nhã*. Từ khi được đặt cho cái tên này, thiếu nữ Tiểu Hưu nhỏ hơn Quỳ một tuổi ấy đã bắt đầu hành trình nhân sinh gian khổ không ngừng. Quỳ đi du ngoạn từ Trường An tới đất Sở, Tiểu Hưu luôn cun cút theo sau, những chuyện nhỏ trong sinh hoạt thường ngày đều do một tay nàng lo liệu. Từ đó có thể nhận ra, “Tiểu Hưu**” là bề ngoài, mà “Dân lao***” mới là dụng ý thực sự khi Quỳ chọn cho nàng cái tên này.



    * Đại nhã - Dân lao: Một bài thơ trong Kinh Thi.



    ** Có nghĩa là nghỉ ngơi.



    *** Nghĩa là người dân lao động.



    Khi Quỳ và Lộ Thân ra ngoài săn bắn, Tiểu Hưu đang quét dọn gian phòng dành cho khách mà nhà họ Quan chuẩn bị cho Quỳ.



    Quỳ xuất thân từ thế gia vọng tộc luôn cực kỳ kén chọn trong chuyện ăn ở, Tiểu Hưu hầu hạ nàng vô cùng cẩn thận. Thỉnh thoảng Quỳ cũng trách phạt Tiểu Hưu nhưng không nặng nề, thậm chí chưa bao giờ khiến Tiểu Hưu phải khóc. Đương nhiên, hầu hết thời điểm ấy Tiểu Hưu cũng không làm sai gì cả, chẳng qua là bị chủ nhân nghiêm khắc trút giận lên người mà thôi.



    “Nhưng nếu là như vậy, Tiểu Quỳ…”



    “Lộ Thân, ngươi muốn nói gì cơ?”



    Gió lớn bỗng nổi lên, cuốn lấy bụi đất và hoa lá lướt qua vạt áo của hai người.



    Để nghe rõ Lộ Thân nói chuyện, Quỳ bước lên phía trước một bước, nhưng Lộ Thân lại khó chịu quay mặt đi, chăm chú nhìn cảnh hoàng hôn đã mờ đi trong làn nước mắt.



    Tịch dương đã tắt, hồng nhan đang hóa thành xương khô, khiến từng đàn quạ đen bay lượn phía chân trời.



    Ban đầu, thoạt tiên ở rìa ráng mây nhuốm một chút màu tía nhạt nhòa, sau đó dần lan vào phía trong, tới khi chỉ còn lại một thoáng mây hồng vương trên đỉnh núi xa. Lúc này, tịch dương đã hoàn toàn biến mất. Một vệt ánh sáng chiếu từ sau lưng núi vào trong mây, dát một màu vàng vẩn đục lên rìa đen của tầng mây. Chẳng bao lâu sau, thứ trang sức rẻ tiền này cũng bị bong ra từng mảng tới khi không còn sót lại chút gì.



    Đám mây tụ lại phía Tây bầu trời rốt cuộc cũng hóa thành một bộ xương màu đen, chẳng có lấy một miếng thịt thối sót lại trên ấy.



    Cuối cùng mây đen cũng tan biến giữa trời đêm. Trước khi vầng trăng hạ huyền mọc lên, chẳng ai chú ý tới sự tồn tại của nó.



    “… Tiểu Quỳ, thật không may, có lẽ giả thiết của ngươi không thể thành lập được.” Lộ Thân lạnh lùng nói, “Giả sử Ký Y tỷ đúng là hung thủ, vậy tỷ ấy hoàn toàn không cần cho chúng ta biết chuyện về dấu chân, bởi vì chuyện đó chỉ có một mình tỷ ấy biết mà thôi. Khi Ký Y tỷ về nhà báo với phụ thân, trời lại đổ tuyết lớn, dấu chân được lưu lại đều bị che phủ. Ký Y tỷ hoàn toàn có thể che giấu chuyện đó, chỉ cần không nhắc tới chuyện trên con đường kia không có dấu chân thì bất kỳ ai cũng sẽ cho rằng, trước khi tuyết lớn lại rơi, ở nơi đó còn lưu lại dấu chân của hung thủ đến từ bên ngoài. Nếu tỷ ấy là hung thủ, việc tỷ ấy kể ra chuyện này là cực kỳ bất lợi cho bản thân. Nhưng bởi vì Ký Y tỷ đã kể ra chuyện về dấu chân, nên tỷ ấy không thể là hung thủ được.”



    Nghe Lộ Thân nói những lời này, Quỳ gật đầu.



    “Có lẽ ngươi nói đúng. Ta không biết tính cách của nàng ta, cũng không thể nào hiểu rõ. Tỷ tỷ của ngươi có phải người cẩn trọng không? Nếu không phải, rất có thể nàng ta đã lỡ miệng nói ra…”



    “Tiểu Quỳ, về con người Ký Y tỷ, ngươi hiểu được bao nhiêu cơ chứ?”



    “Ta gần như không biết gì về nàng ta. Chỉ biết nàng ta vô cùng yêu thương Nhã Anh tỷ, là một người rất dịu dàng, và đã qua đời vào một năm trước.”



    “Rõ ràng ngươi chẳng biết gì cả, vậy mà khi nãy ngươi lại phỏng đoán về tỷ ấy một cách độc địa như vậy. Ta ghét Tiểu Quỳ thế này lắm.”



    Quỳ cúi đầu nghe Lộ Thân chỉ trích.



    “Cả đời Ký Y tỷ chưa từng ra khỏi Vân Mộng trạch. Ta không biết rốt cuộc điều này là may mắn hay là bất hạnh của tỷ ấy. Ta chỉ biết rằng, Ký Y tỷ vẫn luôn khao khát thế giới rộng lớn bên ngoài Vân Mộng. Cô cô* của ta đã lấy một vị nhạc sư họ Chung, thường ở tại Trường An, vào dịp này hằng năm luôn về Vân Mộng trạch để tham gia lễ tế. Ký Y tỷ nghe cô cô kể rất nhiều chuyện về Trường An, cũng mong mỏi trong lòng. Nghe nói tỷ ấy từng âm thầm nhờ cô cô tìm giúp một vị phu tế ở Trường An. Tuy nhiên phụ thân lại có tính toán khác với tương lai của tỷ ấy. Phụ thân vốn cho rằng, nhà bá phụ đã có con trai trưởng kế nghiệp, con trai út thì để làm con nuôi cho nhà mình. Nhưng vì chuyện xảy ra vào bốn năm trước, phụ thân không thể không cân nhắc lại vấn đề dòng dõi của nhà họ Quan, kết quả là trọng trách này đương nhiên rơi xuống vai của trưởng nữ Ký Y tỷ. Tức là, phụ thân hy vọng tỷ ấy có thể…”



    * Em gái của cha.



    “Hy vọng nàng ta có thể tuyển một vị chuế tế* đúng không?”



    * Người ở rể nhà vợ.



    “Đúng thế. Với người một lòng muốn rời khỏi Vân Mộng trạch như Ký Y tỷ, điều này đương nhiên là một cú đả kích nặng nề. Nguyện vọng suốt bao lâu nay của Ký Y tỷ vẫn luôn là lấy chồng ở một nơi khác bên ngoài Vân Mộng trạch, rồi dẫn theo cả Nhã Anh tỷ cùng đi. Trong suy nghĩ của tỷ ấy, chỉ có làm vậy thì mới bảo vệ được Nhã Anh tỷ, tránh để bá phụ quá nghiêm khắc tiếp tục làm Nhã Anh tỷ tổn thương. Dù rằng, sau sự việc xảy ra vào bốn năm trước bá phụ đã qua đời - nói thế này có lẽ không ổn lắm, song sự thực là như vậy - Tóm lại nguyện vọng bảo vệ Nhã Anh tỷ dường như đã thành hiện thực. Có lẽ bấy giờ Ký Y tỷ mới nhận ra nguyện vọng thực sự của mình kỳ thực chỉ là rời khỏi Vân Mộng trạch, rời khỏi chốn hoang vu mà gia tộc họ Quan đời đời ẩn cư. Ký Y tỷ nhạy cảm như vậy, chắc chắn đã tự trách mình một phen, dù sao nhất định tỷ ấy đã nghĩ đây là một ý niệm ích kỷ. Cũng có thể xuất phát từ sự tự trách này mà cuối cùng Ký Y tỷ đã chấp thuận yêu cầu của phụ thân, đồng ý để phụ thân chọn cho tỷ ấy một vị chuế tế. Có điều trong lòng Ký Y tỷ ắt hẳn là cực kỳ, cực kỳ không cam tâm…”



    “Vậy thì đúng là khá đáng thương.”



    Nghe xong câu chuyện về Ký Y, Quỳ không khỏi thở dài.



    Đối với người con gái sinh ra trong một gia tộc phú quý, chuyện ở bên chuế tế đến hết đời là một cái kết vô cùng khủng khiếp.



    Trong mắt người thời đó, chuế tế chẳng khác gì nô bộc, chỉ là một công cụ để gia tộc không có con trai nối dõi tông đường mà thôi. Một gia tộc có con gái nhưng không có con trai, nếu muốn kéo dài huyết thống dòng họ thì không thể không tìm chuế tế. Trong phong tục một thời ở Hoài Nam, bán con của mình cho người khác được gọi là “chuế tử”; cũng là chữ “chuế”, từ đó có thể suy ra địa vị thấp kém của chuế tế, mà khởi nguồn của cách gọi “chuế tế” cũng có thể giải thích như vậy.



    Quan Ký Y đồng ý để phụ thân tuyển cho mình một chuế tế, đại thể cũng chính là đồng ý để ông ấy gả mình cho một nô bộc.



    Sở dĩ phải “tuyển”, bởi vì nhà họ Quan chưa nuôi người hầu nam, cần mua một chuế tử về để làm chuế tế của Quan Ký Y.



    Chỉ cần Quan Ký Y và chuế tế sinh ra con trai thì hương khói của gia tộc họ Quan cũng có thể tiếp tục kéo dài.



    Nhưng vậy cũng có nghĩa là Quan Ký Y phải sống đến hết đời với một nô bộc, còn phải nhục nhã làm chuyện giường chiếu với nô bộc, rồi còn sinh ra cốt nhục của nô bộc.



    Giấc mộng Trường An kéo dài hơn mười năm đành tan nát.



    Tương lai chờ đợi Quan Ký Y chỉ còn lại sự tuyệt vọng mà thôi.



    “Bởi vậy chẳng bao lâu sau Ký Y tỷ liền đổ bệnh rồi qua đời, e rằng trái tim của tỷ ấy đã sớm rời khỏi nhân thế. Khi ốm nặng, tỷ ấy đã đoán mình không thể vượt qua cửa ải này, bèn nói với mấy tỷ muội bọn ta rằng: ‘Xin lỗi, sợ rằng tỷ vừa mất, các muội sẽ phải gánh chịu nỗi bất hạnh của tỷ.’ Thực ra Giang Ly tỷ vẫn luôn tập luyện diễn tấu nhạc khí, cũng vì muốn rời khỏi nơi này, trở thành một nhạc sư giống như cô phụ*. Còn Nhã Anh tỷ thì phải nỗ lực hoàn thành di nguyện của bá phụ, để bản thân trở thành Vu nữ được tham dự vào lễ tế của vương triều. Nghĩ đi nghĩ lại, e là trọng trách này sẽ phải do ta gánh vác…”



    * Chú - chồng của cô.



    Nghe tới đây, Quỳ chỉ nhíu mày, đứng lặng im mà không nói gì.



    “Lúc lâm chung, Ký Y tỷ đã hát một đoạn trong Cửu chương, có lẽ Tiểu Quỳ cũng đoán được là đoạn nào… Mà thôi, cũng không cần đoán, dù sao câu trả lời chắc chắn rất bi thương. Nếu ngươi đoán sai, ta còn phải nghe thêm vài câu thơ buồn bã. Lúc lâm chung, Ký Y tỷ đã hát rằng:



    Thương cái sống của ta chi buồn bực hề,



    Một mình ở trong núi sâu.



    Ta không hay đổi lòng mà theo tục hề,



    Đành ta trọn đời mà ôm sầu.*



    * Trích từ tác phẩm Cửu chương - Thiệp giang của Khuất Nguyên, bản dịch của Phan Kế Bính.



    Lần này thì Vu Lăng Quỳ cũng phải rơi lệ vì người con gái mà nàng chưa từng gặp ấy.



    “Nhưng Lộ Thân à, ngươi có biết không,” Quỳ nức nở nói, “Lấy một chuế tế vốn không phải số mệnh bi thảm nhất. Ta cũng là trưởng nữ, ta cũng có tương lai buộc phải đối mặt. Không, phải nói là, những xiềng xích kia đã sớm quấn quanh người ta. Có lẽ ngươi không biết, thời Xuân Thu, nước Tề có một vị Quốc quân ngu ngốc, thụy hiệu là ‘Tương công’, y từng hạ lệnh: Trưởng nữ trong gia tộc không được lấy chồng. Trưởng nữ bị cấm lấy chồng phải chủ trì chuyện lễ bái thờ cúng trong gia tộc, được gọi là ‘Vu nhi’. Sau đó người Tề đều tin rằng, nếu ‘Vu nhi’ lấy chồng thì gia tộc của nàng sẽ gặp tai ương, bản thân nàng cũng vô cùng bất hạnh. Đến nay đất Tề vẫn còn loại phong tục này. Tuy ta sinh ra và lớn lên ở Trường An nhưng gia tộc Vu Lăng dẫu sao cũng bắt nguồn từ đất Tề, bởi vậy phải tuân theo hủ tục này. Chỉ vì mệnh lệnh của tên hôn quân kia mà số mệnh của ta đã bị định đoạt từ rất lâu rồi. Không sai, ta là trưởng nữ, ngày bé phụ mẫu cũng gọi ta là ‘Vu nhi’…”



    Nói tới đây, Quỳ mỉm cười đầy chua xót.



    “Hiểu rồi chứ, Lộ Thân, số mệnh nực cười biết bao! Suốt kiếp này, ta cũng không được lấy chồng.”

    * * *
     
  4. Thỏ Ngọc

    Thỏ Ngọc ❀๖ۣۜWo♫๖ۣۜAi♫๖ۣۜNi❀๖ۣۜINever♈๖ۣۜCry♀Cross♕ Thành viên BQT Tác giả VW

    Bài viết:
    9,743
    Đã được thích:
    9,411
    Điểm thành tích:
    113

    P2-Chương 1+2

    [1]



    Gia tộc tề tựu khách chung vui



    Sơn hào hải vị trăm ngàn món*



    * Trích trong bài Chiêu hồn của Khuất Nguyên, cũng có người cho rằng của Tống Ngọc.

    ***

    [1]



    Ban đêm Quỳ thay một bộ y phục mỏng bằng lụa rồi cùng Lộ Thân tới sảnh chính. Còn Tiểu Hưu thì ở nhà bếp phía Đông giúp người hầu nhà họ Quan chuẩn bị cơm canh.



    Nóc nhà sảnh chính có dựng bốn trụ gỗ, nhìn như mũ quan cắm lông chim trĩ, trước sảnh đặt bốn bức bình phong. Một bức rèm che màu đỏ tươi có thêu hình phượng bằng kim tuyến, đính vòng vàng khảm ngọc thạch và tua rua được giăng giữa các cột nhà. Trong sảnh, mỗi bên bày hai cây đèn bảy ngọn, mỗi ngọn treo một chiếc đèn lồng để đi lại. Giữa hai cây đèn lại có một đỉnh hương bằng đồng có đế. Đèn và đỉnh hương đều mạ vàng. Xem hình dáng bề ngoài thì dường như là đồ cổ thời Lục quốc. Xưa kia gia tộc họ Quan chủ trì việc tế bái của nước Sở, đất được phong đều là nơi màu mỡ, đồ đạc do vương thất ban tặng cũng toàn là báu vật thế gian. Nhưng sau chiến loạn khói lửa, nước mất nhà tan, vinh hoa ngày cũ nay đã tiêu điều hoang hoải, kể cả những thứ đồ mạ vàng này cũng phai dần màu sắc năm xưa.



    Khói hương lãng đãng, càng trở nên mịt mờ dưới đèn đuốc rực rỡ.



    Khi ở Trường An, Quỳ rất thích sưu tập những mùi hương lạ tới từ Tây Vực, trong đó nàng thích nhất hương “Khước Tử” do sứ giả nước Nguyệt Chi mang tới Trường An. Tương truyền rằng loại hương này đến từ hải đảo, muốn lấy được rất khó khăn mà hình dạng cũng rất xấu xí, song hương thơm lại hiếm có trên đời, đốt một chút là hương vấn vít mấy ngày không tan. Bởi vậy tuy giá gần như đắt bằng bạch ngọc, nhưng Quỳ đã sai Tiểu Hưu âm thầm đến Cảo Nhai* mua rất nhiều lần.



    * Một con phố thời Hán, ở trong cửa Nam thành Trường An, là nơi đặt sứ quán của các nước.



    So với nó thì hương xông của nhà họ Quan hôm nay chỉ là hương cỏ thơm* tầm thường nhất mà thôi. Có điều trong đỉnh lại thêm gừng cao lương và mộc lan nên mới tạo ra một mùi hương mà Quỳ chưa ngửi bao giờ.



    * Cỏ thơm là từ chỉ chung các loại hoa, cỏ, thảo dược được dùng để xông tỏa hương thơm của người Trung Quốc thời xưa, giúp an thần, tâm trạng thư thái, hoặc trị ngạt mũi, ngạt thở… tùy vào loại hoa, cỏ hoặc thảo dược.



    Chủ nhân Quan Vô Dật đã ở trong sảnh, ông mời Quỳ ngồi xuống ghế trên phía Tây quay mặt về phía Đông.



    Trước chỗ ngồi có bàn ăn, mặt bàn sơn màu, còn chân thì bọc đồng mạ vàng.



    Thường ngày Quỳ dùng cơm không dùng bàn ăn có chân như vậy, mà dùng loại mâm không chân, trên mâm dọn đủ chén bát, trong chén đựng rượu. Trong khi nàng dùng cơm, Tiểu Hưu nhất định phải ngồi đối diện với nàng, hai tay nâng mâm lên ngang mày. Dùng cơm xong, Quỳ sẽ nhấp một ngụm rượu súc miệng. Khi dùng cơm, nếu Quỳ vui vẻ hoặc cảm thấy cơm nước ngon miệng thì sẽ lệnh cho Tiểu Hưu ngẩng đầu lên, dùng đũa trong tay mình bón đồ ăn cho Tiểu Hưu. Tuy điều này sẽ khiến việc giữ mâm của Tiểu Hưu khó khăn hơn song Tiểu Hưu sẽ thấy vui vẻ, dù sao đây cũng là sự tán thưởng của chủ nhân dành cho công việc của mình. Nhưng nếu Quỳ muốn trút giận lên đầu Tiểu Hưu, hoặc cơm nước khiến Quỳ bất mãn, vậy Tiểu Hưu sẽ bị đối xử một cách tàn nhẫn. Quỳ sẽ đổ hết cơm nước còn thừa lên đầu Tiểu Hưu, rồi bắt nàng phải nâng mâm cho tới khi mình hết giận mới thôi.



    Trên bàn ăn có một chiếc “nhiễm khí” bằng đồng, đây là thứ dùng khi ăn thịt. Thứ gọi là “nhiễm khí” này có hai bộ phận trên và dưới. Dưới là một bếp lò nho nhỏ, trên là một cái âu bằng đồng. Khi dùng thì cho nước tương đã nêm nếm vào trong âu, nhóm lò sau đó bỏ thịt đã luộc với nước vào trong âu để nấu. Làm vậy vừa có thể giữ cho thịt nóng hổi, vừa giúp thịt ngấm được hương vị của nước tương. Đương nhiên, chỉ có ba chiếc “nhiễm khí” như vậy được bày trên bàn tiệc. Một chiếc đặt trên bàn của Quỳ, một chiếc dành cho vị khách đến muộn, chiếc còn lại do chủ nhân Quan Vô Dật sử dụng.



    Bên trái “nhiễm khí” bày một cái cốc có quai hai bên, trong cốc không có nước. Bên cạnh cốc lại là một chiếc muôi sơn mài dùng để múc rượu.



    Quỳ lại để ý đến hi tôn* đặt trên đất ở gần bàn ăn của mình. Thứ này làm bằng đồng, hình trâu, trên lưng có nắp, trong bụng chứa rượu. Từ khi bảy, tám tuổi, Quỳ đã đọc được câu “Hi tôn tương tương**” trong Kinh Thi***. Có điều ở thành Trường An thứ đồ đựng rượu này đã tuyệt tích từ lâu nên nàng chưa bao giờ thấy tận mắt. Hi tôn nhà họ Quan sử dụng hẳn cũng là đồ lưu truyền từ xa xưa. Quỳ không khỏi cảm khái trong lòng, con trâu bị người ta mở nắp trên lưng này vẻ mặt vô cùng ngoan ngoãn hiền lành, cũng thật là nhẫn nhục, quả là có mấy phần giống tỳ nữ của mình.



    * Đồ đựng rượu hình trâu, thường xuất hiện ở thời Xuân Thu Chiến Quốc hoặc thời Thương Chu.



    ** Trích trong bài thơ Lỗ Tụng - Bí Cung của Kinh Thi. Câu này có nghĩa là “Chén chạm chén kêu vang lanh lảnh”.



    *** Bộ tuyển tập thơ ca vô danh của Trung Quốc, một trong năm bộ sách kinh điển của Nho giáo.



    Người nhà họ Quan và Quỳ đều đã ngồi vào chỗ. Phu nhân của trưởng tộc Quan Vô Dật - Điếu thị và con gái Giang Ly, Lộ Thân cũng có mặt. Bên cạnh Lộ Thân là đường tỷ của nàng - Quan Nhã Anh, Quan Khoa - muội muội của Quan Vô Dật cũng đã ngồi vào chỗ, bà từ Trường An lặn lội về đây, đã tới trước Quỳ mấy ngày. Con trai và con gái của bà cũng tới, ngồi kế bên bà, lần lượt tên là Triển Thi và Hội Vũ. Muội muội bằng tuổi Tiểu Hưu, còn ca ca thì hơn nàng năm tuổi. Quan Khoa và phu quân Chung Tuyên Công còn có một cậu con trai nữa, nhưng vì tuổi còn nhỏ nên chưa thể đi xa. Do công việc quá bận rộn nên Chung Tuyên Công không thể tới dự. Năm nay vì sức khỏe của Quan Vô Dật không tốt nên ông không định chủ trì lễ tế mà giao công việc trù bị cho muội muội Quan Khoa lo liệu, còn việc múa tế thần thì do con gái Giang Ly phụ trách.



    Khách mời còn chưa tới đủ, chủ nhà và khách mời nhìn nhau cũng tẻ nhạt, bèn bắt đầu trò chuyện tán gẫu. Vì hôm nay Quỳ mới đến, buổi chiều lại ra ngoài săn bắn nên có rất nhiều người chưa gặp nàng bao giờ, nàng bèn giới thiệu bản thân với bọn họ.



    Đúng lúc ấy Tiểu Hưu làm xong việc ở trong bếp, đi vào sảnh chính, cúi người ngồi quỳ gối phía sau Quỳ, để lát nữa có thể hầu chủ nhân uống rượu dùng cơm. Quỳ tiện thể giới thiệu cả Tiểu Hưu. Những người từng đọc Kinh Thi ở đây đều cảm thấy cái tên “Tiểu Hưu” này rất hay. Sau đó Quan Vô Dật giới thiệu người thân trong tộc của mình với Quỳ.



    Vị khách mời đến muộn nọ tên là Bạch Chỉ Thủy, người Vân Mộng, năm nay đã bốn mươi tuổi. Thời trẻ ông từng du học ở Trường An, theo Hạ Hầu Thủy Xương* học Kinh Thi, học cao hiểu rộng, nhưng cuối cùng không nhận được một chức quan nào.



    * Một nhà Nho nổi tiếng thời Hán.



    Thời đó “Thi học” được chia thành bốn phái, nhưng chỉ có ba phái Tề, Lỗ, Hàn là được chính thức thừa nhận mà thôi. Khi Bạch Chỉ Thủy ở Trường An, phái “Thơ Hàn” mà tiêu biểu là Hàn Anh đang đắc thế. Khi đương kim hoàng thượng đăng cơ, thầy giáo của Hạ Hầu Thủy Xương là Viên Cố Sinh đã gần chín mươi tuổi, không thể mưu cầu địa vị cho học thuyết của mình trước mặt Hoàng đế, mà khi đó Hạ Hầu Thủy Xương hãy còn trẻ, cũng không được Hoàng đế tín nhiệm. Kết quả là phái “Thơ Tề” do bọn họ đại diện từ từ suy bại.



    Mấy năm sau, Bạch Chỉ Thủy về quê, ở nhà dạy học, cuối cùng vẫn chẳng được như nguyện. Trong học thuật, ông không đồng ý với các học thuyết bảo thủ cũ kỹ, luôn muốn lập một phái tư tưởng mới, tuy nhiên vì xuất thân từ đất Sở nên không khỏi viện dẫn rất nhiều chuyện quỷ quái để giải thích Kinh Thi. Cuối cùng bị đồng môn coi là kẻ mê tín dị đoan, sức ảnh hưởng không thể vượt ra khỏi Vân Mộng.



    Mấy năm nay nhờ sự nỗ lực của Hạ Hầu Thủy Xương mà phái “Thơ Tề” lại trở nên hưng thịnh, có điều Bạch Chỉ Thủy bị đồng môn xa lánh nên chẳng nhận được lợi ích gì. Khi ở Trường An, Quỳ từng nghe về học thuyết của Bạch Chỉ Thủy. Là một Vu nữ, nàng mau chóng bị học thuyết ấy thu hút.



    Kiến giải nổi tiếng nhất của Bạch Chỉ Thủy chính là lời giải thích của ông về sáu phần cuối của bài Nam sơn thuộc Tề phong trong Kinh Thi. Ông cho rằng những văn thơ này đều miêu tả Vu nữ nước Tề - vì là trưởng nữ nên không được lấy chồng. Tuy Quỳ không đồng tình với học thuyết của ông song cảm thấy ông có thể hiểu được nỗi bi ai của mình.



    Một tràng tiếng ngựa hí cắt ngang hồi ức của Quỳ, chẳng bao lâu sau Bạch Chỉ Thủy đã đi vào sảnh chính.



    Bạch Chỉ Thủy cao tám thước, mặc lễ phục màu đỏ tím, dùng khăn vấn tóc, cao lớn mà uy nghi. Bấy giờ tuy ông đang cười nhưng nếp nhăn giữa hai lông mày sin sít, hẳn là thường ngày luôn sống trong u uất, những buồn phiền cứ thế in hằn trên trán.



    Tới khi Bạch Chỉ Thủy ngồi vào chỗ thì bữa tiệc liền chính thức bắt đầu.



    Quan Vô Dật lệnh cho người hầu của mình rót đầy một cốc rượu rồi mời Bạch Chỉ Thủy, lại rót một cốc mời Quỳ. Hai người uống xong, Tiểu Hưu đã rót thêm hai cốc, đặt trên bàn của Quỳ, hai người nâng cốc kính chủ nhà. Sau khi chủ khách đối ẩm, những người khác cũng uống một cốc. Khi ấy, Quan Khoa phái người hầu nhà họ Quan đi lấy cổ cầm, Quỳ cũng bảo Tiểu Hưu chuẩn bị đàn sắt. Tới khi nhạc cụ được mang tới, Chung Triển Thi bèn gảy đàn góp vui, Hội Vũ hát bài Thanh Dương* hòa theo điệu nhạc.



    * Thanh Dương chỉ mùa xuân. Thời Hán, khi tiến hành đại điển tế trời cũng tế bái cả các vị thần của bốn mùa. Khúc Thanh Dương này được sáng tác dành riêng cho việc tế bái thần mùa xuân. Khung cảnh hân hoan phơi phới khắp nơi khi xuân về trong bài hát thể hiện ước nguyện cầu mong bình an và hạnh phúc với thần linh.



    Mùa xuân ấm áp đã tới, cỏ cây nảy lộc đâm chồi. Mưa xuân gieo rắc khắp chốn, muôn loài vươn mình sinh sôi. Sấm xuân rền vang từng trận, muông thú tỉnh giấc đùa chơi, kết thúc kỳ ngủ đông dài, bắt đầu một mùa xuân mới. Cỏ cây khôi phục xanh tươi, sinh linh lớn lên như thổi. Xuân sang vạn vật đón mừng, mang ơn huệ đến mọi nơi. Tất thảy dạt dào sức sống, phúc xuân chan chứa đất trời.



    Trong lòng Quỳ cũng biết đây là nhạc khúc được hát trong lễ tế vương triều, dân thường không được phép hát trong yến tiệc. Nhưng lúc ở nhà nàng thường gặp chuyện vượt quyền dạng này nên cũng chẳng hề bận tâm. Chung Hội Vũ hát xong, Quỳ bèn gảy đàn sắt hát bài Quy biện*, phần cuối viết rằng:



    * Một bài thơ thuộc Tiểu Nhã, Kinh Thi.



    Mũ lễ da hươu tuyệt đẹp, ngay ngắn đội trên đỉnh đầu. Rượu nồng của ngươi rất ngọt, món nhắm của ngươi thật ngon. Đến đây nào có người ngoài? Đều là anh em chú bác. Như hoa tuyết bay trước mắt, như hạt băng sa khắp trời. Chẳng đoán được ngày tạ thế, chẳng hay khi nào lại gặp. Tối nay thỏa thích chè chén, quân tử mở tiệc chung vui.



    Đây là một trong những bài mà Quỳ thích nhất trong Kinh Thi. Nhất là câu “Chẳng đoán được ngày tạ thế, chẳng hay khi nào lại gặp”, mỗi lần hát lên đều khiến nàng xúc động khôn nguôi. Đời người dù sao cũng ngắn ngủi, “Từ xưa ai cũng đều phải chết”*, mọi cuộc tụ họp, mọi cuộc vui đều có hồi kết. Bữa tiệc hôm nay hẳn là không đủ để đánh đồng với cảnh tượng được miêu tả trong bài thơ này. Còn người làm thơ giờ ở nơi đâu? Từ đó đến nay, những người từng hát vang nhạc khúc này hẳn cũng không ít, song giờ đây còn lại được mấy người?



    * Một câu trong Luận ngữ.



    Sau khi uống rượu hát ca, người nhà họ Quan mang một cái nồi đồng tỏa hơi nóng vào trong phòng, chia thịt trong nồi cho từng người. Tiểu Hưu ngồi một bên châm lửa “nhiễm khí” của Quỳ rồi nhúng thịt vào trong âu. Thực ra lưỡi của Quỳ không thể chịu nổi đồ ăn quá nóng, nhưng nàng vẫn ăn nhân lúc nó còn nóng.Từ mùi vị có thể đoán được đây là thịt lợn sữa, hơn nữa còn là ở phần vai thơm ngon nhất, Quỳ thầm cảm kích thịnh tình của chủ nhà, tuy rằng loại đồ ăn bình thường này chẳng thể khiến nàng thỏa mãn.



    Lát sau, người nhà họ Quan bưng nồi đồng đi, lại mang vào một cái vạc đồng, bên trong chứa thịt chim đã được luộc với nước trắng. Đó chính là chim trĩ mà Quỳ săn hôm nay. Người hầu xé thịt ức thành sợi nhỏ rồi chia cho Quỳ, chuẩn bị cho nàng một khay nước giấm. Quỳ chấm thịt vào giấm rồi ăn, nàng thấy rất ngon miệng.



    Sau đó, một âu đồng chứa cơm trắng được mang vào tiệc, ngoài ra còn có vài hũ dưa muối, bên trong chứa các loại dưa muối khác nhau. Lần này Lộ Thân tự tay lấy dưa muối trong hũ ra, đặt lên đĩa rồi đưa tới trước mặt Quỳ, Quỳ còn chưa kịp cảm ơn thì Lộ Thân đã lên tiếng trước:



    “Xin hãy ăn nhiều một chút, đây là rau quỳ* muối đấy. Vào tháng Chín hằng năm, chúng ta cắt từng gốc quỳ non ra khỏi đất rồi bỏ chúng vào hũ ướp muối. Đổ thêm nước bên trên, quỳ không thể thở được, sang năm liền biến thành từng miếng từng miếng quỳ muối như vậy. Ta thích nhất là quỳ thế này, ăn vào thanh thanh giòn giòn ngon miệng, Tiểu Quỳ có muốn nếm thử hay không?”



    * Rau quỳ: Còn có tên khác là đậu bắp, mướp tây, gôm… Chữ Quỳ này giống với tên của Quỳ.



    Thời đó, “quỳ” là món rau dưa thường thấy nhất trên bàn cơm, từ nhỏ tới lớn, Quỳ luôn bị những người tẻ nhạt đùa giỡn một cách tẻ nhạt như thế, đã sớm quen rồi, bởi vậy cũng chẳng để trong lòng.



    “Ta bảo này.” Quỳ than thở, “Ngươi và ta đều là thực vật*, không nên trêu chọc nhau mới phải.”



    * Lộ Thân còn gọi là Lộ giáp, chính là cây thụy hương. Quỳ nói vậy ý là tên của mình và Lộ Thân đều chỉ cây cỏ thực vật.



    Lộ Thân ngẫm lại thấy cũng có lý, bèn tự thấy xấu hổ, không nói thêm gì nữa. Nhưng khi nàng đang định về chỗ mình thì Quỳ kéo tay áo nàng lại.



    “Ngồi lại đi, từ nhỏ ta đã không ăn ‘đồng loại’, ngươi phải chịu trách nhiệm ăn hết mớ ‘Tiểu Quỳ’ này mới được.”



    “Đồng loại là sao?” Lộ Thân tiện thể nhào tới bên người Quỳ, chỉ vào nàng hỏi, “Thế ta có được ăn ‘Tiểu Quỳ’ này không?”



    “Cái này thì không được. Ngươi thực sự hận ta, hận tới mức hận không thể ăn thịt uống máu ta ư?”



    Tuy ngoài miệng Quỳ dùng hẳn ba chữ “hận” liền, nhưng trong mắt toàn là ý cười.



    “Ừm, ta không thể thích một người tới mức muốn ăn thịt uống máu người đó sao?” Lộ Thân hỏi ngược lại, “Ngoài ăn ra thì đâu còn cách nào khiến đối phương trở thành một phần của chính mình nữa?”



    “Yêu một người thì phải khiến người đó trở thành một phần của chính mình ư? Sở thích của Lộ Thân kỳ lạ thật đấy.”



    “Ừ, hoặc là khiến bản thân trở thành một phần của người ấy cũng được.”



    “Điều này thì dễ dàng hơn đó.” Quỳ ngà ngà say, khẽ cười nói, “Chỉ cần làm người ấy tổn thương là được. Ý ta không phải là sự tổn thương về gân cốt da thịt mà là tổn thương trong lòng. Làm một vài chuyện mà người ấy không thể chịu nổi, nói ra những lời mà người ấy không thể tiếp thu, khiến trong lòng người ấy luôn có vết thương do ngươi tạo nên suốt quãng đời còn lại. Vậy thì ngươi cũng đã trở thành một phần của người ấy.”



    Lộ Thân lẳng lặng nghe lý luận hoang đường của Quỳ.



    “Thế nhưng, chỉ vậy vẫn chưa đủ. Dù sao mình vẫn là mình, chưa thể hoàn toàn biến thành một phần của đối phương. Nếu muốn làm tới cùng thì phải khiến bản thân thực sự biến mất mới được.”



    “Dùng cái chết của mình để làm người ấy tổn thương?” Lộ Thân tỏ ra không đồng tình, “Lại có người dùng phương thức này để biểu đạt tình yêu của mình thật ư? Nếu vậy mà cũng gọi là yêu thì thực ra thứ tình yêu này chẳng khác gì hận.”



    “Ngươi sai rồi, Lộ Thân. Đây mới là tình yêu mãnh liệt nhất. Những danh thần thời xưa, thẳng thắn can gián, hi sinh vì nghĩa chính là như thế - Dùng cái chết của mình để lưu lại thương tổn trong lòng quân vương, dựa vào đó để đạt được mục đích khuyên răn. Ngũ Tử Tư* từng hưng binh diệt Sở đã làm như vậy, mà Khuất Nguyên** một lòng muốn phục hưng nước Sở cũng làm như thế. Việc bọn họ tự sát bắt nguồn từ lòng trung quân ái quốc hết mực: Khiến chính kiến của bản thân trở thành một phần trong sinh mệnh của quân vương.”



    * Một nhà quân sự nổi tiếng của Trung Quốc, ông làm quan Đại phu nước Ngô cuối thời Xuân Thu.



    ** Một chính trị gia, nhà thơ xuất thân từ hoàng tộc nước Sở thời Chiến Quốc. Ông là nhà thơ yêu nước vĩ đại trong lịch sử Trung Hoa, người đặt nền móng cho văn học theo chủ nghĩa lãng mạn ở Trung Quốc, được gọi là “ông tổ của thơ ca Trung Hoa”.



    “Khuất Nguyên đâu có giống như ngươi nói…”



    “Thật không?” Quỳ thở dài, “Ngươi nghĩ như thế chỉ vì ngươi không biết mà thôi. Vậy hãy để ta kể cho ngươi hay rốt cuộc Khuất Nguyên là người thế nào, đã sống một cuộc đời ra sao!”

    ----------------

    [2]





    Từ khi bữa tiệc bắt đầu Bạch Chỉ Thủy luôn bận ôn chuyện với Quan Vô Dật, Quỳ vốn không thể chen lời. Tuy nhiên khi nàng cao giọng nói ra câu ấy thì sự chú ý của Bạch Chỉ Thủy liền bị kéo về phía này. Không những vậy bữa tiệc ồn ào náo nhiệt bỗng trở nên im ắng, mọi người rất tò mò về những điều mà Quỳ sắp nói ra.



    “Năm mười tuổi, lần đầu ta đọc được Ly tao*, vừa đọc đã mê, ngâm đi tụng lại không biết bao nhiêu lần, ngày đó ta không hề biết thân thế của Khuất Nguyên. Hai năm sau, một Vu nữ người nước Sở sống ở Trường An tới thăm viếng nhà ta, bởi vậy ta đã thỉnh giáo bà ấy rất nhiều chuyện về Khuất Nguyên, mới biết có lẽ cách hiểu cũ của ta có vấn đề. Mấy năm sau, rốt cuộc ta đã đọc hết toàn bộ tác phẩm của Khuất Nguyên, cảm thấy cách hiểu ban đầu của mình là hoàn toàn chính xác. Vì ban đầu ta chưa từng nghe những sự tích lưu truyền trên đời về Khuất Nguyên mà chỉ suy đoán thân phận và những điều tác giả từng gặp phải qua Ly tao, vậy nên cái nhìn của ta không giống với cách hiểu thông thường. Mà suy đoán gây mâu thuẫn nhiều nhất với những tư liệu lưu truyền về Khuất Nguyên, đó là vấn đề giới tính của tác giả. Theo ta thấy thì thân phận của Khuất Nguyên không chỉ là một Sĩ đại phu**, mà còn là một Vu nữ tham dự vào việc thờ phụng tế bái của nước Sở.”



    * Một trong những bài thơ nổi tiếng nhất lịch sử Trung Quốc do Khuất Nguyên sáng tác. Ly tao dịch ra tiếng Việt có nghĩa là sự oán thán, sự buồn phiền hay nỗi sầu ly biệt. Những câu thơ trích dẫn trong truyện này sử dụng bản dịch của Nhượng Tống.



    ** Một chức quan lớn thời xưa.



    “Vu… nữ?”



    Mọi người ở đây đều kinh ngạc hô lên hoặc rì rầm bàn tán, khung cảnh lại trở nên náo nhiệt, còn Quỳ lại bình tĩnh gật đầu.



    “Đầu tiên, chúng ta hãy sắp xếp lại xem Khuất Nguyên đã miêu tả bản thân trong tác phẩm như thế nào.



    Trong Ly tao, xuyên suốt tác phẩm Khuất Nguyên đều coi mình như nữ giới, ví dụ như ‘Chúng ghen ta có mày ngài, Phao cho ta tiếng con người lẳng lơ’. Đồng thời, đọc kỹ từng câu từng chữ thì có thể phát hiện thật ra Khuất Nguyên đã miêu tả bản thân thành Vu nữ. Ví dụ như Khuất Nguyên viết: ‘Thì xin theo lối cũng như Bành, Hàm’, còn viết: ‘Bành Hàm đâu đó ta thời đi theo’. ‘Bành Hàm’ ở đây, dựa theo câu ‘Mời Vu Hàm lại ta thì hỏi han’, có thể suy ra chỉ Vu Bành và Vu Hàm được ghi chép trong Thế Bản*. Bọn họ là pháp sư trong truyền thuyết, một người phát minh ra y thuật, người kia phát minh ra bói toán. Trên đây chính là bằng chứng đầu tiên cho thấy Khuất Nguyên đã miêu tả bản thân thành Vu nữ.



    * Bộ sách sử do Sử quan thời Tiên Tần biên soạn, chủ yếu ghi chép về đế vương, chư hầu và các gia tộc lớn thời Thượng cổ.



    Trong Ly tao và những tác phẩm khác, Khuất Nguyên thường xuyên miêu tả bản thân hái hoa cỏ. Thực ra đây chính là công việc của Vu nữ, ví dụ như ‘Mộc lan sớm cắt trên đồi, Đông thanh chiều hái bên ngoài bến sông’, ‘Rút rễ cây ta xe sợi chỉ, Xâu cánh hoa thiên lý xinh xinh’. Trong Cửu biện, Tống Ngọc* cũng đã miêu tả Khuất Nguyên thế này: ‘Tưởng rằng người chỉ thích cài hoa huệ’. Mặc dù trong tác phẩm hay viết rằng: ‘Cắt phù dung may nếp xiêm dài’, ‘Tết lan thu lại làm đai đeo thường’, cũng chính là dùng hoa cỏ làm vật trang sức cho mình, thế nhưng ta vẫn cho rằng bà ấy hái nhiều hoa cỏ như vậy thật ra không phải vì mục đích này. Trong sách lễ của nhà Nho có ghi chép chế độ quan lại thời cổ, trong đó nhắc đến chức trách của một chức quan là ‘Nữ vu’**, có một mục là ‘hấn dục’, nghĩa là dùng hoa cỏ để tắm rửa. Ta nghĩ đây mới là mục đích thực sự mà nhân vật chính trong Ly tao hái hoa cỏ. Trên đây chính là bằng chứng thứ hai cho thấy Khuất Nguyên đã miêu tả bản thân thành Vu nữ.



    * Người Sở thời Chiến Quốc, đệ tử của Khuất Nguyên, vì thương tiếc người thầy của mình bị hãm hại nên viết Cửu biện để bày tỏ nỗi xót xa.



    (2) Nữ pháp sư, nữ phù thủy.



    Còn nữa, trong Ly tao có một câu là ‘Mượn chim trấm* mối manh nói hộ, Trấm trả lời: Việc đó không xuôi!’. ‘Không xuôi’ ở đây tức là không may mắn. Vậy vì sao chuyện hôn sự ấy lại không may mắn? Nguyên nhân rất đơn giản, vì nhân vật chính trong tác phẩm bị trói buộc bởi cấm kị không thể kết hôn, nên tình yêu của nàng chắc chắn sẽ kết thúc trong đau khổ bất hạnh. Trên đây chính là bằng chứng thứ ba cho thấy Khuất Nguyên đã miêu tả bản thân thành Vu nữ.



    * Loài chim có độc theo truyền thuyết cổ.



    Theo cách giải thích truyền thống thì người ta luôn nói cách viết này là sự ‘gửi gắm’, tức là so sánh người phụ nữ đẹp với một bề tôi trung thành. Nhưng ta không cho là vậy, bởi vì giả sử đây là sự gửi gắm thì trong tác phẩm từ đầu đến cuối Khuất Nguyên nên viết mình thành một nữ tử bất hạnh mới đúng. Tuy nhiên Khuất Nguyên lại viết: ‘Mũ ta đội xốc cho cao ngất, Đai ta đeo buông thật dịu dàng’. Câu này miêu tả trang phục của mình, rõ ràng đó là nam trang mặc trên người Sĩ đại phu. Chúng ta có thể tham khảo thêm một tác phẩm khác của Khuất Nguyên là Thiệp giang, trong bài thơ này Khuất Nguyên viết: ‘Ta thuở nhỏ ưa mặc đồ lạ hề, Tuổi đã già mà chưa thôi. Đeo gươm dài chi lấp lánh hề, Đội mũ thiết vân chi cao lồi’, song ta cũng không thấy bộ y phục này có gì kì lạ, đây chính là trang phục bình thường nhất của Sĩ đại phu đất Sở mà thôi. Có điều nếu một cô gái ăn mặc như vậy thì quả thực có thể gọi là ‘đồ lạ’. Nói cách khác, nhân vật chính trong tác phẩm của Khuất Nguyên không chỉ là một Vu nữ, mà còn là một Vu nữ mặc nam trang từ thuở nhỏ cho tới khi về già. Nếu dùng lý luận ‘gửi gắm’ để giải thích thì đúng là không hợp lý. Ta không biết ai đoán được ra những câu thơ miêu tả nam trang này là phép ẩn dụ gì đó. Nếu không thể giải thích bằng lý luận ‘gửi gắm’ thì chúng ta đành đổi lối tư duy để lý giải những câu thơ này - E rằng, toàn bộ những điều trên đều là tả thực, Khuất Nguyên chính là một Vu nữ mặc nam trang cả đời mà bước lên hàng ngũ Sĩ đại phu!”



    Khi Quỳ nói ra suy đoán của mình, chỉ có một mình Bạch Chỉ Thủy cho rằng “Suy đoán này đáng để xem xét”, còn Lộ Thân thì bảo mình nhất thời chưa thể chấp nhận được. Thấy vậy, Quỳ nói tiếp:



    “Chư vị không thể chấp nhận quan điểm này, hẳn là vì theo lẽ thường thì nữ giới không thể làm quan. Mà Khuất Nguyên lại từng làm Tả đồ, Tam Lư đại phu, lại từng đi sứ nước Tề, còn tham gia vào việc biên soạn hiến pháp nước Sở, với lại dường như đây không phải việc Vu nữ nên làm. Nhưng sau khi đọc Tả thị Xuân Thu* và gia phả vương thất nước Sở, ta lại nghĩ chuyện như vậy hoàn toàn có thể xảy ra ở nước Sở thời đó.”



    * Tức Tả truyện, tác phẩm sớm nhất viết về lịch sử của Trung Quốc, phản ánh giai đoạn từ năm 722 trước Công Nguyên đến năm 468 trước Công Nguyên.



    “Tiểu Quỳ còn hiểu rõ văn hóa lịch sử của nước Sở hơn người Sở chúng ta ư?” Lộ Thân bất mãn nói.



    “Đương nhiên ta không tự tin như vậy. Nhưng bộ Tả thị Xuân Thu này được cất giấu rất kỹ, người ngoài khó lòng thấy được. Có người nói, Giả Nghị có thể hiểu thấu bộ sách này, song ta cũng không nghe ai bảo rằng có người tiếp thu được học vấn của bộ sách này từ ông ấy. Cuối cùng ta đành bỏ ra một số tiền lớn để mua chuộc Thái sử lệnh mới có được bản sao của nó. Tuy đôi lúc trong sách có trích dẫn Kinh Xuân Thu*, nhưng phần lớn đều viết về sử cũ. Vì một số chuyện trong đó vẫn có tài liệu lịch sử khác để tra cứu, nên sau khi lần lượt kiểm tra, ta nhận ra toàn bộ những điều Tả thị Xuân Thu ghi lại đều là sự thật. Bởi vậy ta nghĩ những ghi chép về nước Sở thời lập quốc cũng có thể tin được.



    * Cũng được gọi là Lân Kinh, là bộ biên niên sử của nước Lỗ viết về giai đoạn từ năm 722 TCN tới năm 481 TCN.



    Tả thị Xuân Thu viết rằng, khi Tử Cách phản bác lại Sở Linh vương có nói: ‘Xưa kia tiên vương Hùng Dịch của chúng ta ở Kinh sơn hẻo lánh, đi xe thô sơ mặc áo rách, sống nơi thảo dã, bôn ba núi rừng, phụng sự thiên tử, chỉ có cung làm từ gỗ đào, tên làm từ gỗ táo dùng để cung phụng đại sự của vương thất.’ Đoạn trước là chỉ quá trình dựng nước gian khổ, rất dễ hiểu, còn ‘Cung làm từ gỗ đào, tên làm từ gỗ táo dùng để cung phụng đại sự của vương thất’ có phần khó hiểu. Thực ra thì ở một đoạn khác trong Tả thị Xuân Thu từng viết, ‘Cung từ gỗ đào, tên từ gỗ táo có tác dụng phòng trừ tai họa’. Tức là vào thời kỳ đầu tổ tiên nước Sở - Hùng Dịch cũng không có năng lực khác, mà chuyện duy nhất làm được chỉ là dùng cung gỗ đào, tên gỗ táo để tránh tai họa, cầu khẩn ông Trời phù hộ mà thôi. Hay nói đúng hơn, nền móng lập quốc của nước Sở không phải là vũ lực mà là vu thuật.



    Từ đó có thể suy ra, Sở vương thời ấy vừa là một vị quân vương thế tục, vừa là một pháp sư được tôn sùng ở vị trí tối thượng. Mười lăm đời kể từ thời Hùng Dịch, tới thời Sở Võ vương, thể chế quốc gia đã có sự thay đổi. Nước Sở khi ấy, chính trị và tôn giáo đã dần tách biệt, địa vị của pháp sư ngày càng thấp hơn. Bởi vậy tới thời Sở Chiêu vương thì nước Sở không thể không tiến hành cải cách tôn giáo.



    Người đề xuất cải cách tôn giáo chính là tổ tiên của các vị - Quan Xạ Phụ, ông ấy cũng là một trong những cổ nhân mà ta khâm phục nhất. Vấn đề Quan Xạ Phụ đưa ra được ghi chép trong Xuân Thu ngoại truyện, ta nghĩ chắc chắn các vị phải hiểu rõ hơn ta, đó chính là ‘Tuyệt địa thiên thông’. Lộ Thân, ngươi có hiểu được hàm nghĩa thực sự của tư tưởng này không?”



    Quan Lộ Thân không dám trả lời, Quỳ bèn nói tiếp.



    “‘Tuyệt địa thiên thông’, có nghĩa là xây dựng thần đạo của một quốc gia. Từ ‘Thần đạo’ đã xuất hiện trong Chu Dịch*, ta chỉ mượn dùng một chút để giải thích cho rõ mà thôi. Quan Xạ Phụ đã giải thích tư tưởng này trên nghĩa đen như sau: ‘Chuyên Húc chấp nhận, bèn lệnh cho quan Nam chính là Trọng quản lý các sự vụ liên quan đến trời và chư thần, lại lệnh cho quan Hỏa chính là Lê quản lý các sự vụ liên quan đến đất và dân chúng, giúp khôi phục quy củ ngày xưa, không còn xâm phạm lẫn nhau nữa’**, nhưng nghĩa bóng là tách biệt việc tế trời và tế đất cho hai vị pháp sư khác nhau quản lý, bọn họ cùng chịu trách nhiệm trước quân vương, cũng chỉ có quân vương mới có thể cai quản bọn họ. ‘Thiên’ và ‘Địa’ lần lượt ứng với ‘Thần’ và ‘Dân’, quyền tế bái bị lũng đoạn trong tay quân vương. Quan Xạ Phụ đưa ra học thuyết này hẳn là căn cứ vào hiện trạng của nước Sở khi đó. Ta nghĩ thời đó nước Sở cũng có rất nhiều Đại phu, quan lại nuôi pháp sư trong nhà để phục vụ cho chính mình, tự ý tế bái các vị thần trong trời đất, loại tế bái cầu khẩn riêng tư này có thể coi là một loại ‘Tế dâm’. Nếu cứ để vậy thì việc thờ cúng tế bái của quốc gia ắt sẽ bị bỏ bê, những mệnh lệnh không liên quan đến tôn giáo cũng khó có thể truyền đạt được. Bởi vậy ông ấy mới cho rằng việc thực hiện ‘Tuyệt địa thiên thông’ là tất yếu, để dựng nên hệ thống kiểm soát việc tế bái của quốc gia, nhờ đó mà xây lại một quốc gia với chính trị tôn giáo hợp nhất.”



    * Kinh Dịch là một quyển trong Ngũ Kinh, nói về các tư tưởng triết học của người Trung Hoa cổ đại dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái… Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch.



    ** Chuyên Húc tức Huyền Đế là một vị vua Trung Hoa cổ đại, một trong Ngũ Đế. Theo Sử Ký, ông là người kế vị của Hoàng Đế. Nam chính và Hỏa chính là những chức quan thời Thượng cổ.



    “Nhưng những điều ngươi vừa nói thì liên quan gì đến thân phận của Khuất Nguyên?” Lộ Thân hỏi.



    “Đừng nóng ruột, ta sẽ bàn về vấn đề này ngay đây.” Quỳ nói, “Khi lập luận về vấn đề này Quan Xạ Phụ còn cố ý giải thích khái niệm ‘Vu’: ‘Trong số dân chúng có những người vừa tinh thần dồi dào, chuyên tâm một lòng vừa nghiêm cẩn chính trực - tài trí của họ mang lại ích lợi cho đời, sự sáng suốt của họ soi rọi muôn nơi, ánh mắt họ ngời sáng và nhìn thấu tất thảy, đôi tai họ nhanh nhạy và nghe tỏ bốn phương, thế nên thần linh đã giáng trần thông qua họ, nam gọi là Hích, nữ gọi là Vu’. Ông ấy khẳng định phụ nữ cũng có năng lực giao tiếp với thần linh, đây là một tiền đề để ông ấy xây dựng học thuyết.



    Có thể khẳng định rằng tuy Quan Xạ Phụ không nói rõ, song trong hệ thống thần đạo quốc gia mà ông ấy xây dựng chắc chắn không chỉ có hai vị pháp sư phụ trách tế trời và tế đất mà thôi. Để giúp đế vương có thể cai quản toàn bộ sự vụ về tôn giáo và thế tục, bắt buộc phải thành lập một thể chế quản lý với toàn bộ pháp sư trong cả nước, phân chia đẳng cấp, phân công trách nhiệm cho pháp sư.



    Bấy giờ Vu nữ và Vu nam đều được xếp vào hệ thống quản lý tôn giáo quốc gia. Hệ thống này vốn tồn tại song song với hệ thống quan lại bình thường, có điều về sau hai hệ thống này lại khó mà tách biệt, cuối cùng kết hợp lại, thế là quan lại và pháp sư có thể chuyển đổi thân phận. Bởi vậy, là một Vu nữ, nhưng Khuất Nguyên hoàn toàn có thể đảm nhiệm các chức quan như Tả đồ, Tam Lư đại phu.”



    Quỳ nói xong suy luận của mình, thấy mọi người trong phòng chỉ cúi đầu uống rượu, không để ý tới lời nàng. Bấy giờ Quỳ mới nhớ ra, tổ tiên gia tộc họ Quan không những từng đưa ra kiến nghị “Tuyệt địa thiên thông” với Sở Chiêu vương, mà còn từng cộng sự với Khuất Nguyên. Tuy chuyện năm đó đã lùi vào dĩ vãng, song luôn có một vài chuyện mà người ngoài không biết còn lưu truyền tới ngày nay.



    Nói về Khuất Nguyên trước mặt người nhà họ Quan, đúng là không biết lượng sức mình.



    Đúng lúc Quỳ nghĩ như vậy thì Quan Nhã Anh luôn im lặng bỗng đưa ra quan điểm của mình.



    “Quan điểm của Vu Lăng quân* rất đỗi thú vị, với loại người nông cạn như ta thì quả thực có sức thuyết phục. Hẳn là ngươi cũng khát khao một cuộc sống giống như Khuất Nguyên. Có điều, trong ba bằng chứng mà ngươi đưa ra khi lập luận mệnh đề ‘Khuất Nguyên là Vu nữ’ này, có một bằng chứng không thể thành lập.”



    * Cách gọi thể hiện sự tôn trọng đối phương của người thời xưa ở Trung Quốc. Gồm họ hay tên người được gọi thêm “quân” đằng sau.



    Khi nói chuyện, khuôn mặt Nhã Anh hờ hững vô cảm, giọng điệu cũng đều đều, nàng nói chậm tới mức khiến người ta muốn giục nàng một phen, khác hẳn với Lộ Thân vui vẻ hoạt bát.



    “Ngươi nói, vì nhân vật chính của Ly tao bị trói buộc bởi cấm kị không thể lập gia đình, nên tình yêu của nàng ta chắc chắn sẽ kết thúc trong bất hạnh. Nhưng ở đất Sở không có cấm kị như thế. Không những không có, mà còn… Có vài lời đúng là không nên nói giữa chốn đông người thế này. Bởi vậy nếu tiện thì ngươi hãy lại gần đây một lát, ta có thể nói nhỏ cho ngươi nghe.”



    “Ồ? Ta nhất định phải đích thân qua đó ư?” Quỳ lười nhác quay sang nhìn Tiểu Hưu, thì thầm với nàng, “Có vẻ khá rắc rối. Chi bằng thế này đi, em thay ta tới chỗ Nhã Anh tỷ tỷ, rồi chuyển lời tỷ ấy muốn nói cho ta.”



    Tiểu Hưu đi bằng gối tới bên Nhã Anh, Quỳ ngồi tại chỗ nhìn Nhã Anh thì thầm với nàng, dường như chỉ nói ra một câu thôi. Mà sau khi nghe xong thì Tiểu Hưu kinh ngạc thốt lên một tiếng rất khẽ, còn lấy tay che miệng theo thói quen. Thực ra mỗi lần nhận ra mình nói sai, nàng đều sẽ làm động tác này.



    Khi Tiểu Hưu trở lại bên Quỳ, trông nàng như mất hồn mất vía.



    “Quả nhiên là chủ nhân tự đi nghe thì tốt hơn, chuyện Nhã Anh tỷ tỷ nói, em cũng không hiểu lắm…”



    Tiểu Hưu ngập ngừng nói. Nàng là một cô bé không giỏi giấu giếm. Quỳ lại là người thông minh, chớp mắt đã hiểu ra nguyên do.



    “Tức là Vu nữ đất Sở thực ra rất dâm loạn?”



    “Ý của ta chính là vậy.”



    Nghe được đối thoại giữa Quỳ và Nhã Anh, mọi người ngồi đó đều giật mình. Lộ Thân ngồi bên Quỳ cũng cảm nhận được ánh mắt của mọi người đang tập trung về phía này. Nàng che mặt, lẩm bẩm: “Ta có nên tránh đi một lát không nhỉ.” Tiểu Hưu cười khổ nhìn Lộ Thân, dùng ánh mắt để nói với nàng: “Xin lỗi, chủ nhân của ta luôn như thế, mong ngài đừng trách.”



    “Vậy à? Ta cứ tưởng đất Sở cũng có cấm kị này cơ đấy.” Quỳ nói, “Trong Tả thị Xuân Thu có ghi lại lời của Công chúa nước Sở - Quý Mị, rằng: ‘Đã là nữ tử, trượng phu cũng phải xa cách’, ta còn tưởng với Vu nữ thì chuyện nam nữ càng nghiêm ngặt hơn cơ…”



    “Thực ra vị Công chúa Quý Mị mà ngươi nói, về sau gả cho Chung Kiến, người này chính là tổ tiên cô phu* của ta. Bởi vậy chuyện ấy cũng có chỗ bất đồng với những gì Vu Lăng quân đã biết. Bấy giờ Quý Mị nói với Chiêu vương, ‘Đã là nữ tử, trượng phu cũng phải xa cách, Chung Kiến đã cõng ta rồi.’ Bề ngoài nói là vì Chung Kiến từng cõng nàng ấy nên nàng ấy nhất định phải lấy Chung Kiến, thực ra chỉ là kiếm cớ mà thôi. Khi ấy Dĩnh Đô đã bị quân đội nước Ngô đánh chiếm, Quý Mị và Chung Kiến lưu vong tới Vân Mộng, chuyện bọn họ từng làm cùng nhau không chỉ có cõng thôi đâu… Chuyện còn lại, xin ngươi tự ngẫm nghĩ đi.”



    * Chồng của cô.



    Nhã Anh vừa nói xong, huynh muội Chung thị cười trộm, còn Quan Khoa thì tỏ vẻ không vui.



    Nhã Anh đúng là một thiếu nữ phản nghịch, thảo nào lại bị phụ thân trách phạt như thế - Quỳ không khỏi thầm đánh giá Nhã Anh như vậy.



    “Xem ra ta đã quá khinh thường người xưa…”



    “Vân Mộng không phải là nơi chỉ để săn bắn như rất nhiều người ngoài vẫn tưởng. Thực ra nó cũng được dùng vào nhiều việc khác. Nếu Vu Lăng quân từng đọc Cao Đường phú, Thần nữ phú của Tống Ngọc thì hẳn là có thể tưởng tượng được. Trong Cao Đường phú, Tống Ngọc viết mình và Sở Tương vương cùng du ngoạn trên đỉnh Vân Mộng, thấy quán Cao Đường, còn viết tiên vương từng mơ thấy Thần nữ Vu Sơn giao hợp với mình. Trong Thần nữ phú lại viết Sở Tương vương cũng mơ thấy Thần nữ. Thế nhưng chân tướng câu chuyện rốt cuộc là thế nào đây?”



    “Đúng đấy, là thế nào vậy?” Quỳ nghiêng đầu, hỏi với vẻ tò mò.



    “Từ thời Tương vương tới nay mới qua chưa đến hai trăm năm, bởi vậy có rất nhiều lời đồn đại về chuyện này. Có kẻ đồn rằng, thực ra Thần nữ mà Tương vương gặp được là Vu nữ trong quán Cao Đường. Mà Tống Ngọc viết ‘Tiên vương từng mơ thấy Thần nữ Vu Sơn giao hợp với mình’, thực ra cũng chỉ là cùng Vu nữ…”



    Kể tới đây, tốc độ nói và nhịp thở của Nhã Anh dồn dập hơn mấy phần.



    Lẽ nào vị tỷ tỷ này đang hưng phấn - Quỳ nghĩ bụng, nếu đúng là vậy thì nàng ta cũng thật phù hợp với miêu tả về Vu nữ đất Sở của chính mình.



    “Vu Lăng quân đã rõ rồi chứ, ngươi đã hiểu sai trầm trọng về Vu nữ đất Sở. Trong chuyện nam nữ, bọn họ không bị cấm kị như ngươi vẫn tưởng, trái lại bọn họ còn phóng túng hơn nữ tử bình thường rất nhiều.”



    Giọng của Quan Nhã Anh bắt đầu run lên, nàng đã gần như suy sụp. Thực ra từ khi Quan Ký Y qua đời, Nhã Anh chưa từng nói nhiều như vậy, nên bất kỳ ai ngồi đây cũng không ngăn nàng nói tiếp.



    “Có điều nghe ngươi nói như vậy, đúng là đã xóa bỏ một nỗi nghi hoặc trong lòng ta. Bản thân ta đọc Ly tao thì đưa ra được một kết luận là nhân vật chính tuy là Vu nữ nhưng lại ái mộ Sở vương, giờ ngẫm lại suy đoán này cũng không sai, hơn nữa còn có thể tìm ra rất nhiều bằng chứng chứng minh.”



    “Trong một số thời khắc, Vu nữ luôn vì nước vì dân để thực hiện lý tưởng ‘Nước giàu mạnh mà quy củ’, phải làm một số việc nhượng bộ và hi sinh… Kể cả ta cũng có sự giác ngộ này!”



    Khi nói chuyện với Quỳ, tay trái Quan Nhã Anh vẫn cầm cốc rượu, bên trong chứa đầy rượu, sau đó chiếc cốc lay lay theo cánh tay nàng, rượu bắn ra ngoài thấm ướt ống tay áo. Khi nói tới đây thì rượu trong cốc đã chẳng còn bao nhiêu. Song Quỳ không chú ý tới điều này, nếu không có lẽ nàng đã nói lảng sang chuyện khác rồi.



    “Ta rất khâm phục sự giác ngộ này của Nhã Anh tỷ tỷ. Ta nghĩ, quan điểm này chắc chắn không phải bây giờ tỷ mới nghĩ ra mà phải trải qua nhiều năm suy ngẫm mới hình thành. Chỉ e là người bình thường khó mà chấp nhận được ý nghĩ này. Không biết trước đây Nhã Anh tỷ tỷ đã từng nói những điều này với ai chưa…”



    “Nói rồi.” Quan Nhã Anh ngắt lời Quỳ, “Nói với cha ta… Nói với người cha quá cố của ta.”



    “Ông ấy có hiểu được không?”



    “Chắc là không hiểu được.”



    Nhã Anh nói, nét mặt vẫn thờ ơ nhưng nước mắt đã tuôn rơi, tí tách nhỏ xuống vạt áo.



    Đúng lúc ấy, Quan Giang Ly ngồi kế bên Quan Nhã Anh vội đỡ nàng dậy.



    “Nhã Anh say rồi, để ta đưa muội ấy về.”



    Giang Ly nói rất thản nhiên, có lẽ nàng đã quen với đủ loại phản ứng của Nhã Anh. Thậm chí có thể nói cả gia tộc đều sớm quen với bệnh trạng của Nhã Anh, mà Nhã Anh cũng sớm quen được mọi người trong tộc bao dung che chở.



    “Vu Lăng quân, ta hiểu rồi.” Khi được Giang Ly dìu ra ngoài, Nhã Anh quay lưng nói với Quỳ, “Không lẽ Vu nữ đất Tề các ngươi vẫn phải gánh vác loại cấm kị đó ư?”



    Quỳ không trả lời, Nhã Anh cũng không hỏi nữa, nàng đẩy Giang Ly ra rồi bước khỏi tầm mắt của mọi người, biến mất trong bóng đêm. Giang Ly không yên tâm để nàng quay về một mình, bèn đi theo sau.



    “Hóa ra Vu Lăng quân là Vu nữ đất Tề.” Bạch Chỉ Thủy cảm thán. Tuy đã được người nhà họ Quan thông báo về tên của một vị khách mời khác song tới giờ ông mới biết thân thế của Quỳ, ông biết là Vu nữ đất Tề thì sẽ có vận mệnh thế nào. “Cho dù vậy, vẫn mong ngươi có thể theo đuổi hạnh phúc của chính mình. Theo nghiên cứu của ta, trong Kinh thi cũng có chương bàn về hôn nhân của Vu nữ, chính là thiên Xa hạt của Tiểu nhã. Hơn nữa theo phân tích của ta thì Vu nữ ấy cũng phải gánh vác cấm kị…”*



    * Chú thích của tác giả: Những lý giải của Bạch Chỉ Thủy về Kinh Thi trong tiểu thuyết đều bắt nguồn từ cuốn sách Thế giới của Kinh Thi của học giả Nhật Bản Shizuka Shirakawa.



    “Hiện giờ ta rất hạnh phúc.”



    Quỳ ngắt lời Bạch Chỉ Thủy, vẫn mỉm cười đầy tịch mịch.



    “Tuy rất hâm mộ Vu nữ đất Sở nhưng ta cũng không muốn phản bội gia tộc của mình. Biết đâu sau này ta sẽ gặp được một người có thể khiến ta quên đi trách nhiệm của Vu nữ, hoặc vì người ấy mà chấp nhận gánh vác lời nguyền rủa bởi đã dám khinh nhờn thần linh và tổ tiên, vì người ấy mà thiêu trụi linh hồn, hóa thành tia sáng chập chờn u ám. Bây giờ ta còn chưa gặp được người đó, có lẽ cũng sẽ không bao giờ gặp được. Bởi vậy dù từng có tiền lệ hay không, dù có thể hạnh phúc hay không, ta chỉ cần, chỉ cần…”



    Đúng lúc ấy Tiểu Hưu rót đầy một cốc rượu cho chủ nhân, Quỳ uống cạn rồi im lặng. Bạch Chỉ Thủy cũng không nói gì thêm mà chỉ cúi đầu nhìn hoa văn được vẽ trên mâm sơn mài.

    * * *
     
  5. Thỏ Ngọc

    Thỏ Ngọc ❀๖ۣۜWo♫๖ۣۜAi♫๖ۣۜNi❀๖ۣۜINever♈๖ۣۜCry♀Cross♕ Thành viên BQT Tác giả VW

    Bài viết:
    9,743
    Đã được thích:
    9,411
    Điểm thành tích:
    113

    P2-Chương 3+4

    [3]





    “Phải rồi, ta vẫn luôn muốn thỉnh giáo hai vị quý khách uyên bác vài vấn đề về thần linh. Tuy ta biết nhà Nho không nói về những chuyện quái lạ, bạo lực, phản loạn, quỷ thần*, nhưng giờ mọi người vừa nhắc tới đề tài về thần linh, cũng nên đưa ra học thuyết Nho giáo, nếu không sẽ bị kỳ thị là dị đoan.”



    * Câu này lấy ý theo một câu trong Luận ngữ: Tử bất ngữ quái, lực, loạn, thần. Có nghĩa là Khổng Tử không nói về bốn điều: Quái lạ, bạo lực, phản loạn, quỷ thần.



    Dường như để bầu không khí thoải mái hơn, chủ nhà Quan Vô Dật lên tiếng, chuyển đề tài về lễ tế vào mấy ngày sau.



    “Nhà họ Quan đã từng chấp chưởng việc tế bái quốc gia của nước Sở, đối tượng tế bái chủ yếu là những vị thần được thờ phụng trên đất Sở. Trong đó Đông Hoàng Thái Nhất là Chủ thần tối cao, xếp sau là các thiên thần như Đông Quân, Tư Mệnh, Vân Trung Quân…, tiếp đó là các vị thần núi sông như Tương Quân, Tương Phu Nhân, Quý Núi,… cuối cùng là linh hồn của những người hi sinh vì đất nước. Cửu ca* của Khuất Nguyên được viết dựa theo hệ thống thần linh đất Sở. Ta vốn tưởng rằng Đông Hoàng Thái Nhất là vị thần của riêng đất Sở, tuy nhiên ta nghe nói hiện giờ vương triều Hán cũng coi Thái Nhất là Chủ thần trong việc tế bái quốc gia; mà người chủ trì tế bái Đông Quân và Vân Trung Quân ở Trường An không phải pháp sư đất Sở mà là pháp sư đất Tấn, điều này khiến ta vô cùng kinh ngạc, vậy nên muốn thỉnh giáo các vị một chút…”



    * Cửu ca vốn là tên gọi của một ca khúc viễn cổ trong thần thoại truyền thuyết của dân tộc Hán, Khuất Nguyên đã dựa theo nhạc tế thần dân gian của dân tộc Hán để cải biên sửa chữa. Tác phẩm có tổng cộng 11 thiên: Đông Hoàng Thái Nhất, Vân Trung Quân, Thiếu Tư Mệnh, Đông Quân, Tương phu nhân, Tương Quân, Đại Tư Mệnh, Hà Bá, Sơn Quỷ, Quốc thương, Lễ hồn.



    “Khi du học ở Trường An ta cũng từng nghe vài chuyện về tế bái, song dù sao ta vẫn tập trung vào Kinh Thi là chính, nghiên cứu rất ít về Lễ học, e là không thể giải đáp nghi vấn cho ngài. Còn Vu Lăng quân hình như rất tinh thông Lễ thư, hẳn là cũng có quan điểm riêng về vấn đề này nhỉ ?”



    Bạch Chỉ Thủy bèn giao vấn đề mà mình không thể giải quyết được cho thiếu nữ ngồi kế bên ông.



    “Có lẽ ta hơi say rồi, bởi vậy nhất thời cũng không biết nên hồi đáp thế nào.” Quỳ nói, “Vậy nên xin hãy bao dung cho ta phí chút thời gian để ngẫm lại về việc tế bái quốc gia, sau đó cũng có thể đưa ra đáp án về vấn đề ‘Thái Nhất’. Còn tại sao Đông Quân và Vân Trung Quân lại do pháp sư đất Tấn tế bái thì… thật xin lỗi, ta cũng không rõ lắm. Đây là sự phân công quyền hạn được lập ra từ khi Cao tổ dựng nước, có lẽ là noi theo chế độ nước Tần thôi. Tuy nhiên có thể khẳng định một điều rằng, các vị thần Thái Nhất, Đông Quân, Vân Trung Quân này, thực ra cũng không phải của riêng đất Sở, mà là tín ngưỡng phổ biến của các quốc gia vào thời Chiến Quốc.”



    Dường như Quỳ đã phủ định tính đặc biệt của tín ngưỡng đất Sở, điều này khiến Quan Vô Dật có phần không vui, nhưng đúng là ông đã “bao dung” nàng một cách lễ độ, dù gì trong mắt ông thì tuy học vấn và kiến thức của đối phương rất uyên bác, phong phú, song cũng chỉ là một thiếu nữ bằng tuổi con gái út của mình mà thôi.



    Có điều, sau đó Quỳ đã chứng minh rằng Quan Vô Dật thực sự đã đánh giá thấp nàng.



    “‘Thái Nhất’ hay còn gọi là ‘Đại Nhất’, đôi khi còn được gọi tắt là ‘Thái’. Việc tế tự của triều đình với vị thần này bắt nguồn từ đương kim hoàng thượng. Trước đây Chủ thần tối cao được vương thất nhà Hán thờ phụng là Thiên thần Ngũ phương, cũng chính là ‘Ngũ Đế’, tức Bạch Đế, Thanh Đế, Hoàng Đế, Xích Đế, Hắc Đế. Cho tới năm Nguyên Sóc thứ năm, ở huyện Bạc quận Sơn Dương có một vị đạo sĩ tên là Mậu Kỵ bẩm tấu lên đương kim hoàng thượng xin được tế bái Thái Nhất và đưa ra phương pháp tế bái. Ông ta nói, ‘Vị thần cao quý nhất trong tất cả các vị thần là Thái Nhất, phụ tá của Thái Nhất là Ngũ Đế’, tức là, ông ta cho rằng Thái Nhất là vị thần tối cao thống lĩnh Thiên thần Ngũ phương. Đương kim hoàng thượng chấp nhận tấu chương của ông ta, thiết lập đàn tế Thái Nhất ở phía Đông Nam thành Trường An. Đây là hình thức tế bái đầu tiên của triều đình với Thái Nhất.



    Hình thức thứ hai có thể nói là bổ sung cho hình thức thứ nhất. Có người đề nghị rằng, Thiên tử cổ đại phải tế bái ‘Tam Nhất’ - tức Thiên Nhất, Địa Nhất, Thái Nhất. Thế là đương kim hoàng thượng liền ra lệnh cho Thái chúc* tổ chức lễ tế trên đàn tế được xây dựng lúc trước.



    * Một chức quan quản lý việc tế bái.



    Sau đó, lại có kẻ đưa ra phương pháp tế bái mới, được đương kim hoàng thượng chấp nhận, cũng tiến hành lễ tế trên đàn tế được xây dựng lúc trước. Phương pháp này không chỉ tế bái Thái Nhất mà còn tế bái các vị thần như Hoàng Đế, Minh Dương, Mã Hành, Sơn Quân núi Cao, Vũ Di Quân, Sứ giả Âm Dương… Đây là hình thức tế bái thứ ba với Thái Nhất.



    Tới năm Nguyên Thú* thứ năm, đương kim hoàng thượng vừa khỏi bệnh nặng, bèn xây dựng Thọ cung, tế bái Thần Quân. Vị thần có địa vị cao nhất trong Thần Quân chính là Thái Nhất, tiếp đó là những vị thần như Thái Cấm, Tư Mệnh. Đây là hình thức tế bái thứ tư.



    * Niên hiệu thứ tư thời Hán Vũ đế.



    Tới năm Nguyên Đinh* thứ năm, đương kim hoàng thượng lệnh cho Từ quan** Khoan Thư dựng một đàn tế Thái Nhất ở cung Cam Tuyền, mô phỏng theo dáng vẻ mà Mậu Kỵ miêu tả, tổng cộng có ba tầng, đặt đàn tế thờ Ngũ Đế dưới đàn tế thờ Thái Nhất. Đông chí năm ấy, đương kim hoàng thượng đích thân bái lạy Thái Nhất. Có kẻ nói rằng đêm ấy bầu trời sáng rực, có ánh vàng bay vút lên cao. Đây chính là hình thức tế bái thứ năm với Thái Nhất.



    * Niên hiệu thứ năm thời Hán Vũ đế.



    ** Vị quan quản lý việc tế bái.



    Sau khi vào thu, đương kim hoàng thượng chuẩn bị chinh phạt nước Triệu, bởi vậy lại cầu xin Thái Nhất, lần này còn vẽ cờ hiệu, phía trên viết ‘Thái Nhất Tam Tinh’ nên còn được gọi là ‘Cờ hiệu Thái Nhất’. Khi tế bái, Thái sử cầm cờ, chỉ về nước chuẩn bị chinh phạt. Đây là hình thức tế bái thứ sáu.



    Cuối cùng, tới năm Nguyên Phong* thứ năm, đương kim hoàng thượng cho xây một Thiên cung** ở Tây Nam huyện Phụng Cao dựa theo bức vẽ mà nghệ nhân người Tế Nam*** Công Ngọc Đới dâng lên. Hình dáng cụ thể của Thiên cung, ta không tiện nói cho mọi người, nhưng những vị thần được thờ phụng bên trong thì nhắc đến cũng không hề gì. Thiên cung chủ yếu thờ phụng Cao tổ của triều đại chúng ta, đồng thời cũng thờ phụng Thái Nhất, Ngũ Đế và Hậu Thổ. Đây chính là hình thức tế bái thứ bảy với Thái Nhất.”



    * Niên hiệu thứ sáu thời Hán Vũ đế.



    ** Nơi để thờ cúng, tế bái, rất lớn, giống như một cung điện.



    ***Thuộc tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc.



    Nghe xong tổng kết của Quỳ, mọi người ngơ ngác nhìn nhau, không thể đưa ra kết luận gì từ những điều này.



    “Những hình thức tế bái trên có thể được chia thành ba loại.” Quỳ nói tiếp, “Đầu tiên là hình thức tế bái thứ ba và thứ tư, thân phận của Thái Nhất trong ấy rất khó xác định, phương pháp tế bái dường như cũng thiếu căn cứ. Ta nghi ngờ phương pháp tế bái này do đạo sĩ sáng tạo ra từ việc pha trộn tín ngưỡng dân gian, bởi vậy ta cũng khó có thể đưa ra kết luận gì từ những điều này.



    Năm hình thức tế bái còn lại thì có thể chia thành hai loại. Trong loại tế bái đầu tiên, Thái Nhất xuất hiện với tư cách vị thần tối cao, trong đó bao gồm các hình thức thứ nhất, thứ năm và thứ bảy. Trong ba hình thức tế bái này Thái Nhất đều xuất hiện cùng ‘Ngũ Đế’, cũng được coi là thống lĩnh của ‘Ngũ Đế’. Vì ‘Ngũ Đế’ là thiên thần các phương, mà Thái Nhất lại là ‘vị thần cao quý nhất trong các vị thần’ theo lời Mậu Kỵ. Trong loại tế thứ hai, cũng chính là trong hình thức tế bái thứ hai và thứ sáu, Thái Nhất có liên hệ với con số ‘ba’. Điều này khiến chúng ta phải lưu tâm. Từ ‘Thái Nhất Tam Tinh’ trong hình thức tế bái thứ sáu thì có thể suy ra, ở đây Thái Nhất là tên của sao. Lại kết hợp với hình thức thứ hai thì có thể nhận ra, ‘Thái Nhất Tam Tinh’ rất có thể lần lượt là Thiên Nhất, Địa Nhất và Thái Nhất.”



    Nói tới đây, Quỳ nhấp một ngụm rượu rồi nói tiếp.



    “Sau đây, ta muốn giải thích vấn đề này từ góc độ hiện tượng thiên văn. Ta cho rằng, hai loại ‘Thái Nhất’ này đều có liên quan tới bầu trời sao trên đầu chúng ta. Trong quan niệm ban đầu, vua của bầu trời là mặt trời, mặt trăng, còn địa vị của các ngôi sao gần như là bình đẳng. ‘Thứ dân duy tinh’* trong Hồng phạm** chính là ý này.



    * Tức là dân chúng giống như sao trời, mỗi người lại có sở thích, ý nguyện khác nhau.



    ** Một thiên của Kinh Thư (Thượng Thư), nói về phép tắc thống trị thiên hạ.



    Sau đó, để tiện lợi cho việc bói toán mà hệ thống ‘Thiên quan’ dần được hình thành.



    ‘Thiên quan’ chia bầu trời thành năm bộ phận dựa theo Trung, Đông, Tây, Nam, Bắc, chúng cũng lần lượt tương ứng với các loại sự vật ở nhân gian. Ví dụ như Trung quan, là tượng trưng cho hoàng cung ở nhân gian. Theo lời giải thích của các nhà chiêm tinh,‘Trong Trung quan Thiên Cực tinh, Thái Nhất thường an vị ở chỗ sáng, ba ngôi sao bên cạnh là Tam Công, hoặc gọi là Tử Chúc.’ Thiên Cực tinh trong đoạn văn này thực ra không nằm giữa trời mà nằm chếch về phía Bắc, bởi vậy cũng được gọi là ‘Bắc đẩu’. Học thuyết của Khổng Tử cũng nói về ‘Thiên cực tinh’: ‘Dùng đạo đức cảm hóa để thống trị triều cương, sẽ tựa như sao Bắc đẩu, luôn ở yên một chỗ mà các chòm sao khác đều sẽ quay xung quanh nó.’ Bởi vì địa vị của nó thực sự đặc biệt, đôi khi còn được gọi là ‘Đế tinh’. Mà theo câu ‘Thái Nhất thường an vị ở đó’ thì có thể suy ra, ngôi sao này chính là Thái Nhất. Trong Xuân Thu Công Dương truyện có viết ‘Bắc đẩu cũng là Đại thần’, ấy là một bằng chứng cho thấy Bắc đẩu chính là sao Thái Nhất…”



    “Thế nhưng,” Lộ Thân ngắt lời Quỳ, “Khi nãy Tiểu Quỳ có nói, ‘Thái Nhất’ là một trong ba ngôi sao cơ mà? Nói thế thì Thái Nhất hẳn phải là một trong ‘ba ngôi sao bên cạnh’ mới đúng.”



    “Đúng vậy, Lộ Thân thật lanh trí. ‘Ba ngôi sao bên cạnh’ ở đây chính là ‘Thái Nhất Tam Tinh’, tức ‘Tam Nhất’, lần lượt là sao Thiên Nhất, sao Địa Nhất và sao Thái Nhất.”



    “Vậy ‘Thiên Cực tinh’ mà ngươi vừa nói thì sao?”



    “Đó cũng là sao Thái Nhất.”



    “Vì sao lại có hai ngôi sao Thái Nhất?” Lộ Thân hỏi, dùng ngón trỏ tay trái chấm vào rượu rồi vẽ lên bàn tổng cộng bốn ngôi sao: một sao lớn và ba sao nhỏ.



    Quỳ nắm chặt lấy tay nàng, kéo tới chỗ ba ngôi sao nhỏ, vẽ một cái khung vuông bên ngoài chúng.



    “Ba ngôi sao nhỏ hợp lại là “Thái Nhất Tam Tinh’. Theo suy đoán của ta thì ba ngôi sao này thực ra là kết quả sau khi sao Thái Nhất phân thân.” Quỳ nói, “Nói vậy cũng không chính xác lắm, để ta nghĩ xem nên diễn tả thế nào mới tốt…”



    “Theo dẫn chứng mà Tiểu Quỳ đưa ra thì hình như cũng chỉ có thể nói đến đây thôi. Quan hệ giữa Thái Nhất và Thái Nhất Tam Tinh vẫn chưa làm rõ được.”



    “Được rồi, vậy để ta bổ sung một dẫn chứng nữa. Trong Lễ thư của Nho gia từng viết, ‘Cái gốc của lễ nghi là Đại Nhất, phân thành trời đất, quay thành âm dương, biến thành bốn mùa, chia thành quỷ thần, gọi là mệnh, gắn với trời.’ ‘Đại Nhất’ ở đây chính là Thái Nhất, mà khái niệm ‘Thái Nhất’ ở đây dường như không chỉ là thiên thần. ‘Gắn với trời’ - ý chỉ nó chi phối trời, vậy thì nó phải cao hơn trời một bậc.



    Nếu dựa theo ‘Thiên pháp đạo*’ của Lão Tử thì không lẽ ‘Thái Nhất’ này chính là chỉ ‘Đạo’? Ta nghĩ có thể hiểu như vậy. Căn cứ vào câu ‘phân thành trời đất’ có thể suy ra, trời đất là do ‘Thái Nhất’ phân chia mà thành, bởi vậy Thái Nhất hẳn là trạng thái hỗn mang của trời đất. Sau khi Thái Nhất hoàn chỉnh và hỗn độn này phân chia, sinh ra trời và đất, phần còn lại chính là vị thần Thái Nhất.



    * Trích trong “Đạo pháp tự nhiên”, xuất phát từ tư tưởng triết học trong Đạo Đức Kinh của Lão Tử. “Nhân pháp địa, địa pháp thiên, thiên pháp đạo, đạo pháp tự nhiên.” Lão Tử đã dùng thủ pháp nối tiếp để tổng quát quy luật của trời, đất, người, thậm chí sinh mệnh trong toàn vũ trụ. “Đạo pháp tự nhiên” đưa ra đặc tính của toàn vũ trụ, bao gồm hết thảy sự vật trong trời đất đều làm theo hoặc tuần hoàn theo “Đạo” một cách “tự nhiên”.



    Vậy tức là, thiên thể tương ứng với Thái Nhất thuở ban sơ chính là sao Thái Nhất, cũng chính là Thiên Cực Tinh. Còn Trời, Đất, Thần được sinh ra thì lần lượt tương ứng với Thiên Nhất, Địa Nhất và Thái Nhất trong ‘Thái Nhất Tam Tinh’.”*



    * Chú thích của tác giả: Về quan hệ giữa “Thái Nhất” và “Thái Nhất Tam Tinh”, đã tham khảo luận văn Nghiên cứu khảo cổ về thờ phụng Thái Nhất, và Khảo cứu về Tam Nhất (Từ Tiếp tục khảo cứu về phương thuật Trung Quốc) của tiên sinh Lý Linh.



    Bạch Chỉ Thủy ngồi kế bên Quỳ nghe xong cứ vỗ tay mãi không thôi, còn Lộ Thân cũng nhìn nàng bằng ánh mắt ngưỡng mộ.



    “Nhưng Vu Lăng quân à, hình như những luận chứng này của ngươi chẳng liên quan gì đến vấn đề của ta cả.” Thân là trưởng bối, Quan Vô Dật chỉ ra điểm này mà chẳng hề e ngại.



    “Sẽ nói tới đó ngay thôi.” Quỳ nói bằng giọng điệu đặc trưng của thiếu nữ, “Tuy nhiên, thật ngại quá, ta quên mất, vấn đề của ngài là…”



    Thực ra ta cũng không nhớ rõ - Tuy Quan Vô Dật rất muốn nói ra câu này, mà sự thật cũng đúng là như vậy, nhưng là bề trên thì dù sao ông cũng không thể nói thế được. Lộ Thân nhận ra điều đó, song nàng cũng không nhớ rõ ban đầu phụ thân của mình muốn thỉnh giáo điều gì. Tiểu Hưu cũng nhận ra bầu không khí khó xử, có điều với thân phận của nàng thì không thích hợp tham gia.



    Tuy vậy, Tiểu Hưu vẫn đặt câu hỏi.



    Đôi khi biết là sẽ bị trách mắng, tuy nhiên Tiểu Hưu vẫn muốn làm vài chuyện khác thường, có lẽ nàng muốn nhờ điều đó để thu hút sự chú ý của chủ nhân.



    “Tiểu thư, em không hiểu lắm…” Tiểu Hưu kéo tay áo Quỳ, dè dặt hỏi, “Tiểu thư vừa nói ‘Thái Nhất’ là Bắc đẩu, có điều ban nãy Quan đại nhân hỏi về ‘Đông Hoàng Thái Nhất’. Một ở phía Bắc, một ở phía Đông, chúng là một thật sao?”



    “Đúng là một cô bé lắm lời.” Quỳ quay người véo má Tiểu Hưu, đùa rằng, “Nhưng tính tò mò này rất giống ta. Vậy cũng không uổng công ta chọn tên cho em từ trong Kinh Thi.”



    “Ta thấy cái tính lắm lời ấy cũng giống Tiểu Quỳ lắm.”



    Lộ Thân ngồi bên cười trộm.



    “Tiểu thư đâu có lắm lời chứ.”



    Cuối cùng Tiểu Hưu lại dám phản bác Lộ Thân khiến mọi người ngồi đây đều không nhịn được cười. Tiểu Hưu thấy vậy bèn đỏ mặt xấu hổ, cúi gập đầu xuống.



    “Vậy thì ta sẽ đặc biệt phục vụ tỳ nữ của mình một lần nhé. Dưới bầu trời rộng lớn này còn tìm đâu ra được một chủ nhân hiền lành tốt bụng như ta nữa.” Thực ra trong lòng Quỳ rất thỏa mãn với hành động này của Tiểu Hưu, vì bầu không khí cũng thoải mái hơn nhiều. Song ngoài miệng vẫn không thể nhượng bộ mà nhất định phải làm rõ sự khác biệt trên dưới giữa chủ và tớ. Thế là nàng bèn khẽ thì thầm bên tai Tiểu Hưu: “Khi về phòng sẽ dạy dỗ em sau.”



    Tiểu Hưu lẳng lặng gật đầu, thực ra nàng cũng chẳng sợ. Khi nãy nàng tỏ vẻ sợ sệt cũng chỉ bởi e thẹn khi nói chuyện trước mặt mọi người. Trong lòng nàng biết thỉnh thoảng Quỳ đối xử tàn nhẫn với mình, chẳng qua chỉ là muốn ra vẻ chủ nhân mà thôi.



    “Những kiến giải sau đây hoàn toàn là suy đoán của ta, e rằng cũng không thể tìm ra căn cứ thiết thực. Nhưng nếu tham khảo văn hiến, kiểm chứng phong tục thì có lẽ cũng chỉ có thể đưa ra kết luận như vậy. Ta cho rằng, theo sự xoay chuyển của thời đại, quan điểm của người ta về thứ bậc bốn phương cũng có sự thay đổi, vậy nên vị trí tồn tại của Thái Nhất tất nhiên cũng có biến hóa. Còn lý do vì sao thì khi nãy ta cũng đã nói rồi…”



    “Là như thế ư?”



    Lộ Thân hoang mang, mà trong mắt Tiểu Hưu cũng lóe lên ánh sáng hiếu kỳ.



    “Khi nãy ta đã nói rồi còn gì, thuở ban sơ, trong quan niệm dân gian, vua của bầu trời là mặt trời, mặt trăng, còn các ngôi sao đều chỉ là dân thường. Tuy nhiên sau khi hệ thống ‘Thiên quan’ hình thành, quan niệm này đã thay đổi, Thiên Cực Tinh, cũng chính là Bắc đẩu trở thành kẻ thống trị bầu trời. Thực ra đây là hai kiểu tín ngưỡng, kiểu đầu tiên có thể gọi là ‘Tôn thờ Mặt trời’, còn kiểu thứ hai thì chúng ta lại càng quen hơn - ‘Tôn thờ các ngôi sao’.” Quỳ giải thích, “Nếu hiểu như vậy thì mọi thứ đều trở nên rõ ràng, trong hệ thống tín ngưỡng ‘Tôn thờ Mặt trời’, phương Đông nơi mặt trời mọc là tôn quý nhất. Dịch Truyện viết rằng ‘Đế xuất vu chấn*’, còn nói ‘Chấn, Đông phương vậy’, tức là Đế vương xuất phát từ phía Đông, mà “Đế” này hẳn là chỉ Mặt trời. Bởi vậy trong mắt người Sở tôn thờ Mặt trời thì lẽ ra vị thần tối cao ‘Thái Nhất’ phải là ‘Đông Hoàng’. Còn trong hệ thống tín ngưỡng ‘Tôn thờ các vì sao’ thì Bắc đẩu không chuyển động theo các chòm sao khác mới là Đế vương, bởi vậy phương Bắc mới là tôn quý nhất.”



    * Theo bát quái thì quẻ “Chấn” tương ứng với phía Đông. “Đế xuất vu chấn” tức là Vua xuất phát từ phía Đông.



    “Nhưng Vu Lăng quân à.” Quan Khoa sắp chủ trì lễ tế lần này cũng không khỏi lên tiếng, “Vị thần Mặt trời mà người Sở tế bái là Đông Quân chứ không phải Đông Hoàng Thái Nhất. Cách giải thích này của ngươi hình như hơi mâu thuẫn với hiện thực…”



    “Vậy liệu có phải là thế này không? Chủ thần mà người Sở thờ phụng vốn là Đông Quân, sau đó địa vị của Đông Quân dần dần bị Thái Nhất thay thế, nên Thái Nhất mới bị đeo thêm danh hiệu ‘Đông Hoàng’. Ta luôn cho rằng, Đông Quân vốn mang nghĩa là ‘Đông Hoàng’. Ngày trước khi đọc Cửu ca, ta cứ không hiểu được tại sao đoạn đầu có một bài Đông Hoàng Thái Nhất, mà đoạn sau lại xuất hiện bài Đông Quân. Giờ ngẫm lại, có lẽ giải thích như vậy cũng không sai.”



    “Biết đâu đúng là như ngươi nói, thực ra từ xưa tới nay, Đông Quân luôn là một vị thần lệ thuộc, được tế bái cùng với Đông Hoàng Thái Nhất, nhưng sau khi đọc kỹ Cửu ca, ta cũng cho rằng lẽ ra địa vị của ngài ấy phải đặc biệt hơn một chút.” Nói rồi, Quan Khoa ngâm cả bài Đông Quân:



    Hửng sắp lên a ở phương đông



    Soi lan can ta a cây phù tang



    Ta thắng ngựa a đi đâu nhỉ?



    Đêm dần dần a đã sáng choang



    Cỡi xe rồng a sấm vang



    Chở cờ mây a lượn phới



    Than thở dài a lên xe



    Lòng bồi hồi a ngoái lại



    Tiếng hay cùng a sắc đẹp



    Người xem vui a mải quên





    Gảy đàn a đánh trống



    Lay giá a chuông rền



    Rúc sáo a thổi khèn



    Nghĩ bóng a xinh đẹp



    Nhẹ nhõm a thúy bay



    Hát lên a múa nhịp



    Cung thương a hợp điệu



    Ngài tới a huy hoàng





    Áo mây xanh a xiêm ráng bạc



    Phóng tên dài a bắn Thiên Lang



    Cầm Bắc Đẩu a rót rượu nồng



    Dóng dây cương a ta cao tuổi



    Trời mịt mù a trở lại đông*



    * Đây là bản dịch bài thơ Đông Quân của nhà sử học, ngôn ngữ học, từ điển học, ngôn ngữ học và nghiên cứu văn hóa, tôn giáo nổi tiếng Đào Duy Anh.



    “Nhưng điều kỳ lạ lại chính là mấy câu ‘Gảy đàn a đánh trống, Lay giá a chuông rền, Rúc sáo a thổi khèn’. Bởi vì việc tế bái Đông Hoàng Thái Nhất* được ghi lại trong Cửu ca cũng chỉ viết rằng ‘Rung trống chừ múa dùi’ và ‘Khèn đàn chừ hòa vui’. Tức là theo ghi chép của Cửu ca, khi tế bái Đông Hoàng Thái Nhất chỉ dùng đến trống, khèn, đàn sắt. Còn khi tế bái Đông Quân thì lại dùng đến năm loại nhạc cụ: đàn sắt, trống, chuông, sáo, khèn. Ta không biết điều này có nghĩa là gì, song có lẽ từ thuở ban sơ, Đông Quân đã từng được thờ phụng như Chủ thần.”



    * Việc tế bái Đông Hoàng Thái Nhất được ghi lại trong bài thơ Đông Hoàng Thái Nhất cũng thuộc Cửu ca, bản dịch của Đào Duy Anh.



    “Nhưng mà cô cô ơi.” Lộ Thân hỏi, “Những ghi chép trong Cửu ca có đáng tin không ạ?”



    “Ta không biết. Có điều cũng không còn tài liệu nào đáng tin hơn nó.” Quan Khoa trả lời, “Phương thức tế bái Đông Quân của nước Sở năm xưa, giờ đã thất truyền, trừ Cửu ca cũng không tìm được những ghi chép khác nữa.”



    “Ta nghĩ Cửu ca đáng tin.” Quỳ nói, “Theo giải thích của người xưa, Cửu ca được sáng tác sau khi Khuất Nguyên bị trục xuất, sống giữa Nguyên giang và Tương giang. Dân bản địa tin vào quỷ thần, rất thích tế bái, khi tế bái sẽ ca múa. Khuất Nguyên thấy những ca từ đó quá thô lậu, bèn làm lại Cửu ca. Bởi vậy ta nghĩ, cơ sở sáng tác của Khuất Nguyên có lẽ cũng bao gồm cả phương pháp tế bái giữa Nguyên giang và Tương giang. Nho gia bảo rằng ‘Lễ tiết đã thất truyền, thì phải đi tìm lại nó trong dân gian’, phương thức tế bái cũng là một kiểu lễ, đã thất truyền ở Kinh đô, nhưng biết đâu lại được lưu giữ hoàn chỉnh ở vùng Nguyên giang, Tương giang xa xôi. Bởi vậy ta nghĩ ghi chép của Cửu ca hẳn là đáng tin, ít nhất thì khi nghiên cứu về tế bái truyền thống của người Sở không thể bỏ qua tài liệu này.”



    “Người như Vu Lăng quân cũng có thể sánh ngang với các pháp sư cổ hiền đức!” Quan Khoa cảm thán, “Hiểu rõ tài liệu lịch sử, am tường cơ sở lễ giáo, so với Vu Lăng quân, ta đúng là một pháp sư chẳng ra gì. Nếu có thể, ta lại mong Lộ Thân có thể theo ngươi đi chu du khắp mọi nơi, học tập tri thức tế bái của ngươi.”



    “Cô cô đang nói gì thế, con không…”



    Lộ Thân buột miệng thốt lên, song không thể nói tiếp. Dù sao trong thâm tâm nàng cũng rất muốn theo Tiểu Quỳ rời khỏi Vân Mộng.



    “Ta cũng muốn ở bên Lộ Thân.” Quỳ thẳng thắn nói, “Nếu có thể thì ta muốn đưa Lộ Thân về Trường An.”



    “Tiểu Quỳ…”



    Thực ra câu trả lời như vậy nằm ngoài dự đoán của Lộ Thân, tuy nhiên dù sao cha nàng cũng sẽ không đồng ý đâu.



    Lộ Thân đưa mắt nhìn Quan Vô Dật.



    “Đã muộn rồi, tiệc cũng đến lúc tàn, hôm nay tới đây thôi. Nếu cứ tiếp tục chỉ sợ lại làm mọi người mất hứng.” Quan Vô Dật đứng lên nói như vậy, khuôn mặt lộ rõ vẻ không vui. “Ta đưa Bạch tiên sinh về phòng khách, mọi người cứ tự nhiên.”



    Bạch Chỉ Thủy rất biết ý mà đứng dậy. Hai người cùng rời khỏi sảnh chính.



    Nhìn theo bóng lưng của phụ thân, Lộ Thân bật khóc nức nở, gục trên người Tiểu Hưu, quay lưng lại với Quỳ. Có lẽ nàng không mong để Quỳ kiêu ngạo nhìn thấy dáng vẻ này của mình.



    “Nếu Lộ Thân tỷ tỷ có thể ở bên tiểu thư thì tốt biết bao. Dù sao em cũng chỉ là một người hầu, chỉ có thể vẩy nước quét dọn và trải chiếu mà thôi. Thực ra với em mà nói, nếu có thể giúp tiểu thư hạnh phúc thì phụng sự thêm một chủ nhân nữa cũng không sao, tuy có lẽ sẽ rất cực khổ… Cho dù chưa tiếp xúc nhiều với ngài nhưng em có thể thấy được khi ở bên ngài tiểu thư rất vui vẻ, đến em cũng…”



    Tiểu Hưu nói, nước mắt rơi xuống tóc của Lộ Thân.



    “Chuyện này ta sẽ nghĩ cách. Các ngươi đừng khóc nữa. Nếu ta nhớ không lầm thì buổi chiều Lộ Thân đã khóc một lần rồi. Có lẽ đây cũng chẳng phải chuyện xấu, Dịch Kinh viết rằng ‘Trước khóc sau cười’, khóc xong có khi mọi chuyện lại tốt lên.” Quỳ cảm thán, “Không biết Nhã Anh tỷ tỷ đã ngủ chưa, khi nãy ta đã nói lung tung với tỷ ấy, ta muốn xin lỗi tỷ ấy. Nếu tiện xin Lộ Thân hãy dẫn đường cho ta.”



    Lộ Thân được Tiểu Hưu đỡ dậy, khuôn mặt vẫn đầy nước mắt.



    “Sao Tiểu Quỳ lại sốt ruột như thế, không thể đợi ta khóc xong ư?”



    “Tiểu Hưu cũng cùng đi nào.” Quỳ không nhìn Lộ Thân mà nói tiếp: “Thật xin lỗi, chúng ta cũng về trước đây.”



    “Các ngươi về đi thôi. Thay ta hỏi thăm Nhã Anh, con bé cũng rất đáng thương.” Quan Khoa nói, “Có lẽ con bé không thể rời khỏi Vân Mộng trạch rồi. Lộ Thân, Trường An là một nơi rất tốt, sau khi rời khỏi nơi này, ta vẫn sống rất hạnh phúc. Tuy trong lòng vẫn chưa thể buông bỏ Vân Mộng nhưng dù sao ta cũng không muốn ở lại nơi này đến cuối đời. Ta sẽ nghĩ cách thuyết phục phụ thân con. Dù ông ấy khá bảo thủ song cũng là người hiểu lý lẽ, không thể không lo lắng cho hạnh phúc của con gái được.”



    “Cảm ơn cô, nhưng không cần đâu. Con định nghe theo lời phụ thân. Bản thân con không có sở trường gì, cũng không thực sự thích thứ gì, ngoài việc báo hiếu thì cũng không có việc gì muốn làm. Khổng Tử đã dạy: ‘Giáo dục nhân dân tương thân tương ái, không gì tốt hơn đạo hiếu; giáo dục nhân dân hiểu lễ thuận hòa, không gì tốt hơn kính yêu huynh trưởng; muốn thay đổi dân phong, biến hóa tập tục, không gì tốt hơn âm nhạc; để có thể trị vì an dân, không gì tốt hơn lễ tiết.’ Giang Ly tỷ am hiểu âm nhạc, Nhã Anh tỷ tinh thông tế lễ, vậy thì điều con làm được chỉ có hiếu đễ mà thôi! Đây là giá trị tồn tại duy nhất của con trên cõi đời này!”



    Nghe tới đây, Quỳ cho Lộ Thân một cái tát rồi lẳng lặng kéo nàng ra khỏi sảnh chính.



    “Xin lỗi, chủ nhân nhà tôi vẫn luôn như thế, sau này có lẽ cũng không thay đổi được.”



    Tiểu Hưu đắc ý nói với Quan Khoa, dứt lời liền bước vội đi.



    Quan Khoa chỉ lắc đầu cười, bà tự biết mình không thể hiểu nổi tâm tư của lớp trẻ ngày nay.



    -------------------

    [4]



    Ba thiếu nữ dạo bước dưới ánh trăng và trên sương mù.



    So với hai mùa hè và đông thì bầu trời mùa xuân lại khá trống trải tịch mịch.



    Tiếng côn trùng kêu rầm rì hòa cùng bước chân của ba người, nhưng chẳng thể ngân lên thành một giai điệu.



    Sau khi vụ thảm án xảy ra, ba năm trước Quan Vô Dật chuyển cả gia tộc tới một hẻm núi sâu hơn. Mọi người quây quần ở cùng nhau, mùa đông thì đốt lửa trong sân, ông lại lệnh cho người trong tộc đều phải học cách dùng nỏ để chống lại thú dữ những lúc xuống núi đi săn. Từ đó trở đi, chỉ còn lại một con đường duy nhất để xuống núi.



    Tuy nhiên nếu có tuyết lớn hay mưa dầm thì con đường này cũng sẽ bị chặn lại.



    Quỳ không rõ gia tộc Quan duy trì kế sinh nhai thế nào, buổi chiều nàng từng hỏi Lộ Thân, nhưng Lộ Thân cũng không biết.



    Quỳ đoán rằng, có lẽ gia tộc họ Quan còn một số sản nghiệp ở ngoài núi do tổ tiên để lại, tuy ủy thác cho người khác kinh doanh quản lý, có điều phần lớn lợi tức đều sẽ được đưa tới chỗ Quan Vô Dật. Còn về nguyên do khiến gia tộc họ Quan vào núi ẩn cư, Lộ Thân nói là vì tổ tiên theo đuổi tư tưởng “lánh đời”, không muốn vào triều Tần làm quan, liền ẩn cư trong núi rừng. Tới đời con cháu thì thực ra đã không còn lý do để ẩn cư nữa, nhưng dù sao hậu duệ quý tộc của nước Sở cũng không có đất dung thân giữa thời Hán, kết quả là hơn trăm năm nay, tuy chi trưởng liên tục chuyển nhà, song chung quy vẫn ngày một rời xa hồng trần ồn ã. Còn những chi nhỏ thì lại không ngừng rời khỏi Vân Mộng.



    “Ta nghe nói thời trẻ lệnh tôn là một hiệp khách phiêu bạt, hẳn là ông ấy cũng từng tới rất nhiều chốn đô hội phồn hoa.” Quỳ nói, “Nhưng con gái ông ấy đã sống mười bảy năm rồi mà đến đất Giang Lăng cũng chưa từng bước qua, điều này đúng là hơi quá đáng. Cho dù ta thích đọc sách Nho song cũng không muốn thấy ngươi vì một khái niệm trừu tượng như ‘hiếu’ mà hi sinh hạnh phúc của chính mình.”



    “Thế nên ngươi mới ra tay đánh ta sao?”



    “Đúng vậy, bây giờ không có trưởng bối ở đây, ta đã có thể thích nói gì thì nói rồi. Lộ Thân à, ta là trưởng nữ sinh ra tại gia tộc Vu Lăng, thực ra ta đã có được rất nhiều thứ mà người khác không thể tưởng tượng, cũng không dám ước ao, bởi vậy nếu mất đi một số niềm hạnh phúc bình thường thì ta cũng sẽ không thấy quá nuối tiếc. Những thứ mà người bình thường coi như xa xỉ thì với ta đều chẳng đáng gì. Học tập với những nhà Nho lớn, học âm luật cùng các vị quan trong Nhạc phủ, du ngoạn cùng đội buôn của gia tộc Vu Lăng, đó đều là đặc quyền của ta. Nếu muốn thoát khỏi cấm kị để theo đuổi hạnh phúc của một người bình thường, nghĩa là bắt buộc phải vứt bỏ những hạnh phúc chỉ thuộc về riêng ta. Bởi vậy mới nói, ta cũng đã suy xét rất kỹ mới lựa chọn cách sống hiện giờ. Có điều ta lén cho ngươi biết nhé, nếu một ngày nào đó ta mất hết hứng thú với những thứ này, có khi ta sẽ phản bội lại gia tộc của mình ấy chứ.”



    “Tiểu thư nghĩ vậy thật ư?”



    Tiểu Hưu đi phía sau hai người nói xen vào.



    “Hừ, ta có nghĩ vậy thật không thì Tiểu Hưu vốn không có quyền hỏi đến. Cho dù sau này ta có làm gì đi chăng nữa, dù ta có bỏ tốt theo xấu, tội lỗi đầy mình thì chỉ có em là nhất định phải đứng về phía ta, đây là bổn phận của một tỳ nữ như em.”



    “Nhưng tiểu thư cũng chớ quên bổn phận của một Vu nữ.”



    “Em muốn bị đánh đòn ư?”



    “…”



    Quỳ vừa nói vừa xoa xoa tay. Thực ra trong lòng nàng cũng biết, Tiểu Hưu chỉ lo lắng cho mình nên mới nói vậy, dù sao Tiểu Hưu cũng sinh ra ở đất Tề, có lẽ cũng tin vào truyền thuyết nếu Vu nữ phá vỡ cấm kị thì sẽ gặp bất hạnh tai ương.



    “Tiểu thư, em không hiểu.” Tiểu Hưu nghiêm túc nói, “Thường ngày huynh đệ của ngài luôn miệng nói ‘trung thần hiếu tử’, nhị tiểu thư cũng tự xưng là ‘thục nữ’, khi nãy tiểu thư lại được mô tả như ‘pháp sư tài đức’, tức là mọi người đều có đối tượng để noi theo. Còn em, em vẫn không biết nên làm thế nào mới tốt. Em từng đọc Hiếu kinh, Luận ngữ theo lời dặn của ngài, tuy nhiên em không thấy trong đó ghi chép về những người có thân phận như mình, em cũng không biết trong những sách khác có nhắc tới hay không. Nhưng em luôn nghĩ, thân phận thấp hèn như tỳ nữ thì không thể được ghi vào trong sách thánh hiền. Vậy nên, vậy nên…”



    “Vậy nên?”



    “Vậy nên xin hãy cho em biết em phải làm thế nào. Nếu ngài làm chuyện không nên thì rốt cuộc em phải làm sao, em nên ủng hộ ngài vô điều kiện hay nên bất chấp roi vọt mà thẳng thắn khuyên bảo ngài đây?”



    “Thế thì phải do em tự phán đoán rồi.”



    “Thực ra ta cũng chưa biết.” Lộ Thân nói, “Rốt cuộc bản thân ta nên trở thành người như thế nào…”



    “Chuyện kiểu này ngươi phải tự suy xét.”



    “Tiểu Quỳ, ngươi kỳ vọng điều gì ở bản thân?”



    “Ta không thể dùng lời nói để hồi đáp cho câu hỏi này.” Quỳ nghiêm túc nói, “Ta sẽ làm cho ngươi xem. Ngươi hãy chăm chú theo dõi ta, ta nhất định sẽ làm cho ngươi xem. Thực ra từ khoảnh khắc đầu tiên ngươi gặp ta thì mọi hành động của ta đều đang trả lời cho câu hỏi này của ngươi. Lộ Thân, ngươi đã hiểu chưa, có rất nhiều chuyện, thay vì nói những lời dài dòng sáo rỗng, chi bằng biến nó thành hành động.”



    “Nhưng mà…”



    “Nếu ngươi đồng ý, chúng ta có thể rời khỏi nơi này ngay bây giờ. Trước nay chưa từng có ai dám sai bảo ta, chỉ có ta sai bảo người khác mà thôi. Ngày hôm nay, ta đặc biệt cho người cái quyền được sai bảo ta, chỉ có một cơ hội thôi, hơn nữa nội dung cũng giới hạn là ‘Xin hãy đưa ta rời khỏi Vân Mộng trạch ngay lập tức’, ngoài điều này ta không chấp nhận bất cứ điều gì khác. Nếu sợ đi đêm thì chờ đến sáng mai cũng được. Tóm lại là nếu ngươi yêu cầu như vậy thì ta nhất định sẽ làm vì ngươi.”



    Trong giọng nói của Quỳ lộ ra sự quyết đoán.



    “Cũng để cho em góp thêm chút sức mọn.” Tiểu Hưu nói theo.



    “Xin lỗi, hãy để ta cân nhắc cái đã.”



    “Ta sẽ không cho ngươi thời gian để cân nhắc, hãy trả lời ta ngay. Chỉ có vậy thì ta mới biết mong ước thực sự của ngươi là gì.”



    “Vậy ta đành phải từ chối thôi.” Lộ Thân rầu rĩ nói, “Tuy đúng là ta rất hâm mộ thế giới bên ngoài Vân Mộng, nhưng nơi này cũng có rất nhiều thứ mà ta không thể rời xa, bởi vậy ta vẫn ở lại đây thôi. Hơn nữa, nếu chúng ta làm vậy thì danh tiếng của Tiểu Quỳ chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng xấu. Nếu thế, có lẽ ngươi sẽ không thể thực hiện mong muốn của chính mình, cũng không thể dùng hành động để hồi đáp cho câu hỏi khi nãy của ta. Do đó, cứ thế này là đủ rồi, tới khi Giang Ly tỷ và Nhã Anh tỷ đều rời đi, ta sẽ ở lại nơi này để kế tục huyết mạch cho gia tộc họ Quan.”



    “Có lẽ đây là một lựa chọn không tồi. Ít nhất thì cũng không có gì nguy hiểm. Đôi khi ta thấy sống trên đời đúng là một chuyện phiền phức. Thời trẻ nếu làm những việc chẳng thể cứu vãn, sau này sẽ hối hận; mà nếu không làm thì e rằng vẫn cứ hối hận. Bởi vậy lựa chọn nào cũng có cái được cái mất.”



    “Xin lỗi vì đã từ chối ngươi như vậy.”



    “Ừm, ta đùa vậy thôi.” Quỳ cười nói, “Ta sẽ không tàn nhẫn tới mức chỉ cho ngươi một cơ hội. Trước lễ tế ta vẫn ở Vân Mộng, nếu ngươi hồi tâm chuyển ý, ta sẽ chấp nhận. Thế nhưng ngươi vẫn phải mau mau quyết định đi, ta và Tiểu Hưu còn biết mà chuẩn bị sớm.”



    “Đưa ta đi cũng không có lợi gì cho Tiểu Quỳ hết. Một kẻ kém cỏi như ta chỉ làm ngươi thêm phiền phức mà thôi.”



    “Vậy ta kể cho ngươi một bí mật nhé.” Quỳ nói rồi giấu mặt vào nơi ánh trăng chẳng thể chiếu tới. “Thực ra thuở ban đầu, gia tộc Vu Lăng lập nghiệp bằng việc buôn người. Bởi vậy tới nay con cái gia tộc Vu Lăng đều phải gánh vác trách nhiệm dụ dỗ các thiếu nữ ngốc nghếch, năm nào cũng phải hoàn thành chỉ tiêu mới được. Ta nghe nói người Sở thời xưa thường coi tháng Tư là đầu năm, mà gia tộc Vu Lăng cũng tiến hành chốt sổ vào tháng Tư hàng năm. Không giấu gì ngươi, nhiệm vụ năm nay của ta vẫn chưa hoàn thành, còn phải lừa một thiếu nữ hồn nhiên ngây thơ đến ngốc nghếch như Lộ Thân tới Trường An để bán đi. Thế nên ngươi nhất định phải theo ta về Trường An đấy nhé.”



    “Tiểu Hưu cũng bị lừa đến gia tộc Vu Lăng như vậy sao?” Lộ Thân cố tình phớt lờ Quỳ, hỏi Tiểu Hưu.



    “Tiểu thư hẳn là đang nói đùa. Từ nhỏ em đã sống ở gia tộc Vu Lăng. Em rất hạnh phúc vì gặp được tiểu thư, tuy nghiêm khắc nhưng tiểu thư đã dạy cho em rất nhiều điều, rất nhiều kiến thức mà người bình thường cả đời cũng không được tiếp xúc. Ở bên tiểu thư, dù ngày nào cũng phải sống trong lo âu sợ hãi thì em vẫn thấy không sao.” Tiểu Hưu nói, vẻ mặt rất nghiêm túc: “Vậy nên em nghĩ, có lẽ bị tiểu thư bán đi cũng không tồi, xin Lộ Thân tỷ tỷ đừng phụ tấm chân tình của tiểu thư.”



    “Ừm, em nói vậy thì ta cũng yên tâm. Bởi vì ta nghĩ em là một cô bé thành thật, không giống một số người…”



    Khi Lộ Thân nói tới đây thì ba người đã tới nơi cần tới.



    Nhã Anh và Giang Ly cùng ở trong một viện nhỏ tách biệt. Ở phía Tây ngoài tường viện có một cái giếng nước.



    Khi chuyển nhà, viện nhỏ này được xây riêng cho Nhã Anh. Gian chính nằm ở ngoài cùng của viện, là nơi hai người sinh hoạt hàng ngày. Qua gian chính là một mảnh vườn nhỏ vuông vắn rộng khoảng ba trượng, trong vườn trồng rất nhiều thảo dược thường thấy trên đất Sở. Một con đường nhỏ rải đá vắt ngang vườn cây, dẫn vào phòng ngủ ở nơi sâu nhất của viện. Khi chuyển tới đây, Ký Y đã bị bệnh rồi. Để chăm sóc đường tỷ thân yêu, Nhã Anh đã xin cho Ký Y ở nơi này rồi cùng Giang Ly thay phiên chăm sóc, ngày đêm trông nom bên người Ký Y. Sau khi Ký Y qua đời, Nhã Anh không chịu được đau khổ, cũng mắc bệnh nặng một đợt. Từ đó trở đi, Giang Ly bèn chuyển tới sống ở đây. Ngày ngày hai người ngồi đối diện trong gian chính, Nhã Anh đọc sách còn Giang Ly chơi đàn, rời xa phàm trần, nhưng cũng không cảm thấy quạnh quẽ.



    Ánh đèn chiếu qua cửa sổ, vẽ nên đường nét của cỏ dại bên ngoài gian chính.



    Tiểu Hưu thay chủ nhân khẽ gõ cửa phòng, người ra mở cửa là Giang Ly. Ngó quanh gian chính thì Nhã Anh không ở đây. Nhìn qua cửa sổ trên bức tường đối diện về phía sâu trong viện, cũng không thấy ánh sáng từ phòng trong rọi tới. Lộ Thân liền đoán Nhã Anh tỷ đã ngủ. Đúng lúc ấy, Quỳ giải thích ý đồ khi tới đây với Giang Ly.



    “Thật không may, Nhã Anh vừa uống rượu, đã ngủ mất rồi.”



    Giang Ly nói rồi gọi ba người vào trong phòng. Phía trong trải mấy chiếc chiếu cói mộc mạc. Quỳ và Lộ Thân ngồi trên sàn, còn Tiểu Hưu thì cung kính ngồi phía sau Quỳ. Giữa phòng có hai chiếc bàn nhỏ, phía trên bày bút, nghiên và sách. Kề bên tường phía Đông và phía Tây đều có một chiếc giá y phục, trên đó có vắt y phục thường ngày của hai chị em. Dưới giá bên tường phía Tây là một chiếc đàn cầm và đàn sắt đặt song song.



    “Không biết ở đây đốt loại hương gì, ta chưa ngửi thấy bao giờ.”



    “Vu Lăng quân đúng là thích đùa, chỗ ta chưa bao giờ đốt hương, chỉ là hương thơm của hoa cỏ trong viện mà thôi.” Giang Ly cười nói.



    “Gọi ta ‘Quỳ’ là được. Xin hỏi đây là loại cỏ thơm gì vậy? Tuy ta rất thích Sở từ*, nhưng vẫn chưa có cơ hội nhận biết các loài hoa cỏ cây cối trên đất Sở. Bởi vậy có rất nhiều loại cỏ thơm ta chỉ biết tên, còn nếu đặt chúng trước mặt thì ta cũng không nhận ra.”



    * Tuyển tập thơ ca đất Sở lưu hành từ cuối thời Chiến Quốc đến đầu thời Tây Hán. Có tổng cộng 16 quyển.



    “Thực ra đây cũng không phải loài cây đặc thù của đất Sở, là khung cùng. Khi chưa nở hoa thì có mùi thơm, bởi vậy luôn xuất hiện trong Sở từ như một loại cỏ thơm. Trừ điểm này ra cũng không có gì đặc biệt. Cuối hạ sẽ nở hoa nhỏ màu trắng, trông rất bình thường, không hề bắt mắt, khi người ta chưa kịp chú ý thì đã tàn mất rồi. Tuy loài cây này tầm thường vô vị nhưng Nhã Anh lại rất thích nó, cho nên ta và muội ấy cùng trồng trong sân vài cây.”



    “Khung cùng có ý nghĩa đặc biệt gì với Nhã Anh ư?”



    “Nếu nhất định phải nói thì có lẽ chính là tên của nó.” Giang Ly cười khổ, đáp: “Nó còn có tên khác là ‘Giang Ly’.”



    “Tình cảm giữa hai người đúng là làm kẻ khác phải hâm mộ ước ao, nếu sau này ta và Lộ Thân cũng giống như vậy thì tốt biết mấy.”



    “Tiểu Quỳ lại nói lung tung gì thế.”



    Cuối cùng Lộ Thân không nhịn được mà nói chen vào.



    “Ta nói là sau này ta cũng phải trồng đầy thụy hương* trong sân, khi nhớ ngươi thì chặt mấy cành…”



    * Lộ Thân tức là cây thụy hương.



    “Được rồi, ta và ngươi mới quen nhau hôm nay, còn Giang Ly tỷ và Nhã Anh tỷ đã ở bên nhau từ nhỏ, vốn không thể so sánh được.”



    “Lộ Thân, nói khẽ thôi, đừng đánh thức Nhã Anh.” Giang Ly nghiêm nghị nói, “Thực ra ngày xưa quan hệ giữa ta và Nhã Anh rất tồi tệ, gần như ngày nào cũng sỉ nhục, hãm hại nhau, sau rất nhiều biến cố quan hệ giữa chúng ta mới được như hiện tại. Hai cô gái cùng tuổi khó tránh được chuyện ganh đua hiếu thắng, ghen ghét lẫn nhau, không chịu nhường nhịn nhau bất cứ chuyện gì. Trước đây ta từng âm thầm nguyền rủa Nhã Anh không biết bao nhiêu lần, chỉ mong muội ấy gặp bất hạnh. Nhưng khi vụ thảm án xảy ra thì ta chỉ thấy sợ hãi mà thôi, bởi vì sợ hãi nên những cảm xúc u ám ngày trước dù chân thực nhưng cũng chẳng đáng là bao. Khi Nhã Anh thật sự mất đi tất cả, ta lại muốn tặng mọi thứ của mình cho muội ấy. Đôi khi ta nghĩ, nếu ta và Nhã Anh không lớn lên cùng nhau từ nhỏ, mà gặp gỡ khi tâm trí cả hai đều đã tương đối chín chắn thì biết đâu lại tốt hơn đối với đôi bên. Dù sao mấy năm trước ta đâu chỉ đối xử tàn nhẫn với Nhã Anh một lần, tất cả đều là những ký ức đau khổ mà suốt đời ta cũng không quên được.”



    “Còn tâm trí Lộ Thân có thể coi như là chín chắn thật ư?”



    Quỳ vừa dùng khuỷu tay đẩy đẩy vào mạn sườn Lộ Thân, vừa nói vậy.



    “Tiểu Quỳ làm hành động này với người khác mới là trẻ con chứ?”



    Lộ Thân quay sang thử phản kích, ai ngờ lại tự vấp ngã, loạng choạng nhào về phía bàn. Cũng may nghiên mực không bị đánh đổ, chỉ có bút lông thỏ và một tấm thẻ tre rơi xuống đất. Tiểu Hưu vội dìu Lộ Thân dậy, rồi cúi người nhặt bút và thẻ tre lên, sau đó giao cho chủ nhân theo thói quen. Quỳ lại đưa chúng cho Giang Ly. Ba thiếu nữ đều thoáng thấy chữ viết trên thẻ tre:



    Lục hề y hề, lục y hoàng lý.



    (Áo thì màu lục rõ ràng, cớ sao trong lót màu vàng thế ni?)



    Tâm chi ưu hĩ, hạt duy kỳ dĩ.



    (Lòng ta đau đớn sầu bi, bao giờ mới dứt tuyệt đi nỗi buồn?)



    Thanh thanh tử khâm, du du ngã tâm.



    (Áo người bâu vải xanh xanh, nhớ người ta lại nghĩ quanh xa vời.)



    Túng ngã bất vãng, tử ninh bất tự âm.



    (Ví bằng ta chẳng đến chơi, sao người không gửi vài lời viếng thăm?)



    * Dịch thơ (Bản dịch của dịch giả Tạ Quang Phát trong cuốn Kinh Thi của NXB Đà Nẵng)



    Hai dòng đầu bút pháp tương đồng, hai dòng sau nét chữ cùng kiểu, dường như do hai người viết nên. Giữa chữ “ngã” và chữ “tâm” của dòng thứ ba có dấu vết bôi xóa, hẳn là viết nhầm, sau khi phát hiện ra liền xóa đi. Lộ Thân và Tiểu Hưu chưa đọc Kinh Thi nên không biết xuất xứ của những câu thơ này, còn Quỳ thì biết đây là thứ mà mình không nên thấy, cũng không nói gì cả. Giang Ly nhận lấy bút và thẻ tre, đặt chúng về trên bàn, rồi khẽ quở trách Lộ Thân một phen. Tuy Lộ Thân biết mình có lỗi nhưng vẫn thấy oan ức, trong lòng chỉ nghĩ xem nên trả thù Quỳ thế nào.



    “Đã muộn rồi, chúng ta cũng nên về thôi.” Quỳ nói, “Ta vốn định tới đây để tạ lỗi với Nhã Anh tỷ, nhưng bây giờ ta còn muốn tạ lỗi với Giang Ly tỷ hơn.”



    “Vu Lăng quân… Quỳ quân không làm sai gì hết. Đều là Lộ Thân nhà ta không tốt, đã khiến ngươi chê cười. Thực ra ta lại có kiến nghị thế này, không biết các người có đồng ý hay không. Ta nghĩ ngày mai nếu trời đẹp thì gọi cả Nhã Anh nữa, bốn người chúng ta cùng tới bên suối gội đầu. Không biết Quỳ quân có hứng thú hay không?”



    Giang Ly nói tới bốn người, đương nhiên không bao gồm Tiểu Hưu với thân phận thấp kém.



    “Ta thường nghe con gái đất Sở rất thích gội đầu vào sáng sớm, xem ra người ta không đồn bừa. Ta rất hứng thú, xin hãy cho ta cùng tham gia.”



    “Nếu Giang Ly tỷ tỷ đã nói như vậy thì muội cũng không thể từ chối được.” Lộ Thân cũng tỏ vẻ tán đồng.



    “Nhưng sáng sớm Nhã Anh rất thích ngủ nướng trên giường, đến ta cũng chưa chắc đã đánh thức được muội ấy. Ngày mai có lẽ Lộ Thân sẽ dẫn Quỳ quân tới bên suối trước, ta và Nhã Anh sẽ tới muộn hơn một chút.”



    “Được thôi.”



    Thế rồi ba người cùng ra khỏi gian chính, Giang Ly tiễn họ đến ngoài cửa.



    “Xin hãy giữ bí mật chuyện thẻ tre giúp ta.” Cuối cùng Giang Ly dặn dò như vậy. Đương nhiên là Quỳ và Lộ Thân đều đồng ý.



    Tuy nhiên trên đường trở về, hai nàng liền quên mất lời hứa khi nãy.



    “Tiểu Quỳ Tiểu Quỳ, nội dung viết trên thẻ tre ban nãy có xuất xứ gì không?”



    “Câu hỏi này dễ trả lời thôi, nhưng trước đó ngươi phải cho ta biết một chuyện.” Quỳ ra vẻ thần bí, “Ngươi có biết chữ viết trên thẻ tre, hai dòng trước và sau do những ai viết không?”



    “Vì từ nhỏ tới lớn ta chỉ tiếp xúc với vài người đó thôi, nên hai nét chữ đó ta đều biết. Ừm, hai dòng đầu tiên là chữ của biểu ca* Triển Thi, còn hai dòng sau đó hẳn là do chính Giang Ly tỷ viết.”



    * Anh họ bên ngoại.



    “Hóa ra là vậy. Ta hiểu rồi.”



    Quỳ cười, không nói tiếp nữa.



    “Bây giờ tới lượt ngươi trả lời câu hỏi của ta, nội dung ấy có xuất xứ gì? Mấy câu cổ xưa thâm ảo như vậy, lại còn là thơ nữa, chắc là không phải do bọn họ tự nghĩ ra rồi…”



    “Ngươi cũng thật lười biếng, chẳng chịu suy nghĩ gì cả.”



    “Bằng không thì sao ta lại làm bạn với một kẻ thích làm thầy người khác như ngươi?”



    “Đúng là hết cách với ngươi.” Quỳ vừa nói vừa lắc đầu, “Đây đều là những câu thơ trong Kinh Thi. Hai dòng đầu lấy từ Bội phong - Lục y, còn hai dòng sau lấy từ Trịnh phong - Tử khâm.”



    “Vậy có nghĩa là gì, tại sao biểu ca Triển Thi và Giang Ly tỷ phải viết mấy câu thơ này?”



    “Sao ta biết được giữa bọn họ đã xảy ra chuyện gì?” Quỳ nói với vẻ bất mãn, “Ta nghĩ có lẽ đó là thư từ giữa hai người họ. Hai dòng đầu là Chung Triển Thi viết gửi Giang Ly, còn hai dòng sau là hồi âm của Giang Ly. Khi chúng ta hồi âm thư của người khác, đôi lúc cũng viết thẳng phía dưới bức thư, rồi gửi thư về một thể, ta nghĩ thẻ tre mà chúng ta thấy khi nãy cũng giống vậy. Còn nội dung, tuy ta có thể thuộc lòng ba trăm bài trong Kinh Thi, nhưng hiện giờ giải thích của mọi người về các bài thơ vẫn không giống nhau, ta cũng thấy thơ rất khó giải thích, bởi vậy rất khó cho hai ngươi biết rốt cuộc hai bài thơ này có hàm nghĩa gì. Tuy nhiên nhắc tới Lục y, đúng là có chút liên quan đến Tiểu Hưu đấy.”



    “Có liên quan gì thế?”



    “Nho gia cho rằng màu vàng là màu chính, còn lục là màu trung gian không thuần, do đó người tôn quý thì không mặc lục y*, vừa hay phù hợp để mặc trên người Tiểu Hưu.”



    * Y phục màu xanh lục



    “Tiểu thư lại trêu em rồi.” Tiểu Hưu rầu rĩ nói.



    “Nhưng bài thơ này không miêu tả về tỳ nữ. Bởi vì đoạn sau nó có nhắc tới ‘Lục y hoàng thường’*, màu vàng là màu sắc cao quý, tỳ nữ không được mặc. Có một cách giải thích thế này, ‘Lục y hoàng thường’ mang ý nghĩa màu sắc cao quý ở phía dưới, màu sắc thấp hèn ở phía trên, tức là địa vị của vợ bé còn cao hơn vợ cả. Ta thấy cách giải thích này cũng hơi thiên vị. Chúng ta ở quá xa thời đại của các nhà thơ, bởi vậy e rằng các cách giải thích đều không thể tin hết được.”



    * Áo màu lục, xiêm (váy) màu vàng.



    “Vậy Tiểu Quỳ cho rằng rốt cuộc bài thơ này có nghĩa là gì?”



    “Trong Thi học có một khái niệm gọi là ‘gợi hứng’, chính là việc nói về những thứ nhìn như không liên quan để gợi ra điều thực sự muốn nói. Ta nghĩ bài thơ này cũng có thể giải thích như vậy. Ta đoán điều Chung Triển Thi thực sự muốn nói chỉ là ‘Tâm chi ưu hĩ, hạt duy kỳ dĩ’ mà thôi. Diễn giải ra ngươi nghe cũng hiểu, chính là ‘Lòng ta đau đớn sầu bi, bao giờ mới dứt tuyệt đi nỗi buồn’.”



    “Vậy Tử khâm thì nói về điều gì?”



    “Ừm, thực ra chắc Lộ Thân cũng chẳng mấy quan tâm tới vấn đề này. Với đầu óc của ngươi thì dù giờ ta có giải thích, ngày mai ngươi cũng sẽ quên sạch sành sanh, không đúng ư? Nếu ngươi thực sự muốn biết ý nghĩa của Tử khâm thì ngày mai có thể đi hỏi Bạch Chỉ Thủy tiên sinh ấy. Thế nhưng, ta có thể đoán được, ngày mai chắc chắn ngươi đã quên mất bài thơ này rồi, cũng nhất định sẽ không đi hỏi ông ấy.”



    Bị chọc trúng chỗ đau, Lộ Thân nghe vậy chỉ im lặng. Đúng là nàng không dám cam đoan ngày mai mình còn nhớ phải đi thỉnh giáo Bạch Chỉ Thủy về ý nghĩa của Tử khâm. Dù sao nàng là người vô tư, chóng quên mà cũng chẳng bền lòng.



    “Tiểu thư, chúng ta tới rồi.”



    Đúng lúc ấy Tiểu Hưu lên tiếng, bóp chết từ trong trứng nước vụ tranh chấp sắp sửa bùng nổ giữa hai người.



    Nhà họ Quan chuẩn bị cho Quỳ và Bạch Chỉ Thủy mỗi người một viện nhỏ, bố trí khá giống với nơi ở của Giang Ly và Nhã Anh, có điều giếng nước nằm giữa gian chính và phòng ngủ, sử dụng tiện lợi hơn một chút. Mấy viện khác của nhà họ Quan cũng thế. Hành lý của Quỳ chất tại nửa phía Tây của gian chính, nửa phía Đông thì để sinh hoạt. Tiểu Hưu ngủ trong gian chính. Đêm hôm ấy, Lộ Thân sẽ ngủ lại trong phòng Quỳ. Có thể đoán được hai người sẽ trò chuyện tới muộn, cũng có thể biết trước trong quá trình tán gẫu Lộ Thân vẫn sẽ bị Quỳ trào phúng, chế giễu, nhưng chẳng có cơ hội đáp trả.



    “Đêm nay Tiểu Hưu cũng ngủ ở phòng trong này đi.” Lộ Thân đề nghị, “Một mình ở cạnh chủ nhân của em, ta thấy hơi không yên tâm.”



    “Không được.” Quỳ không đợi Tiểu Hưu khách sáo từ chối Lộ Thân đã nói thẳng, “Tiểu Hưu, đêm nay dù Lộ Thân có cầu cứu thế nào chăng nữa thì em cũng không được vào trong. Đây là mệnh lệnh đó.”



    “Em biết rồi.”



    Trước những lời đùa cợt của hai người, Tiểu Hưu vẫn tỏ ra cực kỳ nghiêm túc.

    * * *